QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXXVIII)
KAREN ENGELSCHALL
VI
Felix Imhof và ông họa sĩ Weikhardt gặp nhau trong cuộc triển lãm của “những người chủ trương ly khai” ở Munich. Họ đi tản bộ qua những căn phòng ngắm tranh một lát; rồi họ đi ra hiên, và ngồi xuống bên chiếc bàn nhìn ra công viên.
Lúc đó vào đầu buổi chiều, và mùi dầu và nhựa thông ở bên trong hòa trộn với hương thơm của cỏ cây ấm nắng mặt trời.
Imhof bắt chéo hai cẳng chân dài của anh ta, và ngáp một cách giả tạo. “Tôi sắp rời khỏi mái ấm đáng khâm phục của nghệ thuật và văn chương này trong vài tháng,” anh ta tuyên bố. “Tôi sắp tháp tùng bộ trưởng Công Vụ Thuộc Địa đến miền Tây Nam châu Phi. Tôi nóng lòng muốn thấy mọi chuyện ở đó đang diễn ra thế nào. Những con người đó cần được chăm sóc. Vả lại đó cũng là một trải nghiệm mới, và sẽ có săn bắn.”
Weikhardt hoàn toàn chìm lắng. Ông ta tràn đầy những điều khó chịu của riêng mình, bên trong và bên ngoài ông ta xung khắc, thế nên ông ta chỉ nói về mình. “Tôi sẽ phải sao chép lại một chu kỳ của Luini cho bà bá tước già Matuschka,” ông ta nói. “Bà ta có những bức tường trống trong tòa lâu đài ở Galicia, và muốn có những tấm vải thêu cho chúng. Nhưng sinh vật già nua này xít xao như vỏ cây, và trò mặc cả của mụ ta thật đáng ghê tởm.”
Imhof cũng theo đuổi những ý nghĩ của riêng mình. “Gần đây tôi đọc nhiều về Stanhope,” anh ta nói. “Một gã ghê gớm, hoàn toàn hiện đại, vừa là phóng viên vừa là conquistador [Người Tây Ban Nha đi xâm chiếm Trung và Nam Mỹ - ND]. Đám da đen gọi hắn là ‘người bẻ gãy vách đá.’ Điều đó khiến cho người ta chảy nước dãi. Đơn giản là ghê gớm!”
Weikhardt tiếp tục: “Nhưng tôi dám nói rằng mình sẽ phải nhận nhiệm vụ này. Tôi đã đến tận cùng giới hạn của mình rồi. Cũng không tốt nếu như lại trông thấy những người Ý cũ. Ở Milan có một bức tranh đáng khâm phục của Tintoretto. Tôi đang tìm kiếm một bí mật. Tôi đang làm những việc nó sẽ có giá trị. Hôm trước tôi hoàn thành một bức tranh, một phong cảnh đơn giản, và mang nó đến chỗ một người quen. Anh ta có một căn phòng khá xinh đẹp, và chúng tôi đã treo nó ở đó. Những bức tường treo những tấm rèm màu xám và đồ đạc màu đen và vàng. Anh ta là một người giàu có và muốn mua bức tranh đó. Nhưng khi đã thấy anh ta thích nó nhiều thế nào, và cũng đã thấy sự hài hòa tinh tế, u sầu giữa những màu sắc của nó với những sắc thái của căn phòng, thì tôi cảm thấy một tia khuyến khích đột ngột. Tôi không thể chịu đựng nổi việc nói đến tiền, nên đơn giản là tặng bức tranh đó cho anh ta. Anh ta nhận nó một cách khá lặng lẽ, nhưng vẫn tiếp tục nói: ‘Nó mới đẹp làm sao!’”
