favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Prev
La Vita
Next

Ảo ảnh cuộc đời

677 trang
6.838 lượt xem
131 lượt tải

ẢO ẢNH CUỘC ĐỜI

Jakob Wassermann

Nguyễn Đặng Hồng Chương dịch từ bản tiếng Anh của Ludwig Lewisohn

 

Ảo ảnh cuộc đời/ Christian Wahnschaffe là cuốn sách về một trái tim không mệt mỏi. Lời giới thiệu của một người cùng thời về nó:

Sự xuất hiện của Christian Wahnschaffe (1919) đã đưa Wassermann lên vị trí hàng đầu trong số các tiểu thuyết gia châu Âu. Còn hơn cả Das Gänsemännchen, Christian Wahnschaffe là một cuốn sách lục địa. Người ta khó có thể hình dung nó được viết bởi một người Mỹ, hay thậm chí một người Anh. Và nếu xét theo những tiêu chuẩn thông thường mà chúng ta vẫn chấp nhận, cuốn tiểu thuyết này có thể bị xem là vô hình thức, buông tuồng, suy đồi và vô luân, phá hoại xã hội, lố bịch và hoàn toàn không có khiếu hài hước.

Nhưng sự thật là, phần lớn đời sống của chúng ta, nếu so với đời sống được Wassermann mô tả, thì quá mức đơn giản; chúng ta không có những chuẩn thích đáng để đo cuốn sách ấy. Chỉ lác đác đây đó, ta mới thoáng thấy được sự phong phú và phức tạp, những đỉnh cao và vực thẳm dữ dội của đời sống được khắc họa trong tiểu thuyết.

Christian Wahnschaffe, con trai và người thừa kế của một ông trùm công nghiệp, được số phận ưu ái về mọi phương diện, cũng phải đi một con đường dài, gian nan để từ mình đến được với người. Chàng trẻ tuổi, đẹp trai, giàu có; mọi xa hoa của châu Âu đều trong tầm tay chàng. Chàng hội đủ những điều mà người đời khao khát. Chàng chẳng phải làm gì ngoài tiêu khiển cho qua ngày tháng.

Nhưng trong chàng có một điều tiềm ẩn mà những người bạn thời thượng hoàn toàn không nhận ra. Bao giờ chàng cũng có một vẻ tách biệt nào đó, như thể một thứ ánh sáng huyền nhiệm phủ lên mình. Bao giờ chàng cũng giữ được một sự giản dị đặc biệt, một sự dè dặt tự nhiên và kiêu hãnh. Không ai thực sự hiểu chàng. Dần dần, chàng trở thành một điều bí ẩn: với người này là chướng ngại, với người khác là phép thử. Những kẻ khác, so với chàng, chỉ là những mảnh vụn bị cuộc đời chiếm lấy, trong khi chỉ riêng chàng là kẻ làm chủ cuộc đời.

Câu chuyện của Christian có nguyên mẫu nơi câu chuyện Đức Phật. Truyền thuyết kể rằng trong bốn chuyến du hành, Đức Phật đã gặp những cảnh tượng khiến Ngài rời bỏ đời sống vương giả xa hoa và thức tỉnh về sự kiêu ngạo hão huyền của dòng dõi mình. Christian, cũng vương giả không kém, được thức tỉnh theo cách tương tự. Chàng thấy đói khát, cái chết, tuyệt vọng; thấy nỗi đau thật, không phải nỗi buồn giả tưởng; thấy dục vọng thật, không phải thứ xúc cảm giả vờ; thấy một đại dương khổ đau, nhục nhã và tủi cực.

Thoạt đầu chàng hờ hững; nhưng dần dần trong chàng nảy sinh một cảm giác mơ hồ rằng có điều gì đó sai lạc trong những quan hệ giữa con người. Chàng tự hỏi liệu mọi khổ đau kia có phải bắt nguồn từ một thứ tội lỗi nào đó không, và nếu có thì nó nằm ở đâu. Chàng cảm thấy những trợ giúp cục bộ, bố thí và những việc tương tự không chạm đến gốc rễ của cái ác. Khi từ bỏ gia sản - vốn từ lâu chẳng còn ý nghĩa gì với mình - chàng viết cho cha: “Trên đời có quá nhiều khổ đau cần được xoa dịu. Con không thể làm những việc ấy. Chúng không khiến con quan tâm; thậm chí chỉ nghĩ đến thôi con cũng thấy khó chịu.”

