favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XXV)

ĐIỀU TRA

V

Sự ám chỉ trong câu cuối cùng gây ra vô vàn bàn tán. Cái tên, mà người ta ý tứ không nhắc đến, truyền từ cái miệng này sang cái miệng kia, không ai biết bằng cách nào. Tin đồn đó đến tai Wolfgang Wahnschaffe. Đồng nghiệp hỏi với vẻ kinh ngạc điềm tĩnh rằng anh trai anh ta liên quan gì đến vụ giết cô gái Do Thái ở khu ổ chuột nọ. Thậm chí thủ trưởng văn phòng đại sứ của anh ta trong bộ Ngoại Giao cũng cho gọi anh ta, và hỏi với cái vẻ nó khiến cho anh ta tái nhợt đi vì hổ thẹn.

Anh ta viết thư cho cha: “Con đang ở trong tình thế của một khách bộ hành bình yên phải đương đầu với cái hiểm họa thường trực là bị một thằng điên tấn công từ phía sau. Thưa cha thân yêu, cha cũng biết là trong cái sự nghiệp mà con đã chọn thì một tiếng tăm không tì vết là yêu cầu trước nhất. Nếu danh tiếng của con và tên con phải luôn luôn nằm trong lòng thương xót công cộng của một kẻ lập dị điên rồ, kẻ không may sao lại mang cái tên đó chỉ để bôi nhọ nó, thì đã đến lúc phải dùng mọi biện pháp, dù mạnh thế nào, để tự vệ rồi ạ. Chúng ta đã kiên nhẫn. Từ quá lâu rồi con chỉ là đốm lửa lập lòe bên cạnh ánh sáng rực rỡ chói lòa nhưng, như bây giờ đã rõ, hoàn toàn lừa dối của Christian. Bây giờ hạnh phúc cả đời con đang lâm nguy, cũng như danh dự của chính con và nhà con, sẽ đơn thuần chỉ là yếu ớt về phần con nếu thụ động ngồi nhìn tất cả những chuyện đang xảy ra và nhiều khả năng sẽ tiếp tục xảy ra. Đây cũng chính là quan điểm của bạn bè con và tất cả những người biết suy nghĩ đúng đắn. Một hành động mạnh mẽ nào đó là cần thiết nếu con muốn duy trì cái địa vị mà con đã đạt được, đó là chưa nói đến bất cứ nỗi khó chịu nào khác mà chúng ta có thể liên đới. Cho đến khi nhận được thư cha, con sẽ cố gắng liên hệ với Judith, và bàn bạc với bà ấy. Dù bà ấy đã hoàn toàn không còn giao thiệp với con nữa, một cách sỉ nhục nhất và vì những lý do gì con vẫn chưa hiểu, thì con vẫn tin rằng bà ấy sẽ nhận ra tính chất nghiêm trọng của tình hình này.”

Ông Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật nhận được bức thư trên ngay sau khi hội đàm với phái đoàn những người đình công. Ông đã thực sự nghĩ đến chuyện này một khoảng thời gian trước khi có nỗi kinh ngạc đau đớn mà nó tự động đánh thức dậy trong lòng ông. Nếu là ở trong bất cứ hoàn cảnh nào khác thì cái giọng điệu bất hiếu, hầu như láo xược của bức thư trên hẳn đã làm cho ông phải tức giận rồi. Hôm nay ông không nghĩ đến nó thêm nữa. Ông vội viết một bức điện bằng mật mã gửi cho Girke và Graurock.

Thư hồi đáp bằng chuyển phát đặc biệt đã đến tay ông vào tối hôm sau tại nhà ông ở Wurzburg. Willibald Girke viết:

“Thưa ông Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật thân mến của tôi: - Dù có niềm sung sướng được làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông được một thời gian rồi, nhưng với hy vọng làm mới mối quan hệ giữa chúng ta, chúng tôi đã khá nhìn xa trông rộng mà tiếp tục những cuộc điều tra của chúng tôi, bằng mọi giá và bất chấp mọi hiểm nguy, cập nhật tất cả những việc liên quan đến ngài Christian Wahnschaffe. Nhờ cái quy tắc nhìn xa trông rộng hiệu quả này mà chúng tôi đã có thể trả lời được câu hỏi của ông với sự mau lẹ và chính xác mà tình hình này đòi hỏi.

