QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXXVII)
KAREN ENGELSCHALL
III
Crammon và Johanna Schontag đang ngồi trong phòng khách của khách sạn. Họ đã ăn tối cùng nhau. Bạn Johanna, tiểu thư Grabmeier, đã rút lui.
“Cô phải kiên nhẫn, Rumpelstilzkin ạ,” Crammon nói. “Tôi rất tiếc phải nói rằng anh ấy vẫn chưa cắn câu. Mồi câu vẫn còn ở dưới nước.”
“Tôi sẽ kiên nhẫn, thưa ngài,” Johanna nói, bằng giọng có phần thô ráp, như của một cậu bé, và ánh vui vẻ, trong đó quyến rũ và xấu xí hòa trộn vào nhau một cách lạ lùng, vụt qua mặt cô. “Tôi thấy việc đó cũng không quá khó khăn. Với tôi thì cuối cùng mọi chuyện chắc chắn sẽ hỏng bét cả thôi. Nếu có bao giờ một mong ước của tôi bất ngờ trở thành hiện thực, và việc tôi háo hức chờ mong đã xảy ra, thì tôi vẫn khốn khổ hết sức, bởi vì nó không bao giờ tốt đẹp như tôi nghĩ. Do đó, thất vọng là điều hay nhất dành cho tôi.”
“Cô là một linh hồn khó hiểu,” Crammon đăm chiêu nói.
Johanna vui nhộn thở dài. “Tôi khuyên ông, bạn và người bảo vệ thân mến ạ, hãy tống khứ tôi bằng cách gửi trả lại đi thôi.” Cô vươn cái cổ bé nhỏ gầy gò của mình ra bằng một động tác cố tình làm cho kỳ quái. “Tôi chỉ làm cản trở giao thông thôi. Tôi là điềm gở được nhân cách hóa. Khi tôi được sinh ra đời có một bà tên là Cassandra [Người có khả năng tiên đoán tai họa nhưng chẳng được ai tin, theo thần thoại Hy Lạp – ND] đã xuất hiện, và tôi không cần nói với ông những điều không thú vị nào đã được nói về bà ta. Ông còn nhớ lúc chúng ta tập bắn trúng mục tiêu ở nhà Ashburnham tôi đã bắn trúng tâm như thế nào rồi đấy. Tất cả mọi người đều kinh ngạc, kể cả ông; nhưng tôi kinh ngạc hơn bất cứ ai, bởi vì đó hoàn toàn là do may mắn. Khẩu súng trường thực sự đã phát nổ trước khi tôi nhằm mục tiêu. Số phận tặng tôi những năng khiếu bé nhỏ và vô dụng như thế, để có vẻ thân thiện và ru cho tôi cảm thấy an toàn. Nhưng không lừa được tôi đâu. Ôi! Một nữ tu sĩ, một nữ tu sĩ!” cô tự ngắt lời mình. Đôi mắt cô mở rất to, khi thấy có một nữ tu sĩ Ursuline đang đi ngang qua vườn. Rồi cô bắt chéo hai cánh tay trên ngực, và đếm với vẻ lanh lợi khác thường: “Bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai, một.” Rồi cô bật cười, để lộ hai hàm răng tuyệt đẹp.
“Cô có thói quen làm thế mỗi khi có một nữ tu sĩ xuất hiện à?” Crammon hỏi. Niềm hứng thú những trò mê tín trong ông trỗi dậy.
“Đó là nghi lễ đúng đắn để theo. Nhưng bà ấy đã đi khỏi trước khi tôi đếm đến một, điều đó không báo hiệu điều gì tốt đẹp cả. Nhân tiện, thưa nam tước thân mến, thuật ngữ thượng võ của ông nghe có vẻ khả nghi đấy. ‘Anh ấy vẫn chưa cắn câu; mồi câu vẫn còn ở dưới nước’ nghĩa là thế nào? Tôi xin ông hãy kiềm chế bản thân mình. Tôi là một cô gái không được bảo vệ, và hoàn toàn lệ thuộc vào tinh thần hiệp sĩ tế nhị của ông. Nếu như ông rung lắc lòng tự tin đang lung lay của tôi bằng bất cứ hồi ức nào về giới thượng võ thêm nữa, thì tôi sẽ phải đánh điện đặt hai giường trên chuyến tàu Vienna. Cho tôi và tiểu thư Grabmeier, dĩ nhiên rồi.”
