favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XIV)

RUTH VÀ JOHANNA

VII

Cô nói với Christian, nhưng chàng nói việc cô phục vụ như y tá ban đêm là không cần thiết. Chàng không thể tự ép mình giao cho cô một nhiệm vụ như thế được. Sự thông suốt bên trong và tính chín chắn của cô khiến chàng kinh ngạc. Tuy vậy, chàng thấy cô bé trong cô lại càng nên được miễn thứ hơn vì cô không muốn miễn thứ cho chính mình.

Bản thân cô cũng nghĩ về chàng rất nhiều, và đi đến những kết luận dứt khoát nó cách sự thật không quá xa. Chắc chắn là cô đã nghe những lời bàn tán trong nhà, cả từ Karen Engelschall lẫn những người khác, nhưng trí tưởng tượng và bản năng của chính cô mới dạy cô được nhiều nhất. Điều có vẻ bí ẩn với tất cả những người khác lại hiện ra trước mắt cô một cách giản đơn và cần thiết. Điều hiếm có và tốt đẹp không bao giờ làm cô kinh ngạc; tầm thường và ti tiện kia.

Ban đầu cô rất sợ Karen. Cảnh nghèo khổ truyền kiếp của gia đình khiến cô luôn phải tiếp xúc gần gũi với những thứ xấu xí ở dưới đáy xã hội, nhưng cô chưa từng gặp người đàn bà nào như Karen – suy đồi đến thế và hoang dại đến thế. Lần nào đến gần cô ta cô cũng phải vật lộn một cách đau đớn.

Nhưng cô đã giúp Karen sinh con, và sáng hôm sau đêm đó đã sang phòng Karen khi cả Christian cũng có mặt ở đó. Cô trông thấy chàng mang cốc rượu vang trên đĩa đất nung lại cho người đàn bà đó. Chàng mỉm cười vụng về, cử chỉ lóng ngóng, và cô hiểu ngay mọi chuyện. Cô biết chàng từ đâu đến còn người đàn bà kia từ đâu đến, chuyện gì đã đưa họ đến với nhau và tại sao họ lại sống như đang sống. Sự thật hiện ra trước mắt cô quá đẹp đến mức cô đỏ mặt vội vàng bỏ ra khỏi phòng, vì sợ mình sẽ bật cười sung sướng, và có vẻ ngớ ngẩn và ngu ngốc.

Từ đó trở đi cô không còn nhìn Karen một cách rụt rè hoặc ác cảm nữa, mà với tình cảm chị em hoàn toàn tự nhiên, ít nhất là đối với cô.

Rồi sự việc những viên ngọc trai kia đến. Cô định giá trị của chúng qua nỗi ngất ngây sôi nổi của Karen, qua những cái vuốt ve vô cùng cẩn thận của cô ta, và qua ánh lấp lánh bệnh hoạn trong đôi mắt cô ta. Nhưng điều làm cô ấn tượng nhất không phải là những viên ngọc trai, không phải là Karen hay niềm hạnh phúc ngây ngất của Karen, mà là phỏng đoán của cô về hành động của Christian và những động cơ của nó.

Một đêm thứ Bảy, sau khi Isolde Schirmacher đã đi chơi với một trong những thợ cả của cha cô, thì Christian kéo chuông căn hộ nhà Hofmann, xin Ruth hãy đến điện thoại công cộng ở gần đó gọi bác sĩ. Karen rõ ràng là đang yếu đi. Cô ta không than vãn đau đớn, nhưng sắp kiệt sức đến nơi rồi. Ruth vội vàng chạy đến nhà bác sĩ Voltolini trên phố Gleim mà cô biết, rồi đưa ông ta trở về cùng với mình. Ông bác sĩ khám cho Karen. Ông ta thẳng thắn bày tỏ sự không chắc chắn của mình về những triệu chứng của cô ta và đưa ra vài lời khuyên chung chung. Sau đó Ruth và Christian cùng nhau ngồi bên cạnh giường. Karen chòng chọc nhìn lên trần nhà. Vẻ mặt cô ta thay đổi liên tục; cô ta thở đều nhưng nhanh. Thỉnh thoảng cô ta lại thở dài, những lúc khác lại nhìn Christian, nhưng chẳng trông thấy chàng. Một hai lần cô ta chăm chú nhìn Ruth một cách thấm thía.