“Chuyến đi nho nhỏ đến Nam Bán Cầu này sẽ cởi bỏ những suy nghĩ của tôi ra khỏi tôi,” Imhof nói. “Ngay lúc này vận mệnh không đứng về phía tôi một cách đầy đủ. Thực lòng mà nói - mọi chuyện đã hỏng bét cả rồi. Con ngựa tốt nhất của tôi đã đuối hoàn toàn, con chó cưng nhất của tôi đã chết, vợ tôi đã bỏ tôi đi Pháp, và bạn bè tôi cũng tránh mặt tôi – tôi không biết tại sao. Công việc làm ăn của tôi thụt lùi, và tất cả những cuộc đầu cơ đều kết thúc trong thất bại. Nhưng, rốt cuộc, điều đó thì quan trọng gì? Tôi tự nhủ: Đừng bao giờ từ bỏ, bạn thân mến à! Đây là một thế giới vĩ đại, tuyệt đẹp, cuộc sống thật vô cùng tráng lệ và đa dạng. Nếu phàn nàn, thì mày không xứng đáng có được điều gì tốt đẹp hơn. Cái sandwich của tôi đã rơi xuống bùn. Được thôi; tôi phải có một cái mới. Bất cứ ai ra trận cũng phải lường trước những vết thương. Điều chính yếu là bám vào ngọn cờ của mình. Điều chính yếu là niềm tin - niềm tin hoàn toàn giản đơn.”
Đó vẫn là vấn đề ai trong số hai người sẽ hướng sự chú ý ra khỏi bản thân mình trước, và sẽ lắng nghe bạn mình nói. Weikhardt, mà đôi mắt đã trở nên ảm đạm, lại nói: “Ôi nỗi cô đơn câm lặng trong xưởng họa, với hàng trăm thất bại, và những bóng ma của hàng ngàn giờ tuyệt vọng! Tôi có cơ hội kết hôn, và cũng sẽ tận dụng nó. Cô gái không có tiền, chắc chắn rồi, nhưng cô ấy có một trái tim. Cô ấy không sợ cảnh nghèo khổ của tôi, và hiểu chủ nghĩa Đông ki sốt cần thiết đối với cuộc đời của một nghệ sĩ. Cô ấy đến từ một gia đình Tin Lành có những truyền thống thực sự tự do, nhưng hai năm trước đã trở thành tín đồ Công Giáo. Tôi đã tràn đầy ngờ vực vào lần đầu tiên gặp cô ấy, và khoác cho bước đi này của cô ấy tất cả các loại lý do ngoại trừ những lý do giản đơn và con người. Thật quá khó để thấy những việc giản đơn và con người, và làm chúng lại còn khó hơn nữa. Dần dà tôi hiểu điều đó có nghĩa là gì - để tin! và tôi đã hiểu được tôn kính trong một niềm tin như thế nghĩa là thế nào. Niềm tin tự bản thân nó đã thiêng liêng, chứ không tùy thuộc vào việc nó được đặt vào đâu. Không quan trọng người ta tin vào cái gì - một cuốn sách, một con thú, một con người, một vì sao, một vị thần. Nhưng đó phải là niềm tin trong sáng – không thể dịch chuyển và không thể chinh phục được. Phải, tôi hoàn toàn đồng ý với anh – chúng ta cần niềm tin giản đơn.”
Thế là họ đã tìm thấy nhau thông qua bốn chữ trên. “Khi nào thì tôi sẽ có được bức tranh của tôi, bức tranh Xuống Khỏi Thánh Giá ấy?” Imhof hỏi.