Cô yêu những hàm ý nho nhỏ táo bạo này, mà mình có thể rút khỏi một cách hoàn toàn thơ ngây. Crammon bật lên một tràng cười muộn màng, và điều đó cũng khuấy động tâm trạng vui vẻ trong cô.
Cô rất cảnh giác, không gì thoát khỏi đôi mắt chăm chú của cô. Cô có mối quan tâm cháy bỏng đối với cá tính và hành động của con người. Cô chồm về phía Crammon và họ thì thầm với nhau, bởi vì ông có thể kể một câu chuyện về mỗi hình hài và bộ mặt hiện ra từ đám đông. Ông là chủ nhân của cuốn sử biên niên tiểu sử quốc tế và chuyện tai tiếng dài bất tận. Nếu như có bao giờ trí nhớ phản bội mình, thì ông sẽ sáng tác hay tán tụng bằng thơ một chút. Ông có mọi chuyện tại gốc lưỡi mình - những cuộc bàn cãi liên quan đến việc thừa kế, những cuộc cãi vã gia đình, con hoang, ngoại tình, những mối quan hệ đủ loại. Johanna mỉm cười lắng nghe. Cô săm soi tất cả các bàn và cẩn thận quan sát từng chi tiết khác thường. Cô nhặt lên và ghim xuống, như nhà côn trùng học làm với những con bọ cánh cứng của mình, bất cứ nhận xét tình cờ hay biểu hiện xỏ lá nào, bất cứ vẻ ngớ ngẩn hay kỳ dị nào của bất cứ ai trong số những diễn viên vô tình này trong xã hội thượng lưu hay ngoài rìa của nó.
Bất thình lình đôi đồng tử của hai con mắt màu xanh xám nhạt của cô mở ra rất to, và đôi môi cô cong lên thành một vòm cung vui sướng như trẻ thơ. “Ai kia?” cô thì thầm, và hất cằm mình ra một chút về phía cánh cửa ở sau lưng Crammon. Nhưng cô lập tức biết ngay một cách bản năng rằng đó là ai. Cô hẳn vẫn biết đó là ai mà không cần sự đồng loạt ngẩng lên của những cái đầu và sự lắng dịu của những giọng nói, mà cô đã nhận thấy.
Crammon quay lại và trông thấy Eva giữa một nhóm những quý bà và quý ông. Ông đứng lên, chờ cho đến khi Eva liếc mắt về phía mình, rồi cúi đầu chào rất thấp. Eva lùi lại một chút. Cô ta đã không gặp lại ông từ những ngày có chuyện Denis Lay. Cô ta suy nghĩ một lát, rồi gật đầu chào từ xa. Rồi cô ta nhận ra ông, ngăn không cho những người kia đi theo mình nữa với vẻ duyên dáng vô song, và, nói trong mọi đường nét trước khi đôi môi mình chuyển động, đi đến gặp ông.
Johanna cũng đứng dậy. Eva để ý đến dáng người bé nhỏ đó. Cô ta làm cho Crammon hiểu rằng ông có một bổn phận đối với người bạn của mình, và rằng cô ta sẽ không từ chối một lời giới thiệu với cô gái không quen biết kia, mà vẻ hăng hái và tôn kính trên mặt trông cảm động đến thế. Crammon giới thiệu Johanna bằng cách trịnh trọng nhất của mình. Mặt Johanna hết tái lại đỏ và cô khẽ nhún gối chào. Cô tự thấy mình dường như bất thình lình trở nên quá không đáng kể đến mức đã mất tự chủ vì xấu hổ. Rồi cô gỡ ba bông hồng vàng trên vạt áo mình, và chìa chúng ra cho Eva bằng động tác đột ngột nhưng vẫn rụt rè. Eva thích cơn bốc đồng này. Cô ta cảm thấy có tính độc nhất và chân thực trong đó, và vì thế nên biết giá trị của nó.
IV
Christian và Amadeus đi lang thang trên Quai [Bến cảng - tiếng Pháp – ND] Kokerill ở Antwerp.
Một con tàu chạy xuyên Đại Tây Dương vĩ đại đang đậu, im lìm và trống rỗng, ở bến tàu. Những hành khách trong khoang rẻ tiền nhất đang chờ giờ lên tàu ở bên mạn. Họ là những nông dân Ba Lan, những người Do Thái Nga, trẻ và già, đàn ông và phụ nữ, trẻ em và những đứa bé còn đang bú mẹ. Họ ngồi trên những hòn đá lạnh lẽo hay trên những gói bọc bẩn thỉu. Chính họ cũng bẩn thỉu, nhếch nhác, kiệt quệ, đăm chiêu đần độn - một đống giẻ rách và thân thể người rầu rĩ, lộn xộn.