Hôm sau Christian sang tìm Ruth. Cô chỉ có một mình, cô thường chỉ có một mình. Cô cầm quản bút trên tay khi mở then cánh cửa mở thẳng ra hành lang chung. Đôi mắt cô vẫn còn chìm đắm vào công việc mình đang làm. Nhưng khi Christian hỏi phải chăng mình đang làm phiền cô, thì cô trả lời rằng “Không” với vẻ chắc chắn lặng lẽ.

Chàng chìa bàn tay mình ra. Bằng một cử chỉ dịu hiền, nhịp nhàng, cô đặt bàn tay mịn màng, trẻ trung của mình vào bàn tay chàng.

Cô lém lỉnh. Cái gì thuộc con người cô cũng nhanh nhẹn – dáng đi của cô, ánh mắt của cô, lối nói, quyết định và hành động của cô.

“Tôi phải thấy nơi anh sống,” cô thông báo cho chàng biết, và sáng hôm sau cô xuống thăm phòng chàng. Cô hơi hổn hển một chút, vì đã chạy xuống cầu thang theo thói quen. Cô trung thực nhìn quanh, che giấu thái độ nghiêm túc dưới cách xử sự vui vẻ, sống động. Với những động tác thơ ngây như của một đứa trẻ, cô ngồi lên mép bàn, lấy từ trong túi mình ra một quả táo, rồi bắt đầu nhấm nháp. Cô nói mình đã nói chuyện Karen với một y tá mà mình biết ở bệnh viện đa khoa, và bà này đã hứa rằng sẽ đến khám cho Karen.

Christian cảm ơn cô. “Anh không tin can thiệp y tế có thể giúp được gì nhiều cho cô ấy,” chàng nói.

“Tại sao không?”

“Anh không biết. Nhưng trong trường hợp của Karen, tự nhiên theo đuổi một phương pháp rất hợp lý.”

“Có thể anh đúng,” Ruth trả lời. “Nhưng nghe như anh không mấy tin vào khoa học. Phải không? Thế sao anh lại học y?”

“Đó là tai nạn khó xảy ra nhất. Có người đã khiến anh chú ý đến nó như một trong một trăm cánh cửa mở ra ngoài trời. Anh thấy nó có vẻ rất mau có ích. Nó đề ra một mục tiêu xác định và liên quan đến con người – liên quan đến con người!” Có những lý do thích đáng hơn đã khuấy động lòng chàng, những lý do mà chàng có thể nói với cô, nhưng chưa sẵn sàng, thế nên chàng đã dùng những lời lẽ tầm thường, sáo rỗng trên.

“Vâng, con người,” Ruth nói, sắc sảo nhìn chàng. Lát sau cô nói thêm: “Anh hẳn phải biết rất nhiều; trong anh hẳn phải có rất nhiều điều.”

“Em nói thế là có ý gì?”

Chỉ duy có trước mặt cô chàng mới thấy mình hoàn toàn không cần phải giả vờ hay tự vệ. Trong cô có yếu tố trong sáng nó thẳng thắn và nhiệt tình, nó sống và làm rung động linh hồn người khác. Những bản năng trong cô có sự tự do và tính chất chắc chắn, và toàn bộ cuộc sống nội tâm tỏa sáng không thể cưỡng nổi. Sỏi đá cũng trao linh hồn mình cho cô. Cô là bạn thân của những thứ vô tri vô giác. Cô không quên cả lời nói lẫn hình ảnh, và tính nóng lòng muốn truyền đạt điều mình cảm thấy và lòng can đảm dám thừa nhận và đi theo chính trái tim mình của cô bao bọc cô trong bầu không khí cũng rõ ràng như hương thơm ngào ngạt và chữa được bệnh của hoa cỏ mùa Xuân.

Cuộc sống và quy luật của nó dường như đơn giản với cô. Những vì sao quy định số phận con người; số phận đó tự để lộ mình qua những đam mê của dòng máu chúng ta; tâm trí hình thành, chiếu sáng và gột rửa quá trình đó.

Cô kể cho Christian nghe về cha mình.