Càng lúc chàng càng nhận ra sự cần thiết phải tìm đến đáy bản tính con người. Chàng tin rằng trong loài người không tồn tại một công lý chân thật nào, rằng không ai có quyền phán xét kẻ khác. Chàng viết cho cha:

“Tất cả sống trong khoái lạc và tất cả sống trong tội lỗi; vậy mà, dù tội lỗi nhiều đến thế, chẳng ai thực sự có tội. Có một sai lầm căn bản trong toàn bộ cấu trúc cuộc đời. Con cho rằng thứ tội lỗi phát sinh từ những điều con người làm ra thật nhỏ bé và khó sánh với thứ tội lỗi phát sinh từ những điều họ không làm. Bởi những kẻ trở nên có tội do hành động của mình là ai? Là những sinh linh nghèo khổ, bị dồn ép, tuyệt vọng, nửa điên dại, vùng lên cắn vào bàn chân đang chà đạp mình. Thế mà họ bị quy trách nhiệm, bị kết tội, bị trừng phạt bằng những cực hình bất tận. Còn những kẻ có tội vì không hành động thì lại được dung thứ, luôn luôn an toàn, luôn luôn có sẵn những cái cớ hợp lý để biện minh. Nhưng theo con, họ mới là tội phạm đích thực. Mọi điều ác đều từ họ mà ra. Đó là cái bẫy con phải thoát.”

Cái điều trong chàng từng khiến bạn bè thời thượng không hiểu nổi giờ bắt đầu phát triển theo đường lối lạ lùng. Trước kia chàng không thể thâm nhập vào đời sống người khác; giờ chàng thấy ở khắp nơi, trong mỗi người, một điều không phải là mình, không phải là kẻ khác, mà đồng thời là mình và là tất cả. Chính điều ấy chàng học cách yêu nơi đồng loại; điều ấy chàng muốn được thừa nhận. Chàng muốn biết con người.

Khi mẹ chàng, hoang mang trước biến đổi lớn lao nơi đứa con yêu quý, cầu xin chàng giải thích mình đang làm gì và vì sao, chàng đáp:

“Mẹ thấy đấy, ở thế giới mà con biết, những thiết chế con người, có một sai lầm lớn lao, điều mà tư duy thông thường của ta không thể chạm tới. Con không thể nói chính xác sai lầm ấy là gì. Chưa ai có thể nói, dù là kẻ hạnh phúc hay kẻ bất hạnh, kẻ học thức hay kẻ thất học. Nhưng nó tồn tại, và nó hiện diện ở mỗi bước ta đi. Suy nghĩ suông thì chẳng ích gì. Như người bơi cởi bỏ áo quần trước khi nhảy xuống nước, ta phải lặn xuống tận đáy cuộc đời để tìm gốc rễ của sai lầm ấy. Và người ta có thể bị nỗi khao khát truy tìm ấy cuốn đi, quét sạch mọi tham vọng và quan tâm khác. Con không thể tả cảm giác ấy cho mẹ; nó xuyên thấu linh hồn và đời sống. Và ta càng cố rút lui, nó càng sắc nhọn hơn.“

"Sai lầm ấy không chỉ là tương phản giữa giàu và nghèo, giữa buông thả tùy tiện và chịu đựng cưỡng bức. Không. Ta lớn lên với niềm tin rằng cái ác gặp sự đền tội, tội lỗi gặp sự trừng phạt, rằng mỗi hành vi đều mang phần thưởng của nó, rằng một công lý nào đó cai quản, bù đắp, sắp đặt, báo ứng - nếu không phải ở trước mắt ta thì ở một cõi cao hơn. Nhưng điều đó không đúng. Con không tin có thứ công lý như thế; nó không tồn tại. Nếu có một công lý siêu nhân trong vũ trụ thì đời sống con người đã không thể như hiện nay. Vậy nên, nguồn gốc của sai lầm lớn lao ấy phải nằm trong chính đời sống con người; ta phải tìm ra nó và biết bản chất của nó. Nhưng không thể tìm bằng cách quan sát từ bên ngoài; ta phải ở bên trong đời sống, xuống tận những tầng sâu nhất. Đó là điều con tìm kiếm."