Quả cầu mặt trời hùng vĩ cuộn tròn đỏ như máu và rung rinh trên mặt nước.
Christian và Amadeus dừng lại. Lát sau họ lại đi tiếp, nhưng Christian muốn quay lại, và họ đã làm thế. Ở ngã tư cạnh trại những người di cư, một hàng mười hoặc hai mươi cỗ xe lừa kéo cắt ngang qua con đường. Những cỗ xe trông như các thùng nhỏ bị cắt làm đôi trên những bánh xe, và chất đầy cá Thu xông khói.
“Mua cá Thu đi!” những người đánh xe kêu lên. “Mua cá Thu đi!” Và họ vụt roi.
Vài người di cư tiến lại gần nhìn đói khát nhìn chòng chọc; họ thảo luận với nhau, đã bắt đầu lục tìm những đồng xu trong túi, cho đến khi cuối cùng vài người kiên quyết tiến lên mua.
Đoạn Christian nói với Voss: “Chúng ta hãy mua cá và phân phát cho họ. Anh nghĩ sao?”
Amadeus không được vui. Hắn trả lời. “Cứ làm như anh muốn. Các chúa tể vĩ đại phải có những niềm vui nho nhỏ của họ chứ.” Hắn cảm thấy không thoải mái giữa đám đông đang tụ tập.
Christian quay sang một trong những người bán rong. Thật khó khiến cho ông ta hiểu được tiếng Pháp bình thường, nhưng dần dà chàng cũng thành công. Người bán rong gọi những người khác, và tiếp theo sau đó là tiếng nói chuyện và những cử chỉ khoa chân múa tay phấn khích. Những số tiền khác nhau được nêu lên và được cân nhắc và bị gạt đi. Việc này khiến Christian chán nản; nó đe dọa sẽ không bao giờ chấm dứt. Chàng đề nghị một số tiền vượt hơn đáng kể so với giá cao nhất đã được nêu lên, và đưa ví của mình cho Amadeus để thanh toán cho những người kia. Rồi chàng nói với đám đông người di cư càng lúc càng đông đúc hơn bằng tiếng Đức: “Cá là của các người.”
Vài người hiểu được những lời chàng nói, và truyền đạt ý nghĩa của chúng lại cho những người khác. Họ đánh bạo rụt rè tiến lên phía trước. Một người đàn bà, da vàng như chanh vì bệnh vàng da, là người đầu tiên chạm vào cá. Chẳng bao lâu sau đã có hàng trăm người xúm đến. Họ mang đến những rổ, nồi, lưới, bao bố từ mọi phía. Có mấy ông già giữ trật tự cho đám đông. Một người trong số họ, có bộ râu bạc mềm rũ và mặc áo choàng ngoài Do Thái dài, cúi lạy Christian ba lần. Trán ông ta gần như chạm đất.
Một cơn bốc đồng đột ngột thúc đẩy Christian đích thân xem việc phân phát cá có được công bằng không. Chàng xắn tay áo, và với hai bàn tay thanh tú của mình ném những con cá bóng nhẫy, hôi hám vào những cái thùng đang giơ ra để hứng chúng. Chàng bật cười khi làm bẩn những ngón tay mình. Những người bán rong và những kẻ quan sát nhàn rỗi cũng bật cười. Họ nghĩ chàng là một người Anh điên rồ, trẻ tuổi đi ra ngoài để kiếm trò đùa vui. Bất thình lình cơn buồn nôn vì mùi cá trỗi dậy trong lòng chàng, và thậm chí còn dữ dội hơn trước mùi của những con người này. Chàng ngửi thấy mùi quần áo và hơi thở của họ, nôn ọe trước ý nghĩ về hàm răng, những ngón tay, tóc và giày của họ. Một ép buộc tâm lý bệnh hoạn ép chàng phải nghĩ đến thân thể họ, và chàng rùng mình trước ý nghĩ về da thịt họ. Thế là chàng dừng tay, rồi lẻn đi vào trong ánh chạng vạng.
Hai bàn tay chàng hãy còn nồng nặc mùi cá xông khói. Chàng đi bộ qua những con phố không biết gì đến cuộc phiêu lưu của mình và đêm dường như trống rỗng.
Amadeus Voss đã trốn thoát. Hắn chờ trước khách sạn. Dãy ô tô sẽ hộ tống Eva trên đường cô ta đến Đức đã vào hàng. Trong số những người sẽ đi có Crammon và Johanna Schontag.