David Hofmann là một người Do Thái điển hình thuộc giai cấp trung lưu thấp tới từ miền Đông của đất nước. Ông ta từng là thương gia, nhưng việc làm ăn thất bại, nên bỏ nhà ra đi làm lại cuộc đời. Nhờ lao động bền bỉ, ông ta để dành được vài ngàn mark; nhưng một tên lừa đảo đã cuỗm mất khoản tiền tiết kiệm đó, thế là trong nghèo khổ và nợ nần, ông ta lần thứ ba bắt đầu lại cuộc chiến. Tính cần cù của ông ta thật là không biết mệt mỏi, tính kiên nhẫn của ông ta thật là tuyệt diệu. Từ Breslau ông ta chuyển đến Posen, từ Posen đến Stettin, rồi đến Lodz, rồi từ Lodz đến Konigsberg. Suốt mùa Đông ông đi trên những con đường đồng quê từ làng này tới làng nọ và từ ngôi nhà này đến ngôi nhà kia. Ông ta đã thấy vợ và đứa con nhỏ nhất của mình ốm rồi chết, và cuối cùng thì đặt hy vọng sau chót của mình vào cuộc sống và những cơ hội ở thủ đô. Mười tám tháng trước ông ta đã đến Berlin cùng với Ruth và Michael, và cả ở đây ông ta cũng phải đứng suốt ngày đêm. Với tâm trí suy kiệt và thân hình ốm yếu, ông ta vẫn mơ về một phần thưởng và thành công nào đó để xoa dịu những năm tháng cuối đời đang đến gần của mình. Nhưng thất bại là số phận của ông ta, và ông ta thường tuyệt vọng khi suy nghĩ.

Cô kể cho Christian nghe về em trai mình.

Michael lầm lì. Cậu không bao giờ cười, cậu không có bạn, không tìm kiếm trò tiêu khiển nào cả, và lảng tránh xã hội loài người. Cậu đau khổ vì mình là người Do Thái, lo lắng co mình lại trước nỗi căm ghét mà cậu nghi ngờ là có ở mọi nơi, đẩy lùi mọi sự làm thân, và cảm thấy tất cả mọi hoạt động đều vô ích. Buổi sáng cậu nằm hút thuốc nhiều giờ liền trên giường với hai bàn tay kê dưới đầu; rồi cậu đi tản bộ đến một quán ăn nhỏ nơi cậu gặp cha để ăn trưa. Lúc trở về cậu lảng vảng trong sân, trong những ngõ hẻm và tại cổng những nhà máy, bên cạnh những dãy hàng rào hoặc các quán rượu. Cậu quan sát cuộc sống với cái mũ kéo sụp xuống và đôi vai lom khom. Rồi cậu về nhà ngồi quanh quẩn, trầm ngâm hút thuốc. Buổi tối cậu cố gắng tránh không để mình bị trông thấy, lúc Ruth đang ngồi làm việc hay cha họ đang thở dài vì mệt mỏi.

Đôi mắt cậu, như đang chăm chú nhìn từ một nơi sâu thẳm, có màu nâu vàng, và mống mắt, giống như mắt Ruth, tương phản mạnh mẽ với màu trắng sáng của nhãn cầu.

Ruth nói: “Hôm trước em tình cờ trông thấy nửa tá tên Ả Rập lang thang đang đi theo sau nó và hét lên: ‘Thằng Do Thái!’ Nó khom lưng bước đi, đầu cúi gằm. Mặt nó trắng bệch, nó co rúm lại mỗi khi nghe thấy những lời trên. Em nắm lấy bàn tay nó, nhưng nó đẩy mạnh em ra. Tối hôm đó cha phàn nàn công việc làm ăn chẳng ra sao. Bất thình lình Michael nhảy bật dậy, và nói: ‘Chuyện đó quan trọng gì? Cha cố gắng làm gì trong một thế giới như thế này? Nó thật đáng tởm. Cứ chết đói và xong chuyện với nó cho rồi. Tự hành hạ mình làm gì?’ Cha thất kinh, và không trả lời. Ông nghĩ Michael ghét ông vì ông không thể giúp gia đình thoát khỏi cảnh nghèo khổ và đói khát. Em đã dùng hết lời để khuyên ông đừng nghĩ như thế nữa, nhưng ông tự cảm thấy mình có lỗi, có lỗi với bọn em, những đứa con của ông; và điều đó thật khó khăn, khó khăn hơn cả cảnh cơ hàn.”