“Chúng tôi đã lập tức đào sâu xuống gốc rễ vấn đề, vụ sát hại cô Do Thái trẻ tuổi. Chúng tôi có thể tặng cho ông sự đảm bảo an ủi là không có mối liên hệ nào khác giữa con trai ông và tội ác gớm ghiếc nói trên ngoài tình bạn ấm áp và gây nhiều tranh cãi mà con trai ông đã có với cô gái bị sát hại đó. Vì thế nên anh ấy chỉ liên quan trong vai trò nhân chứng, và đến lúc sẽ phải xuất hiện ở tòa. Sự cần thiết đáng tiếc này là không thể tránh khỏi một cách đáng buồn. Ai chạm vào rác thì cũng bị bẩn cả. Mối kết giao thân thiết giữa anh ấy với đám vô sản tất yếu sẽ lôi anh ấy vào những chuyện thế này và biết những phi vụ của bọn chúng. Người ta đã chứng minh và thừa nhận rằng anh ấy từng đến thăm nơi ở của tên sát nhân Heinzen. Anh ấy đến đó cùng với Ruth Hofmann, và người ta bảo là vào dịp đó một cảnh tượng gây tai tiếng do Niels Heinrich, anh trai của Karen Engelschall, khiêu khích nên đã xảy ra. Tên Niels Heinrich này là bạn thân của Joachim Heinzen, đã ở trong sự giám sát gắt gao của cảnh sát và bị thẩm vấn, và người ta bảo là chứng cứ của hắn rất nghiêm trọng với nghi phạm. Chính mối quan hệ với Engelschall này, có thể là bình thường và vô tội, sẽ được mang ra chống lại con trai ông, và vẫn chưa thể ước đoán chính xác được những hệ quả không thú vị gì của nó.

“Người ta thấy Ruth Hofmann hầu như ngày nào cũng ở bên cạnh con trai ông. Căn hộ của cha cô ta ở ngay đối diện căn hộ của Karen Engelschall, cái hoàn cảnh nó thuận tiện cho tình bạn giữa họ. Một nhóm mới đã chuyển đến, một Stubbe nào đó với vợ và ba con. Stubbe này là tên nát rượu thuộc loại đồi bại nhất. Tối nào hắn cũng làm ầm ĩ hết cả lên, và đối xử với gia đình mình một cách tàn bạo đến mức vào một số dịp con trai ông đã thấy là cần phải ra tay can thiệp. Chúng tôi nhắc đến sự việc này để minh họa cho sự dễ dàng thoải mái mà, ở những chốn như thế, tình đồng chí được thiết lập và những việc khó chịu được xảy ra. Người thuê trước, David Hofmann, quả thực là hiền lành và cư xử đúng mực. Nhưng chắc hẳn là ông ta đang gặp những khó khăn lớn nhất, vì đã bỏ đi Mỹ chỉ ít hôm trước khi xảy ra án mạng. Dù ngay sau đó người ta gửi những bức điện tín cho ông ta, thì vẫn chưa có tin tức gì về ông ta cả. Người ta cho rằng, vì những lý do của riêng mình, ông ta đã di cư với một cái tên giả, vì đã tìm tên ông ta trong danh sách hành khách của tất cả các tàu ra khơi trong vòng hai tuần vừa qua mà không thấy. Thêm nữa, có thể là ông ta đã ra khơi từ một hải cảng nào đó ở Hà Lan hoặc Anh. Nhà chức trách vẫn đang điều tra việc này.