Weikhardt không trả lời câu hỏi trên. Khi lại nói chuyện tiếp, thì khuôn mặt mịn màng, đẹp trai, như của một cậu bé của ông ta mang vẻ một ông già thích gây gổ. Tuy vậy giọng nói của ông ta vẫn dịu hiền và chậm rãi, thái độ của ông ta vẫn thản nhiên. “Nhân loại ngày nay đã đánh mất đi niềm tin của nó,” ông ta tiếp tục. “Niềm tin đã rò rỉ ra như nước thấm qua tấm kính rạn. Thời đại của chúng ta bị máy móc áp chế: đó là luật lệ của đám đông không có cái tương đương. Ai sẽ cứu chúng ta khỏi máy móc và kinh doanh? Con bê vàng đã hóa điên. Tâm hồn con người quỳ lạy nhà kho. Khẩu hiệu của chúng ta là dậy và làm. Chúng ta chế tạo ra đạo Cơ Đốc, một thời kỳ Phục Hưng, văn hóa, vân vân. Nếu không hoàn toàn là điều thực tế, thì nó sẽ vô ích. Mọi thứ đều hướng ra bên ngoài - hướng tới biểu lộ, đường thẳng, đường lượn, điệu bộ, mặt nạ. Mọi thứ đều mê mẩn tấm pa nô quảng cáo và được chiếu sáng bởi những ngọn đèn điện. Mọi thứ đều là thực sự mới nhất cho đến khi có điều gì đó còn mới hơn nữa bắt đầu hoạt động. Linh hồn chạy trốn, lòng tốt ngưng trệ, hình hài gãy vỡ, và lòng tôn kính chết như thế đó. Anh không cảm thấy hãi hùng trước thế hệ đang lớn lên sao? Không khí cũng giống như thế trước một trận lụt.”
“Hãy sáng tạo, hỡi nghệ sĩ, và đừng triết lý,” Imhof dịu dàng nói.
Weikhardt hơi xấu hổ một chút. “Đúng là,” ông ta nói, “chúng ta không có phương tiện để biết được mục tiêu của tất cả những điều đó. Nhưng có những triệu chứng, những ca điển hình nó để lại chút không gian cho hy vọng. Anh đã nghe câu chuyện về vụ tự sát của một người Đức Mỹ tên là Scharnitzer chưa? Ông ta rất được biết đến trong giới nghệ sĩ. Ông ta từng đích thân đến các xưởng họa, và mua tất cả những gì mình thích. Ông ta không bao giờ mặc cả. Thỉnh thoảng cô con gái mười tám tuổi của ông ta đi cùng với ông ta, đó là một cô gái có vẻ đẹp như thiên thần. Tên cô ấy là Sybil, và ông ta thường mua những bức tranh cho cô ấy. Cô ấy đặc biệt thích tranh tĩnh vật và hoa. Người đàn ông này đã từng ở California và kiếm được hàng triệu nhờ nghề buôn gỗ. Rồi ông trở về quê cha đất tổ để mang lại cho cô con gái bầu không khí tĩnh lặng và văn hóa. Sybil là suy nghĩ, hy vọng, thần tượng, và thế giới duy nhất của ông ta. Ông ta đã kết hôn nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Người ta nói rằng vợ ông ta đã bỏ chạy khỏi ông ta. Tất cả cuộc sống hoạt động sôi nổi để lại cho ông ta cảm giác sâu lắng và hy vọng vào tương lai tập trung vào cô bé này. Ông ta thấy ở cô một cô gái phi thường, một bà thánh bé nhỏ. Và cô ấy dường như đúng thực là như thế - xinh xắn khác thường, kiêu hãnh và thanh tú. Người ta sẽ không dám chạm vào cô ấy dù chỉ bằng một ngón tay. Khi hai người ở bên nhau, thì một quầng ánh sáng hòa hợp vui sướng tỏa ra từ họ. Người cha dường như đặc biệt hạnh phúc. Cái chết tự nguyện của ông ta vì thế lại càng gây kinh ngạc hơn. Không ai đoán được động cơ; người ta cho rằng ông ta đã gặp phải một khoảnh khắc hóa điên. Nhưng ông ta đã để lại thư cho một người bạn Mỹ của mình nó đã giải nghĩa mọi chuyện. Một hôm ông ta thấy khó ở, và phải ở trên giường. Sybil mời vài bạn gái đến uống trà, và nhóm nhỏ này ở trong căn phòng đầu bên kia dãy phòng của họ. Nhưng