favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXXVI)

KAREN ENGELSCHALL

I

Crammon đến vào giờ đã định trong ngày đã định. Ông sẵn sàng ở lại và hội hè; nhưng đã thất vọng. Eva và đoàn của cô ta sắp rời đi. Maidanoff đã đi Paris, và Eva sẽ theo ông ta tới đó.

Crammon đã biết tình bạn mới này của thần tượng. Tất cả những tin tức khác cũng đã đến tai ông, và vì thế mà ông biết rằng một cuộc cãi vã đã nổ ra giữa Christian và Eva. Ông càng kinh ngạc hơn khi thấy Christian quyết tâm theo Eva đến Hamburg.

Mới trao đổi với nhau vài lời, thì ông đã chú ý đến sự biến đổi trong Christian. Ông đặt bàn tay lên vai chàng trai trẻ, và thông cảm hỏi: “Anh không có gì để kể sao?”

Ông qua buổi tối với Wiguniewski. “Không thể như thế được,” ông nói; “anh lầm rồi. Nếu không thì thế giới đã hỗn loạn và tôi không còn có thể hiểu một người đàn ông từ một người phụ nữ được nữa.”

“Từ đầu tôi đã không đặc biệt thích Wahnschaffe rồi,” Wiguniewski thú nhận. “Anh ta quá khó hiểu, bí ẩn, ngang ngạnh, lạnh lùng, và, nếu ông muốn, quá Đức. Tuy nhiên tôi biết ngay từ đầu rằng anh ta chính là người đàn ông dành cho Eva Sorel. Ông không thể thấy hai người bên nhau mà không cảm thấy vui sướng – loại vui sướng mà một tác phẩm tuyệt đẹp mang lại cho ông, hay bất cứ thứ gì đó thích hợp và hài hòa về tâm hồn.”

Crammon gật đầu. “Anh ấy có sức mạnh lạ lùng với phụ nữ,” ông nói. “Tôi vừa có một ví dụ càng đáng chú ý hơn vì phát triển chỉ từ một tấm hình. Tại nhà Ashburnham ở Yorkshire, nơi tôi đã ở, tôi làm quen với một cô gái Vienna, con gái một ông chủ ngân hàng, thành thực mà nói thì khá xấu xí, nhưng có sự sắc sảo, quyến rũ và hóm hỉnh xinh xắn đặc biệt của riêng mình. Dáng vẻ không xấu, dù hơi – chúng ta có thể nói là không đủ không nhỉ? Phải. Tên cô ấy là Johanna Schontag, dù điều đó chẳng mấy quan trọng. Tôi chẳng gọi cô ta bằng tên gì khác ngoài Rumpelstilzkin [Nhân vật trong truyện cổ tích Đức – ND]. Nó hợp với cô ấy như một chiếc găng tay. Chúa biết cô ấy đã đến đó như thế nào. Chị gái cô ấy, một người tóc màu nâu đỏ nhạt, trông như nhảy ra từ tranh của Rubens, đã cưới một tùy viên công sứ thứ yếu nào đó, người Rumani hay Bungari gì đó. Những đại tư bản đưa con gái họ vào xã hội thượng lưu bằng cách đó. Ồ, dù sao thì, cái cô Rumpelstilzkin này và tôi đã nhất trí sẽ mua vui cho nhau giữa bầu không khí tẻ ngắt ảm đạm trong nhà huân tước Ashburnham và phu nhân. Thế là một hôm tôi cho cô gái này xem bức tiểu họa Christian do Gaston Villiers vẽ cho tôi ở Paris. Cô ấy xem bức tranh và khuôn mặt vui vẻ trở nên nghiêm trang, chăm chú, rồi cô ấy lẳng lặng trả nó lại cho tôi. Ít hôm sau cô ấy lại đòi xem bức tranh đó, và nó lại tác động đến cô ấy y như trước. Cô ấy hỏi thăm tôi về Christian, và tôi, dĩ nhiên, đã trở nên rất hùng biện, và cũng vô tình để lộ ra rằng tôi mong chờ được gặp anh ấy ở đây. Ngay lập tức cô ấy khăng khăng đòi được gặp Christian, và tôi phải lên kế hoạch để cô ấy được toại nguyện. Hãy nhớ là cô ấy thường khó gần, khó tính, hếch mũi lên – nhân tiện đó là nét xấu nhất của cô ấy - trước những điều khiến phần lớn tất cả mọi người đều thấy hài lòng. Lời yêu cầu thật bất ngờ và có phần phiền hà. Người ta không được, như anh biết đấy, đưa những con người không hợp nhau lại gần nhau và tự đặt mình vào tình thế khó khăn. Thế nên tôi nói ngay: ‘Thượng Đế cấm đấy!’ Tôi khiển trách cô ấy nhẹ nhàng để cô ấy đổi ý, và vẽ mối hiểm nguy đó bằng những sắc màu đen tối nhất. Cô ấy cười tôi, và hỏi phải chăng tôi đã trở nên quá câu nệ; rồi cô ấy lập tức phát triển một kế hoạch ranh ma nhất. Cô ấy có đủ thời gian. Gia đình không mong đợi cô ấy cho đến ngày đầu tiên của tháng Mười Một, thế nên cô ấy có những bảy tuần lễ. Thế là cô ấy loan báo dự định nghiên cứu những phòng trưng bày nghệ thuật Hà Lan của mình, sự theo đuổi văn hóa đó vẫn luôn được kính trọng. Cô ấy có một người bạn và cũng là một chaperone [Người đi kèm các tiểu thư - tiếng Ý – ND], có thể nói thế, và chị cô ấy, người có tư tưởng khoáng đạt trong những vấn đề như thế này, có thể làm bạn tâm tình với cô ấy. Nghị lực và tính ranh ma của cô ấy làm tôi trở nên yếu đuối, và ép buộc tôi phải tham gia vào âm mưu đó. Chà, hôm qua cô ấy đã đến. Cô ấy đang ở khách sạn de la Plage, hơi hoảng sợ một chút, như con chim rơi khỏi tổ, hơi không bằng lòng với chính mình một chút, khó chịu vì những cuộc tấn công nho nhỏ của đạo đức; còn tôi, về phần mình, không biết phải làm sao với cô ấy. Tôi sực nhớ ra quá muộn rằng những trò gian trá như thế không thể tóm được Christian, và bây giờ phải nói rõ điều đó với cô gái này. Tất cả những chuyện này chỉ là nhân tiện mà nói thôi, hoàng thân ạ - một kiểu ghi chú vào bài thuyết trình của anh, mà tôi không định ngắt lời.”