“Em trai Ruth cũng biến mất trong sáu ngày, và đã không xuất hiện cho đến tận buổi tối khi án mạng bị phát giác, lúc người ta tìm thấy nó trong phòng con trai ông. Từ lúc đó đến nay nó vẫn ở đó. Thật là không thể hiểu nổi tâm trạng của nó. Không sự thúc bách nào, cả thỉnh cầu lẫn ra lệnh, có thể thu được từ nó chút gợi ý nào dù là nhỏ nhặt nhất về việc nó đã ở đâu trong những ngày quyết định từ Chủ Nhật đến thứ Năm đó. Vì sự im lặng của nó cứ kéo dài, nên càng ngày nó càng mang một diện mạo bí ẩn hơn, và người ta đã nỗ lực mọi cách để phá vỡ sự im lặng đó với niềm tin rằng nó có thể liên quan đến vụ giết người này và che giấu những mảnh chứng cứ quan trọng.

“Người ta cũng không quên nói thêm rằng con trai ông không chỉ không giúp đỡ những người muốn hỏi thằng nhóc Hofmann, mà còn ngăn cản không cho họ đạt được mục đích bất cứ khi nào có thể. Do phần lớn thời gian trong ngày anh ấy không có mặt trong phòng mình, nên một tiểu thư Schontag nào đó đã đảm nhận việc trông nom thằng bé. Tuy nhiên, gần đây tính chất cần thiết của một sự trông nom thường xuyên như thế dường như đã giảm sút. Bây giờ thằng nhóc Hofmann thường bị bỏ một mình không có tiểu thư Schontag bên cạnh trong nhiều giờ, và chỉ có vợ Gisevius thỉnh thoảng ghé vào để đảm bảo rằng nó vẫn được an toàn ở trong đó thôi. Tuy vậy một thám tử mặc thường phục vẫn thường xuyên gắt gao giám sát tòa nhà đó.

“Từ tất cả những điều trên thì rõ ràng là, trong việc nhận chăm sóc cho thằng bé ốm yếu này, con trai ông đã tự khoác lên mình một gánh nặng mới, nó, từ quan điểm những trách nhiệm khác và tình trạng tiền bạc giới hạn của anh ấy, sẽ không phải là một khó khăn nhỏ. Chúng tôi mạo muội đưa ra lời nhận xét trên, dù cho cái sự thật là chúng tôi cũng như mọi người đều thiếu một sự thấu hiểu thực sự những ý định và mục đích của con trai ông.

“Điều trên chấm hết bản báo cáo của chúng tôi. Trong niềm hy vọng rằng tính kĩ lưỡng và chính xác của chúng tôi đáp ứng được những niềm hy vọng và ước mong của ông, và trong niềm kì vọng rằng ông có thể vui lòng tặng cho chúng tôi thêm những chỉ đạo nữa, Chúng tôi xin được tiếp tục, Trân trọng kính chào ông, Girke và Graurock. Do W. Girke gửi.”

Albrecht Wahnschaffe đi lang thang qua các phòng trong ngôi nhà cũ, theo sau là con chó Freya. Để tránh ý nghĩ đau đớn nhất của mình, ông cố nhớ lại khuôn mặt người thợ là người phát ngôn của đoàn đại biểu hôm qua. Ông nhớ rất rõ những đường nét hung ác đó – cái cằm nhô ra, đôi môi mỏng, bộ ria đen chải vuốt lên, ánh mắt lạnh lùng, sắc sảo, vẻ mặt cương quyết. Và trên khuôn mặt này ông không còn thấy mặt của chính người đàn ông đã đến gặp mình về chính công việc tình cờ đó, mà của toàn bộ thế giới, bí ẩn, không thể tránh khỏi, kinh khủng, đầy đe dọa, lạnh lùng, và kiên quyết.

Ông ta thấy năng lượng và sự thận trọng mà mình đã tỏ ra trong cuộc hội đàm với đoàn đại biểu dường như vô ích ghê gớm. Không có sức mạnh của cá nhân nào sẽ hiệu quả trong cuộc xung đột với thế giới đó.