tất cả những cánh cửa ở giữa đều mở, thậm chí cả cánh cửa cuối cùng cũng hé mở, thế nên những lời nói rì rầm của các cô gái đã đến tai ông ta một cách rời rạc. Ông ta bỗng tò mò muốn biết họ đang nói chuyện gì. Ông ta trở dậy, khoác áo choàng lên mình, khẽ khàng đi qua những căn phòng ngăn cách, và lắng tai nghe ở cửa. Cuộc nói chuyện xoay quanh chủ đề tương lai của những cô gái này - những triển vọng tình yêu, hạnh phúc, và hôn nhân. Từng cô phải nói lên ý kiến của mình. Cuối cùng đến lượt Sybil nói lên suy nghĩ của cô. Ban đầu cô ta từ chối; nhưng họ không ngừng thúc giục. Cô ta nói mình không quan tâm đến bất cứ loại tình cảm nào; cô ta không khao khát tình yêu; cô ta thậm chí không thể cảm thấy biết ơn bất cứ ai. Điều cô ta chờ mong ở hôn nhân là sự giải phóng hoàn toàn khỏi ách khó chịu. Cô ta muốn một người đàn ông có thể mang lại cho mình tất cả những gì cuộc sống có - sự xa hoa vô hạn độ và vị trí xã hội cao – và ngoài ra, còn là người sẽ ở dưới chân mình một cách hèn hạ. Đó, cô ta nói, là chương trình của cô ta, và cô ta cũng dự định sẽ thực hiện nó. Những cô gái khác im lặng. Không ai trả lời. Nhưng giờ phút đó đã đầu độc linh hồn người cha. Cái thuyết khuyển nho này, được thốt ra bởi giọng nói trong sáng và tinh thần của cô bé mà ông tôn thờ và nghĩ là phép màu của tính sâu sắc và ngọt ngào, cô bé mà ông đã dành cho tất cả con người mình và tất cả những gì mình có, đã đẩy ông ta vào nỗi u sầu không thể chữa khỏi, và cuối cùng đã khiến cho ông ta tự kết liễu cuộc đời mình.”
“Bạn thân mến của tôi ơi,” Imhof kêu lên, và đung đưa cánh tay mình, “người đàn ông đó không phải lái gỗ, ông ta là một thi sĩ nửa mùa.”
“Có thể ông ta là như thế,” Weikhardt đáp, và mỉm cười; “rất có thể. Có gì thay đổi chứ? Tôi khâm phục người đàn ông không thể sống sót qua sự sụp đổ của tất cả những lý tưởng của mình. Như thế hay hơn là kẻ bẻ gãy vách đá, tôi đảm bảo với anh đấy. Phần lớn con người ta chẳng có lý tưởng nào để bị hủy hoại cả. Họ mãi mãi phỏng theo chính mình, rồi trở nên thô bỉ và cằn cỗi.” Đôi mắt ông ta lại trở nên ảm đạm, và ông ta nói thêm, nửa với chính mình: “Đôi khi tôi mơ về một con người không đứng dậy cũng không ngã xuống, về một con người đi trên trái đất một cách toàn bộ và không thể đổi thay, vững chắc và không thể bắt chước. Tuyệt đối không thể bắt chước. Tôi mơ về một con người như thế đấy.”
Imhof nhảy bật dậy, và vuốt phẳng áo choàng ngoài của mình. “Nói chuyện, nói chuyện!” anh ta nói lớn, bằng giọng quân sự gắt gỏng mà mình vẫn lấy vào những khoảnh khắc hùng dũng giả tạo. “Nói chuyện không làm cho mọi chuyện tốt đẹp hơn.” Anh ta vòng cánh tay mình qua cánh tay Weikhardt, và khi họ rời khỏi hiên, nó dần dà đã đầy những vị khách khác, thì anh ta ngâm, một cách táo bạo, trơ trẽn, và vẫn bằng giọng như trước, khổ thơ Alcaic [Thể thơ Hy Lạp và Latinh, gồm các khổ thơ bốn dòng, mỗi dòng bốn âm tiết - ND] của Holderlin [Nhà thơ chủ chốt của chủ nghĩa lãng mạn Đức sống vào thế kỷ XVIII – XIX – ND]:
“Con người vẫn sẽ cầm vũ khí lên chống lại tất cả những ai hít thở;
Bị thúc ép bởi lòng kiêu hãnh và nỗi kinh sợ họ tự thiêu hủy mình trong xung đột, và hủy hoại bông hoa
Hòa bình đáng yêu chỉ nở rộ ngắn ngủi của mình.”