Wiguniewski đã lắng nghe với rất ít cảm thông. Anh ta lại bắt đầu: “Những tháng vừa qua, như tôi đã nói, mang lại cho tất cả chúng tôi một trải nghiệm không thể nào quên. Chúng tôi thấy hai nhân vật tự do giành được hình thức hôn nhân cao hơn bất cứ cuộc hôn nhân hợp pháp nào khác. Nhưng bất thình lình cảnh tượng cao quý này trở thành một tình huống khó khăn thảm hại; và đó là lỗi của anh ta. Bởi vì một cuộc hôn nhân như thế có kết cục hữu cơ và tự nhiên của nó. Một người đàn ông có tính nhạy cảm tinh tế biết điều đó, và tự điều chỉnh mình theo. Thay vì thế, anh ta để cho nó đi đến chỗ những cảnh tượng đau lòng. Anh ta tìm kiếm những cuộc gặp gỡ nó làm nhục và biến mình thành ngu xuẩn. Anh ta chờ cô ta về trong nhà cô ta khi cô ta đã đi ra ngoài, và chịu đựng cô ta đi ngang qua mình với cái gật đầu lơ đễnh. Có lần anh ta ngồi chờ suốt đêm và nhìn chòng chọc vào một cuốn sách. Anh ta để cho mụ Rappard đối xử xấc láo với mình, và dường như không bận tâm đến việc trái cây và hoa hàng ngày mình gửi đến thường xuyên bị từ chối. Đó là gì? Nó có nghĩa là gì?”

“Điều đó chỉ rõ một nỗi đau khổ nào đó, và chắc chắn là nỗi đau khổ to lớn dành cho tôi,” Crammon thở dài. “Thật không thể hiểu nổi.”

“Hôm kia cô ta mời một bữa ăn tối,” Wiguniewski tiếp tục. “Anh ta bị xếp ngồi ở cuối bàn ăn như để chế giễu. Tôi thậm chí không biết những người ngồi cạnh anh ta. Việc anh ta chấp nhận chịu đựng những sự sỉ nhục này dường như khơi dậy trong cô ta tính tàn nhẫn lạ lùng; anh ta, ngược lại, dường như tìm thấy một cám dỗ nào đó không thể giải thích nổi trong nỗi đau khổ của mình. Buổi tối đó anh ta ngồi xuống trong im lặng. Sau đó một việc kỳ lạ đã xảy ra. Những nhóm người hình thành sau bữa ăn tối. Anh ta đứng cách Eva vài bước và nhìn cô ta chằm chằm. Khuôn mặt anh ta có vẻ trầm tư lúc nhìn cô ta. Cô ta mang Ignifer, nó là món quà của anh ta, và trông như Diana với ngôi sao lấp lánh trên trán.”

“Diễn đạt xuất sắc, thưa hoàng thân,” Crammon kêu lên.