Ông không muốn nghĩ – không muốn nghĩ đến bức thư của ông thám tử tư kia, cũng như những sự tiết lộ kinh hoàng trong đó, chúng dường như tối nghĩa, và những cảnh tượng đục lờ của một cuộc sống vô cùng xa lạ, tuy là cuộc sống của con trai ông là người ông đã yêu và vẫn còn yêu. A, không, ông không muốn nghĩ đến hằng hà sa số những sự thấp kém và xấu xí và những sự kiện khủng khiếp xoay tít qua tâm trí ông trong một toàn cảnh ma quái - những căn phòng, những cái sân, những tòa nhà đầy tiếng rên rỉ, những thân xác thảm hại. Để ngăn không cho mình nghĩ đến những điều trên, ông lật giở các trang trong một cuốn sách, lục tìm một ngăn kéo đầy những bức thư cũ, và đi lang thang không biết mệt mỏi từ phòng này sang phòng nọ, theo sau là con chó Freya.

Chạy trốn khỏi những hình ảnh trên, thì ông lại va phải những hình ảnh khác liên quan đến vương quốc công việc của mình, trong đó những niềm hy vọng của tất cả đời ông cắm rễ và đã chín muồi, trong đó chính những bánh xe dưới cuộc sống của ông đã chuyển động. Ông thấy những phân xưởng lớn tan hoang, các lò lửa tắt ngóm, búa máy bất động, và từ một ngàn cánh cửa và cửa sổ những cánh tay trong những cử chỉ ra lệnh chìa về phía ông người đã tự nghĩ mình là ông chủ của tất cả bọn họ. Đây không phải lần đầu tiên một cuộc đình công cản trở cái tổ chức rối rắm của các xí nghiệp đó. Nhưng đây là lần đầu tiên ông có cảm giác rằng có đấu tranh cũng vô ích và kết cục đã đến gần.

Và câu hỏi thế này bay lên đôi môi ông: “Tại sao mi làm việc này với ta?” Và câu hỏi này ông nói với Christian, như thể Christian có tội về những yêu cầu của những người từng là nô lệ tự nguyện, về những gian sảnh trống trải, các lò lửa tắt ngóm, những cái búa im lặng – dù sao thì cũng có tội vì sự hiện diện của chàng trong những căn phòng đó giữa lũ đĩ điếm và giết người, những thằng điên rồ và ốm yếu, và trong tất cả những chốn mà đám người cặn bã thường hay lui tới đó. Ông run lên vì phẫn nộ, đó là một trong những cơn phẫn nộ hiếm hoi nó làm cho ông gần như mất tỉnh táo. Đôi mắt ông dường như đầy máu; ông tìm một vật hiến tế và một sinh linh để chuộc tội, thì thấy con chó đang gặm thảm. Ông cầm cây roi tre lên, đánh con vật này đến mức nó phải rên lên thê thảm – đánh nó trong một lúc lâu, cho đến khi cánh tay mỏi nhừ phải rơi xuống.

Bình tĩnh lại, ông thấy ân hận và xấu hổ. Nhưng cốt lõi cơn giận của ông vẫn còn trong tim ông, và ông mang nó trong mình như thứ thuốc độc ngấm ngầm. Sự gặm nhấm và thiêu đốt vẫn chưa dừng lại, ông biết là nó sẽ không dừng lại cho đến khi ông tính sổ xong với Christian, cho đến khi Christian đã giải thích xong hành động của chàng với ông như một người đàn ông với một người đàn ông, con trai với cha, kẻ phạm tội với ông quan tòa.

Niềm phẫn nộ ăn mòn linh hồn ông. Nhưng đâu là lối thoát? Làm sao gặp được Christian? Làm sao gọi chàng đến giải thích? Làm thế nào thì ông cũng sẽ mất phẩm giá. Chỉ còn cách chờ đợi thôi sao? Chờ nhiều tuần và nhiều tháng ư? Niềm phẫn nộ câm lặng gặm nhấm vào chính cuộc sống của ông.