VII
Vào buổi tối đầu tiên ở Hamburg, Crammon thuê một lô trong nhà hát, và mời Christian, Johanna Schontag, và ngài Livholm, một trong những giám đốc của hãng Lloyd, làm khách của mình. Crammon làm quen với ông giám đốc này trong khách sạn nơi ông đến để chào đón Eva. Ông thích người đàn ông này, có thân hình cân đối, nên thêm ông ta vào bữa tiệc của mình để, như ông diễn đạt, giữ không khí bình thường nhờ sự hiện diện của một con người tuyệt đối trung lập.
“Kỹ năng xã hội,” ông vẫn quen nói, “không khác gì kỹ năng nấu nướng và phục vụ. Giữa hai món nặng nề, giàu dinh dưỡng phải có một món giống như nước bọt nó kích thích vòm miệng một cách hoàn toàn không kỹ lưỡng. Bằng không bữa ăn sẽ thiếu phong cách ngay.”
Đó là một vở hài kịch tầm thường, và Christian đã thành thực buồn chán. Crammon nghĩ bổn phận của ông là phải cười một cách hợm mình và không nghe rõ, và thỉnh thoảng ông lại thúc nhẹ Christian một cái, để thuyết phục chàng cũng tỏ ra một sự đánh giá cao nào đó đối với buổi trình diễn. Johanna là người duy nhất thành thật vui vẻ. Nguồn vui của cô là một nam diễn viên được phân công vai nghiêm túc, nhưng đã nói với vẻ thiếu tự nhiên ngớ ngẩn và quan trọng sai lầm đến mức mỗi khi anh ta xuất hiện là cô lại phải đưa chiếc khăn tay thêu ren của mình lên miệng để khỏi phì cười.
Lâu lâu Christian lại trao cho cô gái này một cái nhìn xa xôi và cách biệt. Cô không dễ thương hay ngược lại; chàng không biết phải nghĩ về cô như thế nào. Cảm xúc này của chàng đã không thay đổi từ lần đầu tiên chàng trông thấy cô trong chuyến đi theo Eva.
Cô cảm thấy ánh lạnh lùng trong đôi mắt chàng. Niềm vui của cô không biến mất; nhưng phần dưới khuôn mặt thoáng có vẻ thất vọng hầu như không thể trông thấy được.
Như thể tìm kiếm sự giúp đỡ, cô quay sang phía Christian. “Gã đó vui kinh khủng, anh không nghĩ thế sao?” Đặc điểm của cô là kết thúc một câu hỏi bằng một câu hỏi phủ định.
“Anh ta chắc chắn là đáng xem,” Christian lịch sự đồng ý.
Cửa lô mở ra, và Voss bước vào. Hắn mặc không chê vào đâu được cho dịp này; nhưng không có ai chờ mong và mời hắn. Họ kinh ngạc nhìn hắn. Hắn cúi chào một cách bình tĩnh và không bối rối, rồi đứng im hoàn toàn bất động, hướng sự chú ý của mình lên sân khấu.