“Cuộc nói chuyện chạm vào nhiều chủ đề mà không hời hợt. Ông biết cách nói chuyện có kiểm soát và kỷ luật một cách đáng khâm phục của cô ta rồi đấy. Cuối cùng nổi lên cuộc thảo luận về văn học Flanders, và có ai đó đã nói về Verhaeren. Cô ta trích dẫn những câu nào đó trong bài thơ ‘Niềm Vui’ của ông ta. Ý nghĩa đại loại thế này: Tôi tồn tại trong mọi thứ sống xung quanh tôi; những đồng cỏ, những con đường, cây cối, những dòng suối và bóng râm, em trở thành tôi, từ khi tôi cảm thấy em hoàn toàn. Có tiếng rì rầm cảm kích. Cô ta đi đến kệ sách và lấy xuống một quyển thơ Verhaeren. Cô ta lật các trang, tìm bài thơ mình cần, và bất thình lình quay sang Wahnschaffe. Cô ta đưa cuốn sách cho anh ta bằng dáng điệu ra lệnh; anh ta sẽ phải đọc bài thơ đó. Anh ta do dự một khoảnh khắc, rồi tuân theo. Tác động của việc đọc vừa buồn cười vừa đầy đớn đau. Anh ta đọc như cậu học trò, trầm thấp, lắp bắp, và như thể nội dung vượt quá tầm lĩnh hội của mình. Tự bản thân anh ta cũng cảm thấy tính chất buồn cười và đầy đớn đau của sự việc trên, bởi vì sắc mặt anh ta thay đổi khi những khổ thơ mê ly phát ra từ đôi môi mình như đoạn văn lãnh đạm trên báo; và sau khi đọc xong, anh ta đặt cuốn sách sang bên, rồi ra về mà không nhìn bất cứ ai. Nhưng Eva quay sang phía chúng tôi, và nói như thể không có chuyện gì xảy ra: ‘Những vần thơ hay tuyệt, phải không?’ Tuy vậy đôi môi cô ta run lên vì cuồng nộ. Nhưng mục đích của cô ta là gì? Phải chăng cô ta muốn chứng minh cho chúng ta thấy sự thiếu khả năng của anh ta trong việc cảm nhận những thứ xinh đẹp và tinh tế? Phải chăng cô ta muốn làm cho anh ta phải xấu hổ, trừng phạt anh ta, công khai bản chất nghèo nàn của anh ta? Hay đó chỉ là ý chợt nảy ra thiếu kiên nhẫn, nỗi khó chịu trước tính dè chừng câm lặng và những ánh mắt dò xét từ anh ta? Cô Vanleer sau đó đã nói: ‘Nếu như anh ta đọc những vần thơ đó như một thi sĩ say mê, thì cô ta sẽ tha thứ cho anh ta.’ Có thể có gì đó trong đó. Dù sao thì ông cũng nên lôi anh ta ra khỏi tình thế này, thưa ông von Crammon.”

“Tôi sẽ làm hết sức,” Crammon nói, và những nếp nhăn lo lắng xung quanh miệng ông hằn sâu hơn. Ông vuốt trán. “Dĩ nhiên tôi không biết mình ảnh hưởng xa đến đâu. Đảm bảo bất cứ điều gì cũng đều là huênh hoang rỗng tuếch. Tôi cũng nghe nói rằng anh ấy thường xuyên lui tới nơi ẩn náu của bọn lưu manh không thể chịu được với những con người không thể chịu được đủ mọi kiểu. Tôi có thể khóc khi nghĩ đến điều đó. Anh ấy là bông hoa của đàn ông hiện đại, niềm kiêu hãnh của những năm tháng dài đằng đẵng của tôi, anh ấy là muối của trái đất! Không may sao mà anh ấy lại gặp phải, ngay từ khi tôi bỏ anh ấy đi, những cơn rối loạn thần kinh nào đó, nhưng tôi cho rằng đó là do gã đáng ngờ kia, gã Ivan Becker đó.”

“Đừng nói về hắn ta! Đừng nói về Becker!” Wiguniewski gay gắt ngắt lời. “Ít nhất thì cũng đừng nói theo cách đó, tôi cầu xin và yêu cầu ông đấy.”

Crammon trợn tròn mắt, và đầu lưỡi ông hiện ra, như con ốc sên đỏ thập thò ngoài vỏ của mình. Ông nén bực và nhún vai.

Wiguniewski nói: “Dù sao thì ông cũng đã cho tôi một manh mối. Tôi không bao giờ nghĩ đến một khả năng như thế. Nó chiếu ánh sáng mới lên nhiều điều. Nhân tiện, đúng là Wahnschaffe đánh bạn với những con người đáng ngờ. Kẻ quái gở nhất trong tất cả bọn chúng là Amadeus Voss, đó là tên đạo đức giả và ham mê cờ bạc. Người ta không được kết hợp những con người như thế với Ivan Becker. Becker có thể đã dẫn anh ta lên con đường nào đó. Nếu chúng ta giả định thế, thì một số sự việc sẽ trở nên rõ ràng. Nhưng bất cứ điều gì thực sự tai hại đều đến từ Voss. Hãy cứu bạn ông khỏi hắn ta!”

