favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXI)

HAY CÓ BAO GIỜ SỢI DÂY BẠC BỊ NỚI LỎNG

I

Tiểu thư von Einsiedel đón nhận những quan tâm vặt vãnh của Crammon một cách thực sự nghiêm túc. Khi Crammon nhận thấy điều này, ông liền trở nên lạnh lùng, lập tức nghĩ cách chuồn êm khỏi cái tình thế phức tạp đáng sợ đó.

Cô ta sai hầu gái của mình chuyển đến ông những bức thư ngắn khẩn bách; ông không trả lời. Cô ta xin được gặp mặt ông; ông hứa sẽ đến nhưng không đến. Cô ta trách mắng ông và tra hỏi lý do. Ông cụp mắt nhìn xuống buồn bã trả lời: “Tôi nhầm giờ, bạn thân mến à. Bởi vì đôi khi tôi đãng trí. Thỉnh thoảng tôi thức dậy vào buổi sáng mà ngỡ trời vẫn còn tối. Tôi ngồi bên bàn ăn mà quên không ăn. Tôi cần chữa bệnh và sẽ hỏi ý kiến một bác sĩ. Em phải khoan dung, Elise à.”

Nhưng Elise không muốn hiểu. Cứ nghe những lời khẩn nài đầy nuối tiếc của Crammon, thì biết cô ta thuộc tuýp phụ nữ lấy một nụ hôn hay cuộc gặp gỡ dịu dàng làm cớ để rút ra tất cả những loại suy diễn mệt mỏi và không thể đúng được.

Ông tự nhủ: “Mày phải mạnh mẽ lên, Bernard, không được để cho tính mềm yếu bẩm sinh của mày biến mày thành một kẻ yếu đuối. Đây là một cái bẫy chuột nho nhỏ, và mày có thể đánh hơi thấy phó mát từ xa. Cô ta xinh đẹp và tốt bụng, nhưng chao ôi, hoàn toàn mù quáng và nhẹ dạ. Làm như người ta thích khốn khổ dài lâu hơn khoái lạc ngắn ngủi vậy!”

Để sẵn sàng trước bất cứ sự kiện nào, ông xếp sẵn hành lý.

II

Crammon khám phá ra Christian đã ở đâu và cùng với ai trong đêm diễn ra bữa tiệc trước đám cưới của Judith. Gã tài xế thiếu cẩn trọng. Thế là Crammon, xuất phát từ tính chu đáo đầy tình anh em, tiến hành những cuộc điều tra, và tất cả những tin đồn đến tai tòa lâu đài đó đều được chứng thực.

Một buổi sáng, khi cả hai đều đang ở trong tòa lâu đài Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian, Crammon vào phòng anh bạn của mình và nói: “Tôi không thể giữ ở trong lòng lâu hơn được nữa. Nỗi đau khổ về việc đó gặm nhấm tâm can tôi. Anh nên xấu hổ, Christian à, đặc biệt vì tính hay giấu giếm của anh. Anh nhập bọn với lũ phá hoại hòa bình và lũ ném bom chạy trốn, và rồi anh làm cho những người nghèo khổ vô tội lúng túng bằng tính hào phóng không suy nghĩ của mình. Điều đó sẽ dẫn đến đâu?”

Christian mỉm cười, không trả lời.

“Làm sao anh có thể phơi bày bản thân,” Crammon kêu lên; “bản thân anh, gia đình anh và bạn bè anh theo cái lối đó được nhỉ? Tôi sẽ tâm sự riêng với anh điều này, cậu bé thân thiết nhất à: Nếu như anh tưởng rằng mình đã thực sự giúp đỡ người đàn bà mà cái tên Nga liều mạng kia lôi anh đến gặp, thì anh nhầm to rồi. May sao tôi vẫn còn có thể lấy cắp được ảo tưởng đó của anh đi.”

“Ông có nghe gì về bà ta không?” Christian hỏi, với sự thờ ơ đáng ngạc nhiên trong giọng nói và trên vẻ mặt.