Crammon nhìn Christian. Chàng nhún vai. Một lát sau Crammon đứng dậy, và mời hắn ngồi với vẻ lịch sự giễu cợt. Voss thân thiện lắc đầu từ chối, nhưng lại có vẻ nhún nhường và hèn hạ ngay. Hắn lắp bắp: “Tôi đã ngồi ở dãy ghế gần sân khấu nhất và nhìn lên. Tôi nghĩ lên thăm sẽ không hại gì.” Crammon bất thình lình đi ra ngoài, và người ta nghe thấy tiếng ông cãi vã với người dẫn chỗ. Johanna trở nên nghiêm túc, và nhìn xuống khán giả. Christian, như thể né tránh những điều khó chịu, nhích vai mình ra một chút. Những người ngồi bên cạnh phẫn nộ vì tiếng ồn do Crammon gây ra. Ngài Livholm cảm thấy khó mà giữ được bầu không khí đúng đắn. Amadeus Voss là người duy nhất có vẻ như không cảm thấy tình thế này.
Hắn đứng đằng sau Johanna và suy nghĩ: “Mái tóc người phụ nữ này có mùi hương khiến người ta choáng váng.” Hết hồi kịch đó hắn rút lui, và đã không quay trở lại.
Vào lúc đêm muộn, khi chỉ còn lại một mình với Christian, Crammon đã trút cơn phẫn nộ của ông lên đầu chàng. “Tôi sẽ bắn gục hắn như một con chó điên, nếu như hắn lại cố gắng làm một trò như thế! Gã đó nghĩ cái gì vậy? Tôi không quen với những kiểu cách như thế. Đồ đáng treo cổ chết tiệt - hắn lớn lên ở đâu vậy? Ôi, cái linh hồn tiên tri của tôi! Tôi luôn luôn không tin những kẻ đeo mục kỉnh. Tại sao anh không bảo hắn hãy xéo xuống địa ngục đi? Trong cuộc đời đầy tội lỗi của mình tôi đã gặp đủ hạng người; tôi đã biết những người tốt nhất và những kẻ cặn bã; nhưng gã này là loại mới. Hoàn toàn mới, có Chúa chứng giám! Tôi phải uống một liều brômua mới được, bằng không sẽ không ngủ được.”
“Tôi tin ông không công bằng đấy, Bernard ạ,” Christian trả lời, với đôi mắt nhìn xuống. Nhưng gương mặt chàng nghiêm nghị, kín đáo, và lạnh lùng.
VIII
Amadeus Voss đệ trình kế hoạch dưới đây với Christian: đến Berlin, đầu tiên như một sinh viên chưa trúng tuyển, rồi sau đó thì chuẩn bị cho kỳ thi nhà nước của ngành y.
Christian gật đầu tán thành, và thêm rằng chàng cũng dự định sẽ sớm đến Berlin. Voss đi đi lại lại trong phòng. Rồi hắn sống sượng hỏi: “Tôi sẽ sống bằng cách nào? Xử lý những phong bì ư? Hay xin lương? Nếu anh định rút lại tình bạn và sự giúp đỡ của anh, thì xin cứ nói thẳng ra. Tôi học được cách lội qua bùn lầy rồi. Bùn mới sẽ không khó lội qua hơn bùn cũ.”
Christian vô cùng ngạc nhiên. Tuần trước, ở Hà Lan, chàng đã đưa cho Amadeus mười ngàn franc. “Anh cần bao nhiêu?” chàng hỏi.
“Tiền cơm tháng, tiền trọ, tiền quần áo, tiền sách vở ...” Amadeus liệt kê các khoản tiền, và vẻ mặt hắn là vẻ mặt của kẻ trình bày rõ ràng chính xác các nhu cầu và dùng giọng thỉnh cầu chỉ vì lịch sự. “Tôi sẽ tằn tiện.”
“Tôi sẽ ra lệnh gửi cho anh hai ngàn mark một tháng,” Christian nói, với vẻ ác cảm. Lời yêu cầu tiền bạc láo xược trên khiến chàng đau đớn. Trạng thái bị sở hữu đè nặng lên chàng như ngọn núi. Chàng không thể tự do sử dụng hai cánh tay hay nhấc ngực mình lên nổi, và gánh nặng đó càng ngày càng nặng hơn.