Cô cảm thấy bổn phận của mình là phải động viên người đàn ông khốn khổ kia, người tự trách mình, và tái sinh hy vọng cho ông. Cô an ủi ông bằng tính bình thản đáng yêu của mình. Niềm vui của cô là gạt bỏ khó khăn khỏi con đường ông đi, và rồi tuyên bố rằng chúng chẳng đáng kể.

Khi mới chỉ là cô bé bảy tuổi, cô đã phải chăm sóc mẹ trong trận ốm cuối cùng của bà. Cô làm việc như người hầu, nấu ăn tại bếp lò lớn, khi hầu như chưa với tới những nắp ấm. Cô đã trông em, lo toan việc vặt, lần lữa với chủ nợ, và xin cảnh sát cho hoãn thi hành án. Cô đã thu tiền đến hạn, mỗi lần chuyển chỗ ở lại thu xếp cho ngôi nhà được ngăn nắp, và giành được cảm tình của những con người mà gia đình cô phải lệ thuộc. Cô mạng vá đồ đạc, giặt giũ quần áo, gạt lo lắng đi, làm quên những lời lăng mạ, mang lại chút niềm vui trong những giờ phút đen tối nhất. Cô vẫn tìm được ngọt ngào trong đời, ngay cả khi nó tràn trề cay đắng.

Christian hỏi cô đang làm gì. Cô trả lời rằng mình đang chuẩn bị nhận bằng tốt nghiệp. Cô được cắt giảm mọi chi phí ở trường trung học. Để giúp cha, người mà thu nhập đều đều sụt giảm, cô đi làm gia sư. Cô không ngại làm việc đến tận khuya; chỉ cần ngủ năm tiếng là cô đã sảng khoái và phục hồi được sức lực. Ăn sáng xong cô dọn dẹp phòng ốc và bếp núc, rồi lên đường đi làm với dáng điệu và sắc mặt như thể đó là chuyến đi dạo chơi vui vẻ. Cô mang bữa chiều của mình trong túi. Nếu như nó quá thanh đạm, vào lúc chiều muộn cô sẽ chạy đến một quán ăn tự phục vụ.

Một tối cô trở về từ quán ăn từ thiện, nơi một tuần hai lần cô đến giúp phục vụ những bữa ăn trong nửa giờ. Cô kể cho Christian nghe về những con người mà mình quen trông thấy ở đó - những con người bị thành phố lớn chinh phục. Cô bắt chước những điệu bộ và vẻ mặt, kể lại những mẩu chuyện mình tình cờ nghe lỏm được. Cô miêu tả lại cho chàng thấy vẻ tham lam, ghê tởm, khinh bỉ, và xấu hổ mà mình đã trông thấy. Sự quan sát của cô chính xác một cách kỳ diệu. Dịp sau Christian đi theo cô, nhưng chỉ trông thấy rất ít, hầu như chẳng thấy gì. Chàng nhận thấy những con người trong những bộ quần áo tồi tàn, rách rưới, những con người ngốn ngấu bữa ăn khốn khổ mà chẳng thấy ngon miệng gì, nhúng cùi bánh mì vào súp, và len lén liếm thìa sau khi đã múc miếng thức ăn cuối cùng. Có những bộ mặt hốc hác và những đôi mắt đờ đẫn, những cái trán như bị sức ép của hơi nước đập bẹp, và trên tất cả những điều đó là vẻ vô hồn như của một cỗ máy đã bị vứt bỏ. Christian khó chịu như khi đọc một lá thư được viết bằng ngôn ngữ xa lạ, và chàng bắt đầu hiểu mình đã học cảm và thấy được ít thế nào.

Dù chàng không hề cố gắng lôi kéo sự chú ý về mình, và ban đầu trông như thể một kẻ lang thang khác từ ngoài phố bước vào, nhưng trong gian phòng vẫn xuất hiện một chấn động lạ thường. Nó kéo dài không quá ba giây, nhưng Ruth đã cảm thấy được nó. Cô đang múc rau ra từ cái vạc khổng lồ rồi cho vào một trăm hai mươi cái đĩa nằm trong một cái mâm to gấp bốn lần bình thường. Cô ngạc nhiên nhìn lên. Cô thấy gương mặt cao quý, lịch sự một cách hầu như vô lý của Christian, và giật mình. Cô cảm nhận được sự tỏa ra của một nguồn sức mạnh lang thang vô mục đích trong không khí và bị chôn vùi trong linh hồn bởi sự sáng rõ huyền bí. Cô cúi đầu xuống cái vạc đang bốc hơi, khiến cho mái tóc xõa xuống hai má, và lại tiếp tục múc rau ra. Nhưng cô nghĩ về nhiều sinh linh bất hạnh chờ mình vào một giờ nào đó trong một ngày nào đó – nhưng người đàn ông và đàn bà đau khổ, bối rối, suy sụp - những người cô muốn giúp đỡ một cách nồng nhiệt đến thế, nhưng với họ cô không bao giờ có thể là hay tặng được cái phép màu nó bất thình lình lộ ra trong sự chấn động hoàn toàn nhưng nhất thời kia.