VI

Sự vắng mặt của Johanna càng ngày càng làm cho Amadeus Voss lo lắng hơn. Sau khi dùng những phương pháp của một tên gián điệp, hắn khám phá ra rằng cô đã rời khỏi nhà của những người bà con mình một cách rất bất thình lình. Vào hôm sau lần cuối cùng đến Zehlendorf, cô đã về nhà một cách lặng lẽ và đau buồn. Sự vắng mặt của cô đã gây ra lo lắng, vì bây giờ ai cũng nghĩ đến những vụ giết người và biến mất bí ẩn. Cô không chịu cho biết mình đã qua đêm ở đâu, mà chỉ tuyên bố rằng mình sẽ đi hẳn. Cô đáp lại mọi câu hỏi và lý lẽ bằng im lặng và vội vàng thu xếp đồ đạc của mình. Rồi một chiếc ô tô, mà cô đã gọi, xuất hiện, và cô tạm biệt với những lời cảm ơn trang trọng. Cô nói với một người bà con, mà mình thân thiết hơn những người khác, rằng cô cần tập trung suy nghĩ một mình một thời gian, nên sẽ chuyển đến một căn phòng có sẵn đồ đạc. Cô xin mọi người đừng cố gắng tìm mình. Việc đó sẽ vô ích và chỉ càng đẩy cô đi xa hơn mà thôi. Quả vậy, cô dọa sẽ làm những việc còn liều lĩnh hơn nếu người ta không để mình được yên. Tuy vậy những người họ hàng hốt hoảng của cô vẫn lần theo dấu vết cô, và khám phá ra rằng cô đã thuê một phòng trên phố Kommandanten. Nhưng vì cô ở chung với một người phụ nữ đáng kính và hình như không phạm phải việc gì khích động hay nguy hiểm, nên cuối cùng người ta cũng tôn trọng mong muốn của cô, và từ bỏ tất cả mọi phỏng đoán vô ích liên quan đến hành động không thể hiểu nổi này.

Những chi tiết trên được một ả hầu gái mà Voss hối lộ năm mark kể lại cho hắn nghe. Hắn về nhà cân nhắc xem mình nên làm gì với bộ mặt căng thẳng và trái tim bốc lửa. Hắn thấy một bức thư của Johanna, nó thế này: “Tôi không biết trong tương lai mọi chuyện giữa chúng ta sẽ thế nào. Ngay lúc này tôi không thể quyết định được gì. Tôi không quan tâm đến bản thân hay số phận mình chút nào, và tôi có lý do nặng kí cho cảm giác đó. Đừng tìm tôi. Tôi ở trên phố Stolpische hầu như suốt ngày, nhưng đừng tìm tôi nếu anh có thích tôi đôi chút hay muốn tôi thích anh đôi chút trong tương lai. Tôi không muốn gặp anh; hiện tại tôi không thể chịu đựng nổi việc nghe anh nói. Trải nghiệm tôi vừa trải qua quá đáng sợ và bất ngờ. Anh sẽ thấy là tôi đã thay đổi theo cách anh không thích chút nào đâu. Johanna.”