Chàng nhận nuôi một cô gái điếm nghèo bệnh tật, một người mà với tư cách đàn ông chàng không hề bị hấp dẫn. Chàng tận tụy chăm sóc cô, nhưng vẫn chưa đủ. Chàng phải đi sâu hơn.

Chàng gặp một thiếu nữ Do Thái trẻ trung, thuần khiết, gần như thiêng thánh, mang cùng tình yêu phổ quát nồng nhiệt đang nảy nở trong chàng. Một tình yêu vượt lên trên mọi tình yêu, một hòa điệu huynh đệ gắn kết họ. Cô gái ấy bị sát hại bởi một kẻ cuồng dâm biến thái, một dạng Jack the Ripper. Người điên bị bắt và tự thú. Nhưng trong nỗi đau vô hạn, Christian tìm ra kẻ sát nhân thật: đó là anh trai của cô gái điếm mà chàng từng chăm sóc. Hắn giết vì nhìn thấy nơi cô gái trẻ ấy cùng một thiên đàng như Christian thấy, nhưng là tội phạm, hắn phải chiếm đoạt, vấy bẩn và hủy diệt nó: sự trả thù cổ xưa của kẻ bị đời sống hạ nhục đối với cái thánh thiện.

Không có gì là tội phạm trong cuộc đấu tranh của Christian với kẻ giết người. Sự cứu rỗi của chàng -niềm hy vọng duy nhất để tìm ra ý nghĩa đời sống - phụ thuộc vào việc chàng có thể làm tan chảy kẻ tội phạm ấy từ bên trong, biến hắn thành kẻ sám hối hay không.

Đây là những cảnh vĩ đại nhất của tiểu thuyết, kết thúc bằng chiến thắng của Christian. Trong địa ngục, chàng phải tìm thấy hạt giống cứu độ. Chàng phải học cách nhìn ra người anh em nơi kẻ giết người đã phá hủy báu vật của mình.

Kẻ sát nhân hỏi: “Anh sẽ tố cáo tôi chứ?”

Christian đáp: “Tôi sẽ không tố cáo anh. Tôi thậm chí không biết anh có thực sự có tội về những gì anh đã làm hay không. Nhưng anh phải cho tôi một điều gì đó. Anh đã lấy khỏi tôi điều đẹp nhất trên đời. Một điều đẹp đến mức tưởng như thế giới không thể tiếp tục nếu thiếu nó. Bây giờ anh phải cho tôi một điều khác thay vào.”

Lần đầu tiên trong đời Christian khóc. Dần dần, nhờ sự khiêm nhường của chàng, trong tâm trí kẻ giết người bừng lên một ánh sáng; hắn hiểu Christian, và đi tự thú. Hắn đã trao cho Christian điều chàng muốn: sự thừa nhận linh hồn con người.

Gần cuối sách, cha chàng hỏi: “Con sẽ làm gì, và từ trước đến nay con đã làm gì?”

Christian đáp: “Cho đến nay tất cả chỉ là chuẩn bị. Nhìn cho kỹ, nó chẳng là gì cả… Con không muốn thực hiện công trình nào, không muốn hoàn thành điều tốt đẹp, hữu ích hay vĩ đại nào. Con muốn chìm xuống, thấm vào, ẩn mình, chôn mình trong đời sống con người. Con không quan tâm đến mình, không muốn biết gì về mình. Nhưng con muốn biết mọi điều về con người - vì con người là điều bí ẩn và khủng khiếp, là nguồn của mọi dày vò, kinh hãi và đau khổ… Đi đến với từng người một, chỉ một mỗi lần, rồi người kế tiếp, rồi người thứ ba; biết, học, vén mở và lấy ra khỏi họ nỗi đau của họ - như người ta moi ruột một con chim… Nhưng không thể nói về điều ấy; nó quá khủng khiếp. Cần nhất là phải giữ cho trái tim không mỏi mệt. Trái tim không được kiệt quệ - đó mới là điều cao nhất.”