Cô nghĩ trong niềm hăng say hoang dại xa lạ với bản chất mình: “Người ta phải quỳ xuống và thu gom tất cả linh hồn mình ...”

Một trăm hai mươi cái đĩa thiếc đã được múc đầy.

Cô nghĩ về cảnh khốn khổ của mình. Trong ngôi nhà dành cho người mù có một cô gái trẻ mà cô đọc sách cho nghe vào các buổi tối Chủ Nhật. Có một ngôi nhà dành cho người không nơi nương tựa trên phố Acker. Cô kiểm tra những người ở đó rồi xin những người đàn ông và đàn bà từ thiện đến đó để thuê cô giúp việc giúp đỡ họ. Ở Moabit cô tình cờ gặp một người đàn bà ẵm một đứa bé trong lòng; cả hai đều sắp chết đói. Cô cứu họ, tìm công việc và nơi ẩn náu cho người đàn bà, và mang đứa bé đến ngôi nhà dành cho trẻ sơ sinh. Nhưng những việc bề ngoài như thế là chưa đủ đối với cô. Cô mưu cầu sự thành lập mối quan hệ giữa người với người và món quà được giãi bày tâm sự. Cô viết thư giùm người khác, làm trung gian giữa những người có cuộc đời đe dọa bị chia lìa, và bằng cách đó, bằng cách trao tặng chính con người mình đó, mà cô có được lòng tận tâm cuồng tín của bà mẹ trẻ kia.

Cô biết tên nhiều người đang gặp nguy hiểm lớn, và biết nhiều gia đình vô cùng thiếu thốn. Có lần những đứa trẻ nào đó co ro trong góc tại một cuộc họp mặt xã hội chủ nghĩa dành cho phụ nữ khuấy động mối quan tâm trong lòng cô. Lần khác sự tình cờ đưa cô đến nhà một công nhân bãi công. Cô có mặt lúc người ta lôi một người đàn bà khốn khổ lên khỏi dòng kênh, và vội vàng đến gặp gia đình người tự sát. Trên đường từ chỗ làm gia sư đến bệnh viện để làm việc từ thiện, cô gặp một sinh viên bị đuổi học tên là Jacoby tại cái bàn nhờn mỡ trong một tiệm cà phê, nơi anh ta cầu xin cô hãy đến gặp mình. Bạn xấu và nghèo túng đang đe dọa hủy hoại anh ta. Cô tranh luận với anh ta về những niềm tin, nguyên tắc và bạn bè của anh ta, và thuyết phục được anh ta lấy lại lòng can đảm và cố gắng thêm một lần nữa.

Có một thợ máy tên là Heinzen sống với gia đình trên con phố song song với phố nhà cô. Một tai nạn ở nhà máy đã cướp đi của người đàn ông này cả hai chân, và cú sốc thần kinh đáng sợ đó đã khiến cho ông ta rơi vào tình trạng bại liệt. Ông ta thường nằm trong trạng thái co giật dữ dội. Một hôm, có người hàng xóm bị thấp khớp sang thăm; và ông này nhận thấy khi Heinzen chạm vào bộ phận cơ thể nào của mình thì cơn đau ở đó lập tức giảm bớt ngay. Tin đồn lan ra như lửa. Người ta nói đến phép màu chữa bệnh từ tính, và rất nhiều người ốm, cả đàn ông lẫn đàn bà, đã đến gặp Heinzen để được chữa bệnh. Ông ta không lấy tiền họ; nhưng những người tin - số này tăng lên hằng ngày - tặng thức ăn và những món quà khác cho vợ ông ta.

Ruth nghe nói đến việc này. Cô đến căn hộ của Heinzen. Cô tràn đầy những điều mình được trông thấy, và miêu tả các ấn tượng của mình cho Christian nghe một cách sống động.