Tái mặt vì phẫn nộ, hắn lập tức vào thành phố đến tận nhà ga trên đại lộ Schonhauser. Đã chín giờ tối khi hắn đến phố Stolpische. Bà Gisevius bảo hắn rằng tiểu thư Schontag đã đi từ nửa giờ trước. Hắn nhìn vào phòng Christian, và thấy một thằng bé mà mình không biết đang ngồi bên bàn. Hắn kéo bà Gisevius sang một bên, và hỏi thằng bé đó là ai. Bà ta kinh ngạc vì hắn không biết, và nói rằng đó là em trai của cô gái đã bị sát hại. Bà ta còn nói thêm rằng Wahnschaffe đã rất khác từ khi xảy ra tấn bi kịch này. Chàng đi quanh quẩn như linh hồn lạc lối. Chàng sẽ không trả lời gì cả hoặc hỏi một đằng trả lời một nẻo nếu người ta nói chuyện với mình. Chàng không chạm vào bữa điểm tâm mà sáng nào bà ta cũng mang vào cho. Thường khi chàng cứ đứng cúi đầu ở yên một chỗ đến nửa giờ. Bà ta sợ chàng sắp mất trí. Mấy hôm trước bà ta đã gặp chàng trên phố Rhinower, và ở đó, giữa ban ngày ban mặt, chàng cứ nói chuyện lớn một mình đến mức mọi người phải bật cười. Hôm qua chàng ra ngoài mà không đội mũ, nên con gái nhỏ của bà ta phải cầm nó chạy đuổi theo. Chàng tròn mắt nhìn con bé một lúc như thể không hiểu. Ngay sau đó chàng trở về cùng với mấy người bạn. Bất thình lình bà ta nghe tiếng chàng khóc to nên vội chạy vào phòng chàng. Bà ta thấy chàng đang quỳ gối trước những người kia, khóc nức nở như một thằng bé con. Rồi chàng đánh xuống sàn trong tuyệt vọng và gào lên rằng chuyện này là không thể và không được phép là sự thật, rằng không thể như thế được và chàng không thể chịu đựng nổi. Lúc đó có cả tiểu thư Schontag nữa. Nhưng cô ta chỉ im lặng và những người kia cũng thế. Họ chỉ ngồi đó run rẩy. Do có những người đàn ông trẻ tuổi nào đó đã khinh suất nói với chàng rằng đây là ngày được định cho cuộc thẩm vấn và khám nghiệm tử thi Ruth chính thức nên mới có sự lên cơn này. Chàng muốn đi ngay đến tòa án. Họ đã khó khăn mới giữ chàng lại được, và cuối cùng phải đảm bảo với chàng rằng chàng sẽ đến quá muộn, rằng mọi việc sẽ xong hết rồi. Suốt đêm chàng cứ đi đi lại lại trong phòng mình, trong khi Michael nằm trên cái sofa da. Suốt đêm hai người họ không trao đổi với nhau lời nào. Mấy lần bà ta lẻn ra khỏi phòng mình và lắng tai nghe – không một lời. Đến năm giờ sáng thì tiểu thư Schontag đến; đến bảy giờ thì Lamprecht và một sinh viên khác nữa. Họ đã thuyết phục chàng hôm đó hãy đi chơi với họ đến Treptow. Chàng không nhận lời cũng không từ chối, thế là họ lôi chàng đi. Bạn bè Ruth Hofmann cũng đến và ở lại đến trưa – một phụ nữ và một chàng trai trẻ. Thỉnh thoảng buổi tối họ cũng đến, sau khi tiểu thư Schontag đi rồi, để Michael không phải ở một mình. Không ai biết phải làm sao với thằng bé này. Tình trạng của nó không thay đổi chút nào. Nó thậm chí không thay cả quần áo, và nếu tiểu thư Schontag không biết cách nhẹ nhàng dỗ dành, thì chắc là nó thậm chí không cho ai chải bùn khỏi quần áo của mình hay rửa tay và mặt cho mình nữa. Thỉnh thoảng có một quý ông tóc đỏ đến thăm thằng bé. Bà ta nghe nói rằng đó là một nam tước và là bạn của Wahnschaffe. Hôm kia quý ông này mang đến một bàn cờ, vì có ai đó đã nói rằng Michael biết chơi cờ và thường vẫn hay chơi với chị nó. Nhưng khi cờ đã được xếp xong, thì Michael chỉ rùng mình mà không chạm vào chúng. Bàn cờ vẫn ở đó trên bàn. Ngài Voss có thể vào và tự mình xem lấy.

Người đàn bà này sẽ còn buôn chuyện nữa. Nhưng Voss lặng lẽ gật đầu chào rồi bỏ mặc bà ta. Hắn trở nên trầm ngâm. Những điều nghe được về Christian khiến cho hắn trở nên trầm ngâm. Không quan tâm mình đang đi đâu, hắn rẽ về phía quảng trường Exerzier. Hắn nghiền ngẫm suy nghĩ và nghi ngờ. Trí tưởng tượng của hắn từ chối không chịu thấy Christian như người đàn bà kia đã vẽ ra. Nó dường như tuyệt đối mâu thuẫn với sự có thể, một lời giễu cợt tất cả kinh nghiệm. Đau buồn, đau buồn đến thế - Christian ư? Tuyệt vọng, tuyệt vọng đến thế - Christian ư? Thế giới chao đảo trên những nền móng của nó. Một bí ẩn nào đó hẳn phải ẩn đằng sau tất cả những chuyện này. Dưới sức ép của những sức mạnh khổng lồ, ngay tính chất của các yếu tố cũng có thể đổi thay, nhưng hắn không thể hiểu nổi việc máu phun ra từ đá, hay trái tim xuất hiện ở nơi chưa từng có trái tim.