Trong cái bát bằng hoàng ngọc ở trên bàn có chiếc đinh ghim khăn quàng cổ đính một viên ngọc trai đen, lớn. Voss, mà hai bàn tay luôn luôn mò tìm một tài sản nào đó, cầm nó lên, giữ giữa ngón cái và ngón trỏ của hắn trước ánh sáng. “Anh thích chiếc đinh ghim đó không?” Christian hỏi. “Hãy nhận lấy nó,” chàng thuyết phục Amadeus, kẻ đang do dự. “Tôi thực sự không quan tâm đến nó đâu.”
Voss tiến lại gần tấm gương soi, rồi đính chiếc đinh ghim đó vào cà vạt của mình với nụ cười kỳ lạ.
Khi chỉ còn lại một mình, Christian đứng một lát hoàn toàn chìm đắm vào suy nghĩ. Rồi chàng ngồi xuống, và viết thư cho người quản lý của mình ở lâu đài Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian. Chàng viết bằng nét chữ cao gầy và phong cách vụng về không kém của mình. “Thưa ngài Borkowski thân mến của tôi:---tôi quyết tâm bán Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian, cùng với tất cả đồ đạc và tác phẩm nghệ thuật, cũng như khuôn viên, khu rừng, và các trang trại. Kèm theo đây tôi ủy thác cho ông việc tìm kiếm người môi giới bất động sản có khả năng và trung thực, người có thể đánh điện tín cho tôi biết khi có bất cứ lời đề nghị có triển vọng nào. Ông biết loại người đó, và chỉ cần đánh xe đến Frankfort. Làm ơn hãy giải quyết chuyện này một cách lặng lẽ hết mức có thể. Không được có tin quảng cáo nào xuất hiện trên báo chí.”
Rồi chàng viết lá thư thứ hai gửi cho người quản lý chuồng ngựa đua của mình ở Waldleiningen. Để viết bức thư này chàng phải cưỡng bức trái tim mình nhiều hơn bức thư thứ nhất, bởi vì chàng liên tục thấy đôi mắt dịu hiền hoặc sinh động của những con vật cao quý đó nhìn dán vào mình. Chàng viết: “Thưa ông Schaller thân mến của tôi:---tôi quyết tâm ngừng hoạt động chuồng ngựa đua của mình. Những con ngựa sẽ được bán tại cuộc đấu giá hoặc một cách lặng lẽ cho những người đam mê. Tôi thích cách sau hơn, và cho rằng ông cũng chia sẻ cảm xúc đó. Nam tước Deidinger xứ Deidingshausen từng rất thích con Columbus và con ngựa cái Đáng Yêu. Hỏi ông ta xem có muốn chúng không. Con Đáng Khâm Phục và con Cô Dâu Của Gió có thể được đề nghị với cả hoàng thân Pless lẫn ngài von Strathmann. Hãy gửi con Luôn Luôn Tiến Lên của anh bạn Denis Lay của tôi đến Baden-Baden, và tạm thời gửi nó trong chuồng ngựa của bá tước Treuberg. Tôi không muốn nó ở lại Waldleiningen một mình.”
Chàng thở phào nhẹ nhõm sau khi đã niêm phong những lá thư trên. Chàng rung chuông, và đưa những lá thư đó cho gã hầu của mình. Gã hầu định quay người đi, thì Christian gọi giật lại. “Tôi thực sự rất tiếc phải cho anh thôi việc, Wilhelm ạ,” chàng nói. “Từ nay về sau tôi sẽ tự chăm sóc cho bản thân mình.”
Gã hầu không thể tin vào tai mình. Gã đã theo hầu Christian ba năm, và thành tâm tận tụy với chàng.
“Tôi rất tiếc, nhưng việc đó là cần thiết,” Christian nói, nhìn xuyên qua gã hầu, và có hầu như cũng nụ cười lạ lùng mà chàng đã thấy trên mặt Amadeus Voss lúc hắn cài chiếc đinh ghim đính viên ngọc trai đen kia lên cà vạt của hắn trước tấm gương soi.