Christian băn khoăn nhìn cô. “Ruth,” chàng nói, “ôi Ruth bé bỏng, đó là những vấn đề rất khó khăn. Nếu như em đã bắt đầu bị chúng thu hút, thì cuộc đời sẽ trở nên quá ngắn ngủi. Anh vẫn luôn nghĩ rằng nếu một người thành công trong việc hiểu hết được dù chỉ duy nhất một linh hồn người khác thôi, thì như thế là người đó đã biết rất nhiều rồi và rất có thể tạm được hài lòng. Nhưng cuộc sống giống như biển cả vậy. Em không phải nghĩ về nó mỗi phút sao? Và làm sao lúc nào em cũng rạng ngời vậy? Anh không hiểu nổi điều đó đấy.”

Ruth nhìn vào khoảng không bằng đôi mắt sáng rực. Rồi cô đứng dậy, lấy từ kệ sách duy nhất của mình ra một quyển sách mỏng màu vàng, lật đến trang quen thuộc, rồi đọc lớn lên bằng giọng nhấn mạnh như trẻ thơ: “Về niềm vui của những con cá. Chuang-tse [Trang Tử, triết gia thời Chiến Quốc ở Trung Hoa – ND] và Hui-tse đứng trên cây cầu bắc qua sông Hao. Chuang-tse nói: ‘Xem những con cá lao đi kìa. Đó là niềm vui của chúng đấy.’ ‘Ngài đâu phải cá,’ Hui-tse nói, ‘làm sao biết thế nào mới làm chúng vui?’ Rồi ông ta nói tiếp: ‘Tôi không giống ngài và không biết ngài, nhưng tôi biết điều này, rằng ngài không phải cá nên không biết gì về chúng cả.’ Chuang-tse trả lời: ‘Chúng ta hãy quay trở lại câu hỏi của trên ngài, đó là: Làm sao ta biết thế nào mới làm chúng vui? Thực ra ngài đã biết rằng ta biết rồi thế mà vẫn còn hỏi. Nhưng không sao. Ta biết vì cũng thấy vui sướng khi ở dưới nước.’”

Christian trầm ngâm suy nghĩ về câu truyện ngụ ngôn trên.

“Anh chứ không phải ai khác, không biết điều đó vì cũng thấy vui sướng khi ở dưới nước sao?” Ruth hỏi, chồm đầu tới phía trước để tìm ánh mắt chàng.

Christian mỉm một nụ cười không chắc chắn.

“Mai anh sang nhà ông Heinzen với em nhé?”

Christian gật đầu và lại mỉm cười. Bất thình lình chàng đã hiểu thái độ của người đang ngồi bên cạnh mình.

VIII

Hai giờ sáng Christian mới đứng dậy khỏi cái bàn trong phòng Karen và đóng những quyển sách của mình lại. Chàng cứ để nguyên quần áo mà đi đến sofa rồi nằm xuống. Lúc chập tối Karen đã lên cơn sốt dữ dội. Bà bác sĩ mà Ruth mời đến đã tới lúc trưa, và nói về bệnh lao xương.

Có con mèo trắng nhỏ nằm cuộn tròn trên cái ghế gỗ bên cạnh lò. Ít hôm trước nó đã vào đây, và biến nơi này thành nhà mình vì không bị ai đuổi đi. Christian vốn rất ghét mèo. Chàng dừng lại một lát suy nghĩ không biết có nên đuổi nó đi không. Chàng nghĩ lại sau khi quan sát con vật đó.

Ruth, ôi Ruth bé bỏng ... Những chữ đó chạy qua đầu chàng.

Karen đã khó ngủ. Bắp thịt căng thẳng trên bộ mặt u ám của cô ta. Có một giấc mơ đang thịnh nộ sau trán cô ta. Tiếng hét sợ hãi đang tập trung lại trong họng.