“Tôi vẫn chưa gặp gã đó,” Crammon lẩm bẩm. “Điều anh nói với tôi, hoàng thân ạ, không làm tôi thực sự bất ngờ đâu. Tuy vậy, tôi cảm ơn anh. Nhưng gã vô lại ấy cứ giờ hồn! Hắn mà thoát khỏi tay tôi thì tôi không uống một giọt rượu vang chính hiệu nào nữa! Tôi sẽ không ngắm bộ ngực hấp dẫn nào nữa nếu chưa nghiền nát được thằng vô lại bỉ ổi này thành bột nhão. Vì thế nên hãy giúp tôi!”

Wiguniewski đứng lên, bỏ mặc cho Crammon lên kế hoạch trả thù.

II

Mặt trời buổi sáng cuối tháng Chín mạ vàng biển cả và đất liền, khi Crammon vào phòng Christian. Christian đang ngồi tại bàn viết cong của chàng. Những tấm vải thêu màu xanh da trời nhạt tỏa sáng trên các bức tường; hàng trăm thứ đồ đạc lộn xộn đầy trên bàn ghế. Mọi thứ đều chỉ ra rằng ông chủ của chúng đang chuẩn bị ra đi.

“Đừng bận tâm đến tôi, cậu bé thân mến à; tôi có đủ thời gian,” Crammon nói. Ông gạt những món đồ ra khỏi một cái ghế, ngồi xuống, rồi châm tẩu.

Nhưng Christian đặt cây viết của chàng xuống. “Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra với mình,” chàng tức giận nói mà không nhìn Crammon, “tôi không thể viết được hai câu mạch lạc lên giấy. Dù tôi có nghĩ về nó cẩn thận thế nào, thì khi viết ra vẫn thấy cứng nhắc và ngớ ngẩn. Ông gặp chuyện này bao giờ chưa?”

Crammon trả lời: “Có những người có mánh lới. Đầu tiên là một câu láo xược nào đó. Anh không bao giờ được ngừng hỏi: Có đúng không? Có thật không? Có xác đáng không? Cứ viết càn ra, tất cả chỉ có thế thôi. Hãy hiệu quả, dù bất cứ giá nào. Những người viết thông minh nhất thường khi lại là những gã ngu ngốc nhất. Nhưng anh đang viết thư cho ai vậy? Có vội quá không? Những lá thư thường khi có thể hoãn lại mà.”

“Không phải lần này. Đây là một lá thư khẩn cấp,” Christian trả lời. “Tôi đã nhận được thư của Stettner và không thể hiểu nổi sự trôi giạt của anh ấy. Anh ấy cho tôi biết rằng mình sắp rời bỏ quân ngũ để đi Mỹ. Trước khi đi anh ấy muốn gặp tôi thêm một lần nữa. Anh ấy sẽ lên tàu ở Hamburg vào ngày mười lăm tháng Mười. Bây giờ may sao tôi sẽ có mặt ở Hamburg vào ngày hôm đó, và tôi muốn báo cho anh ấy biết.”

“Tôi không thấy có chút khó khăn nào trong việc này cả,” Crammon nghiêm túc nói. “Tất cả những gì anh cần nói là: Tôi sẽ có mặt ở nơi đó vào ngày đó, và chờ mong hoặc hy vọng, vân vân. Người bạn trung thành hoặc chân thành hoặc thân ái của anh, vân vân. Thế anh ta sắp giải ngũ à? Tại sao vậy? Và chạy sang Mỹ à? Nhà nước Đan Mạch có gì đó mục nát sao?”

“Hình như anh ấy bị thách đấu súng, và đã từ chối lời thách đấu đó. Đó là lý do duy nhất mà anh ấy đưa ra. Anh ấy thêm rằng những sự việc đã tự tiến triển nên anh ấy buộc phải tìm kiếm một cuộc sống mới ở Tân Thế Giới. Điều đó làm tôi xúc động không dứt; tôi vẫn luôn yêu thích anh ấy. Tôi phải gặp anh ấy.”

“Tôi cũng tò mò muốn biết thực sự đã có chuyện gì xảy ra,” Crammon nói. “Tôi thấy Stettner không phải là gã dễ dàng bỏ chạy và đánh liều danh dự của mình. Anh ta là một sĩ quan gương mẫu. Tôi e đây là chuyện u ám. Nhưng tôi thấy nó mang lại cho anh một cái cớ để đi Hamburg.”