Miễn cưỡng, hắn quay trở lại phố Stolpische. Thình lình thấy Johanna ở ngay trước mặt mình. Hắn gọi cô; cô dừng lại gật đầu chào, vẻ không ngạc nhiên. Nhưng cô không trả lời những câu hỏi vội vàng, thì thầm của hắn. Mặt cô xanh xao trong suốt. Đến cửa tòa nhà đó, cô dừng lại cân nhắc. Rồi bước đi trở vào sân đến cửa sổ phòng Christian. Cô muốn nhìn vào, nhưng màn cửa khép. Cô hấp tấp vào sảnh, kéo chuông, trao đổi vài câu với bà Gisevius, rồi trở lại. “Tôi phải lên lầu,” cô nói, “xem Karen thế nào.” Cô không ra hiệu bảo Voss chờ. Hắn chờ càng kiên quyết hơn. Từ những chỗ ở xung quanh, hắn nghe tiếng nhạc, tiếng cười, tiếng trẻ con khóc, tiếng vù vù đều đều của một cái máy may. Cuối cùng Johanna cũng xuống lại và ra phố cùng với hắn. Cô nói bằng giọng bất lực: “Người phụ nữ tội nghiệp đó khó lòng qua nổi đêm nay, thế mà Christian lại không có nhà. Phải làm sao đây?”

Hắn không trả lời.

“Anh phải hiểu chuyện đang xảy ra với tôi,” Johanna nói, nhẹ nhàng mà cố chấp.

“Tôi chẳng hiểu gì cả,” Voss đần độn đáp. “Chẳng gì cả - chỉ hiểu rằng tôi đang đau khổ, đau khổ khôn xiết thôi.”

Johanna khàn khàn nói: “Anh thì nghĩa lý gì.”

Họ đang ở cạnh rừng Humboldt. Trời rét, nhưng Johanna vẫn ngồi lên băng ghế dài. Cô dường như rất mệt; những sự gắng sức làm cho cái thân thể mảnh khảnh của cô đau như những vết thương. Voss rụt rè nắm lấy bàn tay cô, hỏi: “Có chuyện gì vậy?”

“Đừng,” cô thở, và rụt bàn tay lại. Cô nói sau một lúc lâu im lặng: “Người ta luôn nghĩ anh ấy vô tình. Một số người còn nói nhờ thế mà anh ấy thành công với tất cả những người đến bên cạnh mình. Đó là một giả thuyết hay. Bản thân tôi chưa bao giờ tin điều đó. Phần lớn các giả thuyết đều sai; thế thì tại sao giả thuyết này lại đúng? Có rất nhiều những cuộc bàn tán vô nghĩa về con người; hết thảy đều gây buồn phiền và vô ích, cả khi khẳng định lẫn khi phủ định. Tôi thừa nhận rằng môi trường xung quanh anh ấy không khai trí về mặt tinh thần. Nếu xúc động sâu sắc vì điều gì đó, bằng cách này hay cách khác, do bản năng, người ta sẽ giấu không cho anh ấy biết và cảm thấy ngượng ngùng. Thế mà giờ đây - chuyện này! Anh không thể tưởng tượng nổi đâu. Và tôi biết miêu tả nó thế nào đây? Suốt buổi tối đầu tiên chăm sóc cho Michael, anh ấy vẫn chưa biết gì cả. Đến chín giờ hoặc chín rưỡi, anh ấy lên nhà Karen, định một giờ sau sẽ xuống lại, nhưng đã xuống lại sớm hơn. Có người lảng vảng trong sân, và họ đã nói cho anh ấy biết. Rồi anh ấy vào căn phòng đó, rất nhẹ nhàng. Anh ấy vào và ...” Cô lấy ra một chiếc khăn tay, áp nó lên mắt mình, và khóc rất khẽ.