Ôi giấc mơ đó! Cô ta đứng trước kho thóc có ô cửa sổ nhỏ trên mái nghiêng. Có một người đàn ông và một người đàn bà vừa chui vào qua ô cửa sổ đó. Cô ta biết họ chui vào làm gì ngay. Có hai thằng bé đứng trong bóng tối, nửa người bị che khuất, và điều khiến cho người nằm mơ tức giận là chúng đang hăm hở lắng tai nghe. Bản thân cô ta cũng khổ sở vì nỗi thèm muốn tình dục và căm ghét dâng lên trong lòng người ta khi thấy người khác cuồng nhiệt ái ân. Máu cô ta rạo rực còn tim thì rộn ràng. Thình lình kho thóc dường như xoay tròn, hoặc chính cô ta vô tình thay đổi vị trí. Kho thóc mở ra; cả một bức tường đã biến mất. Nhưng cặp đôi kia không còn ở trên, nơi họ đã vào; mà ở dưới vực thẳm. Người đàn ông vẫn mặc nguyên quần áo, nhưng chẳng trông thấy gì của người đàn bà trừ đôi tất dài đen ở trong rơm. Từ cả hai người tỏa ra thứ gì đó ghê tởm không thể tả - làn khí nóng hổi, ngòn ngọt. Hai thằng bé lao vào nhau, như nhảy điệu của thánh Vitus. Rồi Karen cảm thấy thân xác mình đang phân rã. Cô ta không còn là Karen nữa; cô ta là làn khí độc dâm dật kia, là người đàn bà đang ở bên cạnh người đàn ông nọ. Cô ta đã biến mất trong rơm, trong làn ánh sáng nâu đỏ nhạt, trong đôi tất dài đen; và trong khi nằm ở đó, cơ thể cô ta sưng phồng lên và mở rộng ra, trở thành quả bóng sền sệt, vàng xam xám, phình lên đến tận nóc kho thóc. Rồi quả bóng trở nên trong suốt, và cô ta thấy bên trong có thạch sùng, cóc, những con ngựa đỏ bé tí xíu mang trên lưng những kỵ mã bé tí xíu, những người lính, những con nhện và giun sán, cả một bầy đáng ghê tởm. Những đam mê khủng khiếp đã xâm nhập vào mọi thứ biến thành nỗi đau đớn cực độ. Quả bóng nổ tung. Có một xác chết bay lượn lờ như tờ giấy đã cháy thành than. Có một cái bóng trắng mở rộng ra. Karen rú lên, giật mình tỉnh giấc.

Động tác đầu tiên của cô ta là nắm chặt lấy những viên ngọc trai.

Christian đi đến bên cạnh giường.

Cô ta dữ dội lẩm bẩm: “Anh vẫn còn ở đây sao? Anh đang làm gì vậy?”

Chàng đưa cho cô ta cốc nước. “Tôi nằm mơ,” cô ta nói, kề đôi môi run rẩy vào cốc nước. Những chuyện trong giấc mơ trên đang phân rã trong tâm trí cô ta và thoát ra thành lời. Nhưng cảm giác đầy đáng sợ trong giấc mơ đó tăng lên; dưới đáy ý thức cô ta lập lòe nỗi sợ chết.

“Tôi nằm mơ,” cô ta nhắc lại và rùng mình. Một lát sau thì hỏi: “Sao anh thức khuya vậy? Anh làm gì suốt ngày mà phải làm việc khuya đến thế? Sao anh chăm chỉ vậy? Nói cho tôi biết đi!”

Chàng lắc đầu và những lời nói, “Ruth, ôi Ruth bé bỏng,” lại vang lên trong đầu chàng. “Hôm nay mẹ chị không đến thăm chị à?” chàng hỏi, vuốt phẳng những cái gối của cô ta.

“Hãy cho tôi biết anh đã làm gì suốt ngày!” cô ta khăng khăng.