Christian giật mình. “Tại sao lại là một cái cớ?” Chàng hơi bối rối một chút. “Tôi không cần cớ gì cả.”

Crammon chồm hẳn đầu tới phía trước, tựa cằm lên tay nắm bằng ngà trên cây gậy của mình. Cái tẩu vẫn thăng bằng đầy nghệ thuật ở một bên mép, và không chuyển động khi ông nói. “Cậu bé thân mến nhất đời của tôi ơi, anh không có ý khẳng định rằng lương tâm anh không cần một động cơ nào đó khác cho chuyến đi này,” ông bắt đầu, như ông cha xưng tội sắp sử dụng những lý lẽ tế nhị để ép lời tự thú ra từ tên bất lương bướng bỉnh, “và anh sẽ không cố gắng biến ông bạn già vui tính và cũng là người anh em của linh hồn anh thành thằng ngốc đâu. Người ta nợ một người bạn một điều gì đó. Anh không nên quên dưới sự che chở và những lời hứa của ai mà anh đã bước chân vào xã hội thượng lưu, hay những sự bảo vệ mà hắn đã đề nghị - những sự bảo vệ cho trái tim và tâm trí - kẻ là tác giả và ông chủ của cuộc tiến ra sân khấu rạng ngời của anh. Ngay cả Socrates, kẻ lừa đảo và cách mạng đó, cũng nhắc lại những bổn phận như thế trên cái giường lâm chung của ông ta. Có một câu chuyện về con gà trống - loại gà trống nào đó, tôi tin vậy. Có thể trong trường hợp này câu chuyện chẳng liên quan chút nào. Không quan trọng. Tôi vẫn luôn nghĩ những người La Mã và Hy Lạp cổ đại đều có phần hơi đáng ghét. Điều quan trọng là tôi không thích tình trạng của anh, và những người yêu anh cũng không thích nó. Trái tim tôi tan nát khi thấy anh bị bêu riếu, trong khi những kẻ không thể phân biệt nổi con ngựa giống với con lừa lại nhún vai với anh. Không thể để như thế được. Tôi thà chịu cảnh chúng ta cãi vã và bắn nhau ở khoảng cách năm bước chân còn hơn. Có chuyện gì đã xảy ra với anh vậy? Chuyện gì đã đến với anh? Anh đã dừng việc thu gom da đầu để dâng lên cái đầu của chính anh chưa? Nói để anh biết, thỏ rừng và chó săn là hai loài khác nhau. Tôi hiểu mọi chuyện về con người, nhưng không được chạm đến luật lệ thiêng liêng. Anh đứng ngoài cổng như thằng ăn mày thì thật là trêu ngươi Thượng Đế. Anh từng là người chỉ cánh cửa cho những người khác; họ rên rỉ và than van đằng sau anh – và như thế là đúng. Tôi có ông chú kiểu như là một triết gia, và ông ấy từng nói: khi một phụ nữ, một luật sư, và cái bếp lò đang trong lúc nóng nhất – hãy quay lưng lại với họ. Tôi vẫn luôn làm thế, và đã giữ được bình yên cho tâm trí và danh tiếng của mình. Tôi thừa nhận có những tình huống giảm nhẹ trong trường hợp anh. Cả thế kỷ mới có một người phụ nữ như thế, và người sở hữu nàng rất có thể sẽ đánh mất lý trí. Nhưng ngay cả điều đó anh cũng không nên để bị tác động, Christian ạ. Sự tráng lệ là phần chia tự nhiên của anh: việc của anh là ban phát ơn huệ; mật ngọt trên bàn ăn của anh phải tươi mới hằng ngày. Còn bây giờ thì hãy nói cho tôi biết anh định làm gì đi nào.”

Christian vô cùng kiên nhẫn lắng nghe bài thuyết trình dài dòng nhưng khôn ngoan và giàu trí tưởng tượng trên. Thỉnh thoảng có một tia giễu cợt hay tức giận trong đôi mắt chàng. Rồi chàng lại nhìn xuống và dường như bối rối. Có khi chàng hiểu ý nghĩa những lời nói của Crammon, có khi lại nghĩ đến chuyện khác. Chàng phải cố gắng mới nhớ rõ lại được rằng con người hình như xa lạ hoàn toàn này lấy quyền gì mà can thiệp vào cuộc sống và tìm cách ảnh hưởng đến những quyết định của mình. Rồi chàng lại thấy trong lòng mình có chút dịu dàng với Crammon nhờ ký ức về các trải nghiệm chung và những cuộc chuyện trò thân mật; nhưng tất cả những điều đó dường như đã quá xa xôi và cách biệt với hiện tại.