V
Thời tiết ở Rio de la Plata nóng bức vào tháng Mười. Suốt ngày người ta phải ở trong nhà. Nếu như người ta mở một cánh cửa sổ, thì lửa sống [Ý nói cái nóng – ND] dường như sẽ chảy vào. Có lần Letitia đã ngất xỉu, khi nàng muốn làm thoáng khí căn phòng ngột ngạt của mình, nên mở một trong những cánh cửa chớp bằng gỗ ra.
Gần tối chỉ có một địa điểm có chút bóng râm và mát mẻ là đại lộ trồng cọ bên cạnh dòng sông. Thỉnh thoảng, vào lúc hoàng hôn ngắn ngủi, Letitia và cô em chồng trẻ tuổi của nàng là Esmeralda lại lẻn ra đó. Đường họ đi ngang qua những túp lều tranh, những túp lều khổ trông như những hang động trong đó những người thợ bản xứ sinh sống.
Một hôm Letitia trông thấy những người sống trong những túp lều tranh đó đang vui vẻ hội hè và mặc những bộ trang phục đẹp nhất của họ. Nàng hỏi lý do, và được cho biết rằng một đứa trẻ đã chết. “Họ luôn luôn ăn mừng khi có ai đó chết,” Esmeralda nói với nàng. “Cuộc sống của họ phải buồn đến thế nào thì mới khiến cho họ yêu cái chết đến thế.”
Đại lộ trồng cọ là đất cấm. Khi màn đêm buông xuống, những bụi cây xạc xào, và những gã đàn ông lén lút lẻn đi lui tới. Không lâu trước đó một viên cảnh sát cưỡi ngựa đã tóm được ở đây một gã thủy thủ bị truy nã vì tội giết người ở Galveston. Dù sao thì Letitia cũng đã nằm mơ thấy gã. Nàng chắc chắn gã đã giết người vì ghen tuông và mang những dấu hiệu của một bi kịch tuyệt đẹp.
Một buổi tối nàng gặp ở đây một sĩ quan hải quân trẻ tuổi, khách mời của điền trang kế bên. Letitia đã trao đổi ánh mắt với anh ta, và từ lúc đó trở đi anh ta tìm cách tiếp cận nàng. Nhưng nàng giống như một tù nhân, hay người phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ trong hậu cung. Thế là nàng quyết tâm sẽ đánh lừa những kẻ canh gác mình; nàng thực sự đã yêu chàng sĩ quan trẻ tuổi kia rồi. Trí tưởng tượng của nàng đã biến anh ta thành anh hùng, và nàng bắt đầu mong chờ anh ta.
Cái nóng càng tăng thêm. Ban đêm Letitia không thể ngủ. Đám muỗi ngòn ngọt vo ve, và nàng đã khóc như một đứa trẻ bé bỏng. Ban ngày nàng tự nhốt mình trong phòng, cởi quần áo, nằm trên sàn lát đá lạnh lẽo.
Một hôm nàng đang nằm như thế với hai cánh tay dang ra. “Ta giống như nàng công chúa bị bỏ bùa mê,” nàng nghĩ, “trong tòa lâu đài bị bỏ bùa mê.”
Có ai đó gõ cửa, và nàng nghe thấy giọng Stephen gọi mình. Nàng lười biếng ngẩng đầu lên, nhìn xuống thân thể lõa lồ của mình từ dưới đôi mi mắt nặng nề. “Buồn chán làm sao,” nàng nghĩ, “buồn chán kinh khủng làm sao khi cứ phải luôn luôn cùng với mỗi một người đàn ông. Ta cũng muốn những người khác nữa.” Nàng không trả lời, để cho đầu rơi xuống lại, và cọ bờ má nóng rực của mình vào làn da ấm áp của cánh tay trên. Ông chủ hậu cung ngoài kia sẵn lòng cầu xin để được vào; nhưng Letitia không mở cửa.
Một lát sau nàng nghe thấy những tiếng ầm ĩ ở trong sân - tiếng cười, tiếng roi vụt, tiếng súng trường nổ, và tiếng những con vật gào lên đau đớn. Nàng nhảy bật dậy, luồn mình vào tấm áo choàng lụa, mở cửa sổ hiên, rồi chăm chú nhìn ra ngoài.