“Buổi sáng tôi đi nghe giảng.” “Rồi sao?” “Rồi tôi đi gặp Botho Thungen, anh ta nóng lòng muốn nói với tôi một chuyện.” “Rồi sao?” “Rồi tôi đến tòa với Lamprecht và Jacoby. Trên phố Kurfursten có cô hầu gái sinh con ta rồi bóp chết ngay.” “Họ có bỏ tù cô ta không?” “Cô ấy bị kết án năm năm ở trại phục hồi nhân phẩm. Luật sư đưa chúng tôi vào gặp cô ấy, rồi Lamprecht nói chuyện với cô ấy. Cô ấy nửa trần truồng, và cứ chòng chọc nhìn tôi suốt.” “Rồi anh đi đâu?” “Tôi đến gặp Amadeus Voss. Anh ấy đã viết thư cho tôi.” “Hắn xin tiền anh phải không?” “Không, anh ấy xin tôi hãy đến gặp Johanna Schontag trong phòng mình.” “Cô ta là ai?” “Một người bạn cũ.” “Cô ta muốn gì ở anh?” “Tôi không biết.” “Rồi sao?” “Rồi tôi quay về bằng phố Moabit và phố Plotzensee.” “Đi bộ à? Tất cả quãng đường đó ư? Rồi sao?” “Rồi tôi đến đây.” “Nhưng anh đã không ở lại!” “Tôi sang gặp Ruth.” “Sao anh cứ sang gặp con Do Thái đó vậy?” Karen lầm bầm, mặt cô ta u ám. “Đưa tay anh đây cho tôi,” bất thình lình cô ta thô bạo nói, và chìa bàn tay phải của mình ra, trong khi tay trái bấu chặt lấy những viên ngọc trai ở dưới mền. Cô ta đã làm đau bàn tay trái của mình. Khi mụ quả phụ Engelschall ở đó cô ta đã bấu móng tay vào lòng bàn tay mình, cô ta đã nắm chặt lấy kho báu của mình một cách quá dữ dội.

Mụ quả phụ Engelschall viết thư tống tiền ông Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật Wahnschaffe, và đọc to nó lên cho Karen nghe. Niels Heinrich đã ăn cắp hai ngàn mark; số tiền này phải được trả lại, bằng không hắn sẽ bị tóm. Trong thư mụ trơ tráo đòi những mười ngàn. Karen cố gắng ngăn không cho mẹ mình gửi bức thư đó đi, nên mụ già hét toáng lên.

Karen nghĩ cứ ốm thế này mà lại hóa hay. Nhưng tại sao chàng không trao bàn tay mình cho cô ta?

Con mèo nhỏ nhảy khỏi ghế. Đuôi dựng lên nó đứng trước mặt Christian, nháy mắt và kêu meo meo rất khẽ. Nó có vẻ do dự, rồi bất thình lình đánh liều nhảy lên đầu gối chàng. Chàng chiến đấu với nỗi ác cảm cũ của mình một lát. Rồi bộ lông trắng mềm và thân thể bé nhỏ duyên dáng đó cám dỗ chàng. Chàng rụt rè vuốt ve đầu và lưng con vật, cúi xuống nó và mỉm cười. Chàng thấy thích con mèo con này.

“Bà làm gì con tôi rồi?” Karen đã hỏi mẹ mình. Câu trả lời là một tiếng cười ầm ĩ. Nếu biết cô ta đã hỏi thăm con, thì có lẽ chàng đã nhìn cô ta một cách tử tế hơn. Nhưng cô ta không thể nói cho chàng biết; và kí ức về tiếng cười của mụ già kia đã để lại một nỗi hãi hùng.

Cô ta câm lặng chìa bàn tay mình ra một lát. Rồi để nó rơi xuống, gấp khăn trải lại và bò ra khỏi giường. Cô ta khóc thút thít một cách lạ lùng. Ngồi trên mép giường đối diện với Christian, cô ta băng giá nhìn chòng chọc và tiếp tục khóc thút thít. Hầu như không thể nghe ra được những lời nói của cô ta. “Anh ta không chạm vào bàn tay một con người,” cô ta thì thầm. Chân trần, trong chiếc váy ngủ dài, lưng lom khom, cô ta lê bước đến lò, ngồi xuống co ro bên cạnh nó, hai bàn tay ôm đầu và tru lên.

Christian quan sát cách cư xử của cô ta với nỗi kinh ngạc càng lúc càng tăng. Con mèo rúc vào hai bàn tay chàng kêu gừ gừ và dúi cái mõm nhỏ hồng hào của nó vào ngực chàng. Việc này đánh thức dậy trong chàng cái cảm giác sung sướng mà lâu rồi chàng không cảm thấy, và chàng thầm mong được ở một mình với con thú nhỏ này để chơi đùa với nó. Nhưng chàng kinh sợ trước những hành động của Karen. Chàng đứng lên, bế theo con mèo con, đến quỳ xuống bên cạnh cô ta. Chàng hỏi vì sao cô ta ốm, và xin cô ta hãy quay trở lại giường. Cô ta không để ý đến những lời chàng nói, mà quằn quại trên sàn nhà và tru lên.

Và chính là sự hỗn mang đang tru lên ở đó.

Thêm vào giỏ hàng thành công