Cuối cùng, Christian biến mất khỏi tất cả những người từng biết mình, để trở thành thánh - không hẳn của thế giới ngầm, mà của toàn bộ đời sống con người. Cuốn sách kết thúc như một truyền thuyết, một huyền thoại hiện đại. Người ta nghe đồn chàng từng xuất hiện trong một tai nạn mỏ kinh hoàng; lần khác ở khu East End nghèo đói của London; lần nữa ở khu người Hoa tại New York. Rồi chẳng ai còn nghe gì về chàng nữa.

 

Jakob Wassermann sinh ngày 10 tháng 3 năm 1873 ở Furth, miền Nam nước Đức. Cha ông là một thương nhân Do Thái kém may mắn, suốt đời phải chiến đấu để kiếm sống tránh cho gia đình khỏi bị phá sản. Mẹ ông chết lúc ông mới chín tuổi, và bà mẹ kế đã chứng minh cho ông thấy thế nào là cảnh mẹ ghẻ con chồng. Ông đành tìm quên trong viết lách, nhưng khốn thay bà mẹ ghẻ này lại ghét cay ghét đắng thói “văn sĩ” của ông. Bà ta thẳng tay đốt hay xé bỏ những công trình do ông cặm cụi viết. Thế là ông phải viết lén ban đêm nhờ ánh trăng và khung cửa hẹp.

Năm mười sáu tuổi, Wassermann được gửi đi Vienne để làm việc trong hãng chế tạo quạt của người chú. Chán công việc này, ông bỏ trốn, nên bị gia đình ghép tội ngỗ nghịch, vô tích sự. Mấy năm tiếp theo ông lang thang làm đủ thứ nghề. Có lúc đói quá phải đi kể truyện cổ tích cho đám trẻ quê nghe để đổi lấy miếng ăn, hoặc nhặt nhạnh từng đồng bằng nghề chép sách. Cuối cùng ông xin được chân viết báo và được văn giới chú ý. Một số truyện và thơ của ông được đăng trên tờ báo hài hước Simplicissimus và về sau ông làm chủ bút tờ báo này. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, Les Juifs de Zirndorf (Những Người Do Thái Ở Zirndorf) xuất hiện năm 1897, nửa mang tính tiểu sử, nửa mang tính tiểu thuyết, nói về một người Do Thái ở Đức. Năm 1900, ông viết tiếp cuốn L’Histoire de la Jeune Renate Fuchs (Câu Chuyện Về Cô Bé Renate Fuchs) một cuốn tiểu thuyết phân tích tâm lý đã đưa ông thực sự bước vào nghiệp văn, làm bạn với các cây bút khác như Hofmannsthal, Schnitzler, và Thomas Mann. Năm 1901, ông lấy nàng Speyer, con gái một kỹ nghệ gia, và có hai trai, hai gái với nàng. Nhưng đến năm 1919, hai người ly thân, để rồi ly hôn hẳn vào năm 1926. Người vợ thứ hai là Marta Karlweiss, cũng là một văn sĩ.

Các tác phẩm khác của Wassermann gồm: Moloch (Moloch), L’Homme aux Oies (Người Ngỗng), Christian Wahnschaffe (Ảo Ảnh Cuộc Đời), Ulrique (Ulrique), Faber ou Années Perdues (Faber hay Những Năm Tháng Đã Qua), L’Affaire Maurizius (Sự Vụ Maurizius), và tác phẩm cuối đời: cuốn Etzel Andergast được xuất bản năm 1934 sau khi ông chết.

Nhờ được nhiều độc giả hâm mộ, ông kiếm được đủ tiền để mua một căn nhà tại Alt-Aussee, châu Úc, và sống ở đây đến hết đời. Ông mất ngày 1 tháng 1 năm 1934.

Tiếng tăm ông lẫy lừng thế giới vào những năm 1920 và 1930, khi ông đi thuyết giảng khắp các trường đại học ở năm châu. Có người đã xếp ông ngang hàng với Tolstoi, Dostoievski, và Balzac.

Danh sách chương
Thêm vào giỏ hàng thành công