Stephen đã buộc đuôi hai con mèo lại với nhau bằng một sợi dây mồi dài. Những viên pháo hoa được buộc trên sợi dây mồi này. Nhưng quả rốc két bé nhỏ kêu xì xì đã làm cháy sém lông hai con mèo, và sợi dây sáng rực đã đốt cháy da thịt chúng. Hai con mèo lăn qua lăn lại trong nỗi đau đớn cực độ và gào lên. Stephen lấy gậy thúc và đi theo chúng. Những người anh em của anh ta, chồm ra ngoài hàng chấn song, rống lên vì vui thích. Hai người Anhđiêng, nghiêm trang và im lặng, nhìn vào từ cổng.
Stephen dĩ nhiên đã đoán rằng Letitia sẽ mở cửa ra vì tò mò. Vài cú nhảy dài, và anh ta đã ở bên cạnh nàng. Esmeralda, người cũng góp phần vào âm mưu trên, đã lập tức đối mặt với Letitia và ngăn nàng khóa cửa lại. Trắng bệch vì tức giận, và với nắm đấm giơ lên, anh ta băng ngang qua ngưỡng cửa. Nàng quỳ gối, hai bàn tay ôm mặt.
“Tại sao anh đánh em?” nàng rền rĩ, trong nỗi khiếp sợ và ngạc nhiên. Nhưng anh ta vẫn chưa chạm vào nàng.
Hai hàm răng anh ta nghiến lại. “Để dạy cô vâng lời.”
Nàng khóc nức nở. “Cẩn thận đấy! Bây giờ không phải anh chỉ làm đau một mình em thôi đâu!”
“Chết tiệt, cô đang nói gì vậy?” Anh ta nhìn chòng chọc vào dáng người đang quỳ của nàng.
“Bây giờ anh sẽ làm đau cả hai người.” Letitia tận hưởng việc biến anh ta thành thằng ngốc. Những giọt nước mắt của nàng giờ đây là những giọt nước mắt tự thương xót mình.
“Này mụ đàn bà, có thật thế không?” anh ta hỏi. Letitia nhìn trộm qua những kẽ ngón tay, và giễu cợt nghĩ: “Giống như hồi cuối của một vở opera rẻ tiền.” Nàng gật đầu bằng cử chỉ đau đớn, quyết tâm sẽ lừa dối anh ta với chàng sĩ quan hải quân kia.
Stephen hú lên một tiếng đắc thắng, nhảy múa tung tăng, ném mình xuống bên cạnh nàng, và hôn lên hai cánh tay, đôi vai, và cổ nàng. Tại các ô cửa sổ và ô cửa xuất hiện Donha Barbara, Esmeralda, những người anh em của Stephen, và những người hầu. Anh ta nhấc Letitia lên đôi vai khỏe mạnh của mình, rồi cõng nàng chạy quanh trên hiên. Anh ta rống lên những mệnh lệnh: một bữa yến tiệc phải được chuẩn bị, một con bò phải bị giết thịt, champagne phải được ướp đá.
Lương tâm Letitia không cắn rứt. Nàng vui vì đã biến anh ta thành thằng ngốc.
Khi ông già Gunderam biết được nguyên nhân niềm vui trong nhà mình, thì ông ta cười thầm. “Dù sao thì cũng bị lừa, hỡi tên luật sư láu cá của ta. Dù cho cái bản giao kèo kia, ngươi vẫn không có được Escurial đâu, còn lâu, ngay cả khi con bé ấy có đẻ được cả một đàn con.” Ông chải bộ râu bạc sắt của mình bằng chiếc lược gãy bé nhỏ xấu xí, và xức eau de Cologne lên đầu, cho đến nước chảy nhỏ giọt xuống từ mái tóc vẫn còn dày của ông.
Nhưng, một cách khá lạ lùng, lời nói dối mà Letitia đã nói trong lúc hoảng sợ đã trở thành sự thật. Ít hôm sau nàng đã chắc chắn. Nàng thầm kinh ngạc. Sáng nào nàng cũng đứng trước tấm gương soi, tự ngắm mình với nỗi kính trọng lạ lùng và nỗi kinh hãi tế nhị. Nhưng nàng vẫn không thay đổi. Tâm trạng nàng trở nên u sầu hiền dịu, và nàng ném một nụ hôn lên hình bóng mình trong gương.
Bởi vì giờ đây họ sợ ngăn trở những mong ước của nàng, nên nàng được phép đến dự buổi khiêu vũ do Senho và Senhora Kuchelbacker tổ chức, và ở đó nàng đã chính thức làm quen với chàng trung úy hải quân Friedrich Pestel.