Chàng nhìn ra ngoài cửa sổ, từ đó quang cảnh trải rộng ra đến tận chân trời nơi biển khơi và bầu trời chạm vào nhau. Ngoài xa, một đám mây trắng nhỏ trôi giạt như chiếc gối trắng, tròn. Cũng niềm dịu dàng mà chàng đã cảm thấy với Crammon, giờ đây chàng cảm thấy với đám mây bé nhỏ đó.

Và khi Crammon ngồi trước mặt mình chờ câu trả lời, thì bất thình lình chuyện về chiếc nhẫn mà Amadeus đã kể cho Christian nghe trở về với tâm trí chàng. Chàng bắt đầu: “Một ứng cử viên giáo sĩ trẻ, làm gia sư cho những đứa con của một chủ ngân hàng, bị nghi ngờ ăn cắp một chiếc nhẫn đắt tiền. Đích thân anh ấy đã kể cho tôi nghe câu chuyện này, và từ những lời nói của anh ấy tôi biết rằng chiếc nhẫn, khi anh ấy thấy nó trên bàn tay vợ ông chủ mình, đã khơi dậy nỗi thèm muốn trong lòng anh ấy. Thêm nữa anh ấy còn yêu người phụ nữ này, và sẽ hạnh phúc nếu có được thứ gì đó để nhớ đến bà ấy. Nhưng anh ấy tuyệt đối vô tội về sự biến mất của chiếc nhẫn, và một thời gian sau khi anh ấy đã rời khỏi ngôi nhà đó, thì người ta xác nhận sự vô tội này bằng cách gây chấn động nhất. Bởi vì quý bà kia đã gửi chính chiếc nhẫn đó đến cho anh ấy làm quà. Anh ấy là một cậu bé nghèo khổ, và chiếc nhẫn có ý nghĩa lớn đối với anh ấy; nhưng anh ấy đã ném nó xuống giếng, một cái giếng sâu kiểu cũ. Món đồ đắt tiền nhất mình từng có trên đời, thế mà anh ấy ném xuống giếng không do dự hay suy nghĩ gì – đó là việc mà người đàn ông này đã làm đấy.”

“Chà, được, rất được. Dù ... không, tôi không thực sự hiểu ý anh,” Crammon bất mãn nói, chuyển tẩu từ khóe miệng phải sang trái. “Chiếc nhẫn đó giúp ích gì cho một thằng ngốc nghèo khổ chứ? Việc nhận thứ đến với mình một cách tế nhị và kín đáo như thế rồi ném nó xuống giếng mới lố bịch làm sao! Một chiếc hộp hay ngăn kéo không hay hơn sao? Trong đó ít nhất nó còn có thể được tìm thấy lại. Thật là trò ranh mãnh vụng về.”

Cách Crammon ngồi đó bắt chéo chân, để lộ đôi vớ ngắn bằng lụa xám, có vẻ gì đó thật là an toàn và phè phỡn, đến mức làm người ta liên tưởng đến một con vật đang sưởi nắng mặt trời và tiêu hóa thức ăn. Nỗi chán ghét những lời nói của ông trong lòng Christian đã lắng xuống, và được sự dịu dàng hiền hòa, hầu như thương xót thế chỗ. Chàng nói: “Từ bỏ thật là khó khăn. Ông có thể nói chuyện và tưởng tượng về việc đó; ông có thể bắt buộc và thậm chí tin mình có khả năng đó. Nhưng khi khoảnh khắc từ bỏ đến, thật là khó, thật là hầu như không thể từ bỏ ngay cả những điều khiêm nhường nhất.”

“Đúng, nhưng tại sao anh lại muốn từ bỏ?” Crammon khó chịu lẩm bẩm. “Chính xác là anh có ý gì với hai chữ từ bỏ? Nó dẫn đến điều gì vậy?”

Christian nói hầu như với chính mình: “Tôi tin rằng người ta phải ném chiếc nhẫn của mình xuống giếng đấy.”

“Nếu như bằng điều đó anh có ý định quên nữ hoàng Mab tuyệt vời của chúng ta, thì tất cả những gì tôi phải nói là – Chúa giúp anh đạt được mục đích của anh,” Crammon trả lời.

“Người ta ôm và bám chặt vì sợ bước chân vào điều chưa biết,” Christian nói.

Crammon im lặng nhăn trán trong ít phút. Rồi ông hắng giọng và hỏi: “Anh đã bao giờ nghe nói đến phép chữa vi lượng đồng căn chưa? Tôi sẽ cắt nghĩa cho anh hiểu nó có nghĩa là gì. Nó có nghĩa là chữa sự thích bằng sự thích. Ví dụ nếu như có món ăn nào đó không thích hợp với anh một cách kinh khủng, và tôi trao cho anh một môn thuốc, để chữa bệnh, nó sẽ làm cho anh phát ốm thậm chí còn kinh khủng hơn cả món ăn kia – thì đó sẽ là phương pháp chữa bệnh bằng vi lượng đồng căn.”