Voss để cho cô khóc một lát. Rồi hắn hỏi rất căng thẳng: “Anh ta vào và ...? Và thế nào?”

Vẫn áp khăn tay lên mắt, Johanna nói tiếp: “Anh sẽ có cảm giác: Đây là kết cục cho anh ấy, kết cục của tất cả những sự hài lòng, của những nụ cười và tiếng cười - kết cục. Mặt anh ấy già đi đến hai mươi tuổi chỉ trong mười lăm phút. Tôi chỉ nhìn nó trong khoảnh khắc; rồi không dám nhìn nữa. Anh có thể nghĩ như thế là quái dị, nhưng tôi xin thưa với anh rằng toàn bộ căn phòng đó đều đau đớn, không khí đau đớn và ánh sáng cũng đau đớn. Đó là sự thật. Mọi thứ đều làm đau đớn; mọi điều người ta nghĩ hoặc thấy đều làm đau đớn. Nhưng anh ấy tuyệt đối im lặng, còn vẻ mặt thì như người đang căng mắt đọc một bản thảo khó đọc. Và đó là điều đau đớn nhất trong tất cả.”

Cô im lặng và Voss không phá vỡ sự im lặng của cô. Hắn ghen tuông và hằn học nghĩ: “Chúng ta sẽ phải tự thuyết phục mình rằng máu có thể phun ra từ một tảng đá; chúng ta phải thấy, nghe, và kiểm chứng.” Hắn cố tình bắt ý chí mình phải nghi ngờ. Hắn thầm nói những lời giải thích đê tiện. Để không khiêu khích Johanna, hắn giả vờ cũng tin như cô; tuy vậy trong câu chuyện của cô có điều gì đó khuấy động tâm can hắn và làm hắn sợ hãi.

Johanna cần một chỗ dựa nào đó. Cô tê cóng trong tình trạng tự do mới của mình; cô không tin mình kham nổi cái tình trạng đó. Với chút sợ hãi và khao khát, cô ngạc nhiên thấy không có ai dùng vũ lực lôi mình trở lại cuộc sống an toàn, tiện nghi, được che chở, và vô tư lự trước đây.

Cô không lấy làm tiếc vì Amadeus đang bước đi bên cạnh mình. A, thật mâu thuẫn và yếu ớt và thiếu niềm tin vào bản ngã của chính mình, nhưng cô đơn thật quá đáng sợ. Tuy vậy cử chỉ giã từ của cô dường như thật dứt khoát khi họ đến nơi cô sống là ngôi nhà trên phố Kommandanten. Amadeus Voss, nghi cô yếu đuối và sầu muộn, đã đi cùng cô đến cầu thang tối, và ôm cô ở đó chặt đến mức như thể có ý định sẽ nghiến ngấu cô. Cô chỉ thở dài.

Lúc đó niềm khao khát muốn được làm mẹ không thể cưỡng nổi đã dâng lên trong cô. Cô không quan tâm là qua sự môi giới của ai, hay nụ hôn của hắn sẽ làm mình ghê tởm hay sung sướng. Cô muốn trở thành một người mẹ - được sinh ra thứ gì đó, được tạo ra thứ gì đó, không phải trống trải, lạnh lẽo, và cô đơn thế này, mà được bám vào thứ gì đó và dường như có giá trị hơn với chính mình và không thể thiếu được với một người khác. Chẳng phải chính gã đàn ông đang ôm cô như con thú săn mồi này đã nói đến niềm mong mỏi muốn có bóng mát che chở cho thân xác của nó sao? Bất thình lình cô đã hiểu câu nói đó.

Ảm đạm, dò xét, và mãnh liệt là ánh mắt cô trao cho hắn khi họ lại ra phố. Rồi cô đi với hắn.

 

Thêm vào giỏ hàng thành công