“Thế ông muốn chữa bệnh cho tôi đấy à?” Christian hỏi, và mỉm cười. “Khỏi bệnh gì và bằng cách nào vậy?”

Crammon nhích ghế của mình lại gần ghế Christian hơn, đặt một bàn tay lên hai đầu gối chàng, và lém lỉnh thì thầm: “Tôi có một món dành cho anh, cậu bé thân mến à. Tôi đã tiến hành một cuộc tìm kiếm tuyệt vời. Có một phụ nữ cùng cung hoàng đạo với anh, như những thầy bói vẫn nói. Có người khao khát anh, bị anh hớp hồn, và nóng lòng muốn biết anh đến chết. Và đó là một thứ gì đó hoàn toàn khác, một loại mới, một thứ gì đó châm chích và hài hước, vô định, nhạy cảm, một chút bất nhã và bé nhỏ và không xinh đẹp, nhưng vô cùng hấp dẫn. Cô ấy đến từ tầng lớp tư sản béo phị nhất, nhưng chiến đấu bằng cả hai bàn tay và hai bàn chân chống lại số phận của viên ngọc trai trong máng ăn. Đó là cơ hội làm việc, giải trí, và nghỉ ngơi của anh. Đó sẽ không phải là một cuộc tình dài lâu, - một khúc giải lao giữa những kỳ nghỉ của cô ấy, nhưng hữu ích, và, về mặt vi lượng đồng căn, chắc chắn sẽ chữa được bệnh. Bởi vì nghe đây: Ariel, nàng là phép màu, một vì sao, thức ăn của các vị thần. Anh không thể sống bằng những thứ thực phẩm như thế được; anh cần bánh mì kia. Con trai ta à, hãy xuống khỏi ngọn tháp cao vời nơi anh vẫn tìm kiếm miraculum coeli [Thiên đường phép màu - tiếng Latinh – ND] từng bùng cháy trên ngực anh. Hãy gạt nó ra khỏi tâm trí; xuống đi, và hãy hài lòng với sự chết. Bảy giờ đêm nay trong phòng ăn tối ở khách sạn de la Plage. Thỏa thuận thế nhé?”

Christian bật cười, và đứng dậy. Trên bàn có lọ đầy hoa cẩm chướng trắng. Chàng lấy ra một bông, cài vào khuy áo Crammon.

“Có thỏa thuận như thế hay không nào?” Crammon nghiêm khắc hỏi.

“Không, bạn thân mến ạ, trong đó chẳng có gì cho tôi cả,” Christian trả lời, cười càng nồng nhiệt hơn. “Hãy giữ khám phá đó cho ông.”

Những mạch máu trên trán Crammon phồng lên. “Nhưng tôi đã hứa sẽ đưa anh đến rồi, và anh không được bỏ mặc tôi trong cơn nguy khốn này.” Ông đang ở trong một cơn phẫn nộ. “Tôi không đáng bị đối xử thế này, sau tất cả những sự coi thường mà anh đã bắt tôi phải chịu trong nhiều tháng. Anh trao quyền cho tên lang thang vô danh tiểu tốt làm kinh ngạc cả thế giới, và tàn nhẫn gạt sang bên người bạn già đã được thử thách. Điều đó làm người ta tổn thương, cay đắng và tức giận. Tôi xong rồi.”

“Bình tĩnh nào, Bernard,” Christian nói, và cúi xuống nhặt những bông hoa đã rơi xuống sàn lên. Và khi chàng cắm lại chúng vào lọ, thì hình ảnh bộ mặt trắng của Amadeus Voss hiện lên với chàng, cho thấy linh hồn đang chảy máu và tê liệt vì ham muốn và sự từ bỏ của hắn, ngay cả khi nó hướng về phía người đàn bà Walloon to béo, rầu rĩ kia. “Tôi không hiểu sự bướng bỉnh của ông,” chàng tiếp tục. “Tại sao ông không mặc kệ tôi? Ông không biết rằng tôi mang bất hạnh lại cho tất cả những người yêu tôi sao?”

Crammon giật mình. Dẫu cho nụ cười lập lờ của Christian, thì ông vẫn cảm thấy cơn đau nhói bất thình lình của nỗi sợ hãi mê tín. “Ngu ngốc!” ông càu nhàu. Ông đứng dậy và lấy mũ, và vẫn cố gắng bóp nặn từ Christian ra một lời hứa hẹn cho buổi tối. Đúng lúc đó vang lên tiếng gõ cửa, và Amadeus Voss bước vào.

“Tôi xin lỗi ông,” hắn lắp bắp, bẽn lẽn nhìn Crammon, người ngay lập tức có thái độ thù địch. “Tôi chỉ muốn hỏi anh, Christian ạ, có phải chúng ta sắp đi không. Có cần thu xếp hành lý không? Chúng ta phải biết nên làm gì.”

Crammon giận dữ. “Một thằng vô lại mà dám nói giọng đó,” ông nghĩ. Ông hầu như không thể tự ép mình làm mặt lịch sự là việc trở nên không thể tránh khỏi khi Christian, một cách hoàn toàn do dự, giới thiệu hai người với nhau.

Amadeus cúi chào như ứng viên ứng tuyển vào vị trí khiêm nhường nào đó. Hai con mắt hắn sau đôi tròng kính dán chặt vào Crammon, giống như những chiếc van của bơm khí. Hắn thấy Crammon đáng ghét ngay lập tức; nhưng nghĩ không những cần phải giấu cảm xúc này mà còn phải đóng vai trò một kẻ khúm núm nữa. Mối căm ghét của hắn quá trực tiếp và dữ dội, đến mức hắn sợ để lộ ra quá sớm, và tự mình đánh mất cơ hội được chuyển nó thành hành động nào đó.

Crammon tìm cách tấn công. Ông tỏ thái độ khinh bỉ với Voss, nhìn hắn như quần áo trên tường, không trả lời cũng không lắng nghe những lời hắn nói, thong thả nán lại không chịu về, và không để ý đến vẻ căng thẳng của Christian. Voss tiếp tục đóng vai trò mình đã chọn. Hắn đồng ý và cúi đầu, cọ mũi chiếc giày ống này vào đế chiếc kia, nhặt cây gậy của Crammon lên khi ông đánh rơi nó; nhưng vì hắn dường như quyết tâm không chịu là người nhượng bộ trước, nên Crammon cuối cùng phải thương hại vẻ ngạc nhiên và đau khổ câm lặng trên gương mặt Christian. Ông vẫy bàn tay trái đeo găng rất đẹp của mình và rút lui. Ông dường như phồng lên vì phẫn nộ như con ếch. “Nhẹ nhàng nào, Bernard,” ông thầm nhủ; “hãy bảo vệ phẩm giá của mày, đừng giẫm lên đống phân dưới chân. Tin tưởng vào Chúa là người đã nói: Báo thù là việc của ta.” Trên đường ông gặp một con chó nhỏ, và đã thi hành một cú đá với nó, thế là con thú kêu lên ăng ẳng rồi chui tọt xuống một căn hầm mở.

Christian và Voss mặt đối mặt qua bàn trong im lặng. Voss lôi một bông hoa ra khỏi lọ, xé nhỏ đài nó ra bằng những ngón tay gầy guộc của mình. “Ra đó là ngài von Crammon,” hắn lẩm bẩm. “Tôi không biết vì sao mình lại cảm thấy thích bật cười. Nhưng không thể đừng được. Tôi cười đây.” Và hắn khe khẽ cười rúc rích một mình.

“Ngày mai chúng ta sẽ lên đường,” Christian nói, chàng đưa khăn tay lên miệng, hít thở hương thơm tinh vi gợi lên trong lòng chàng quá nhiều dịu dàng và những hình ảnh đang dần dà biến mất.

Voss cầm lên một bông hoa, xé nó ra làm đôi, chăm chú nhìn chòng chọc vào các thành phần, và nói: “Từng thớ một, từng tế bào một. Tôi chán cuộc sống lười biếng và ăn bám này rồi. Tôi muốn chặt thân xác con người và mổ xẻ xác chết. Chắc người ta có thể tìm được chỗ mềm yếu và thô tục. Người ta phải tìm kiếm sự sống tại nguồn của nó và cái chết tại gốc của nó. Tài năng của một bác sĩ giải phẫu khuấy động trong tôi. Tôi từng muốn trở thành nhà thuyết pháp vĩ đại như Savonarola; nhưng thời buổi này mà cố gắng làm thế thì thật là khinh suất. Tốt hơn người ta nên bám vào thân xác con người; linh hồn họ sẽ khiến ta phải tuyệt vọng.”

“Tôi tin rằng người ta phải làm việc,” Christian nhẹ nhàng nói. “Làm việc gì không quan trọng. Nhưng người ta phải làm việc.” Chàng quay về phía cửa sổ. Đám mây tròn, trắng biến mất rồi; biển bạc đã nuốt chửng nó.

“Bây giờ anh mới biết điều đó sao?” Voss cười nhạo. “Tôi thì biết lâu rồi. Đường dẫn xuống địa ngục được lát bằng công việc; và chỉ có địa ngục mới thiêu đốt chúng ta được sạch sẽ. Thật tốt vì anh đã học được nhiều đến thế.”

Thêm vào giỏ hàng thành công