Crammon dường như trở nên cởi mở hơn, kể câu chuyện của mình một cách phóng khoáng và đáng yêu: “Chắc chắn tôi có nghe chứ. Tôi thậm chí còn làm việc với cảnh sát để tránh cho anh khỏi khó chịu. Người đàn bà đó đáng lý ra đã bị bắt và khoản tiền kia cũng bị tịch thu rồi. May mà tôi ngăn chặn được việc đó. Tôi tin Nhà Nước nên giữ trật tự, nhưng không nghĩ việc chính quyền nên can thiệp vào những việc riêng của chúng ta là thỏa đáng. Bổn phận của nó là che chở cho chúng ta; nhiệm vụ của nó đến đó là chấm dứt. Về chuyện này nói thế là đủ rồi! Tôi không có gì hay ho để báo cáo về người được anh bảo trợ. Cơn mưa vàng đó hoàn toàn làm cho đám người trong ngôi nhà kia mất trí. Bọn chúng cứ bám riết lấy bà ta mà xin xỏ, vài tên còn ăn cắp nữa. Dĩ nhiên đã có một cuộc ẩu đả, một tên đâm dao vào bụng một tên khác, và người đàn bà hóa điên đánh cả hai tên bằng một cái xẻng xúc than. Cảnh sát phải can thiệp. Rồi người đàn bà đó chuyển sang ở chỗ khác, và mua tất cả những thứ vô giá trị - đồ đạc, giường tủ, quần áo, đồ dùng làm bếp, và thậm chí cả một cái đồng hồ có con chim kêu cu cu nữa. Anh đã trông thấy những nỗi kinh hoàng bé nhỏ đó rồi đấy. Con chim cu cu bay ra khỏi đồng hồ rồi hét lên. Có lần tôi ở với mấy người có những ba cái đồng hồ như thế. Cứ mỗi khi tôi đi ngủ là một con chim cu cu lại hét toáng lên; việc đó đủ khiến cho người ta phát điên. Về những mặt khác thì những người bạn của tôi rất đáng yêu.

“Còn về bà Kroll – món quà anh tặng làm cho bà ta không còn biết thế nào là luân thường đạo lý nữa. Bà ta cất món tiền đó trong một chiếc hộp nhỏ, mà bà ta luôn mang theo bên mình và không rời mắt cả ngày cũng như đêm. Bà ta mua xổ số, những tiểu thuyết rùng rợn rẻ tiền; lũ trẻ vẫn bẩn thỉu và ngôi nhà vẫn suy đồi như trước. Chỉ có cái đồng hồ có con chim cu cu kinh khủng kia là rống lên. Thế nên anh đã hoàn thành được việc gì vậy? Phúc lành ở đâu? Đám người bình dân không thể kham nổi những gia tài bất ngờ. Anh không biết chút nào về bản chất của họ, thế nên việc hay nhất anh có thể làm là để cho họ được yên.”

Christian nhìn lên bầu trời nhiều mây. Rồi chàng quay sang phía Crammon. Chàng thấy, như trước đó chưa hề thấy như thế bao giờ, rằng hai má Crammon có phần hơi béo, và rằng cằm ông có nhiều ngấn thịt mềm và có đường chẻ. Chàng không biết mình có nên trả lời không. Chàng mỉm cười, bắt chéo chân!

Đôi chân mới đẹp làm sao, Crammon nghĩ và thở dài, đôi chân mới tuyệt mỹ làm sao!

III

Ít hôm sau Crammon lại đến với ý định kiểm tra Christian.

“Tôi không thích tình trạng của anh, cậu bé thân mến của tôi à,” ông bắt đầu, “và tôi sẽ không vờ vịt rằng mình thích. Chúng ta buồn chán ghê gớm ở đây mới một tuần. Tôi công nhận với anh rằng đây là nơi tràn đầy niềm vui vào mùa Xuân và mùa Hạ với những người bạn dễ chịu, khi người ta có thể tổ chức những cuộc picnic ngoài trời và nghĩ về những thành phố xám xịt và nóng sôi. Nhưng vào giữa mùa Đông như bây giờ, không có truy hoan, tiệc tùng hay đàn bà – thì nó có ích lợi gì? Tại sao anh lại lánh đời? Tại sao anh buồn phiền? Anh đang chờ đợi điều gì vậy? Trong tâm trí anh đang có điều gì vậy?”

“Ông hỏi nhiều quá đấy, Bernard,” Christian đáp. “Ông không nên hỏi nhiều như thế đâu. Ở đây thì cũng như ở nơi khác thôi. Ông có thể cho tôi biết có nơi nào tốt hơn hay không?”

Câu hỏi cuối cùng khơi lên những niềm hy vọng trong lòng Crammon. Khuôn mặt ông rạng rỡ hẳn ra trong niềm mong đợi những lạc thú chung. “Một nơi tốt hơn ư? Cậu bé thân thiết nhất đời của tôi ơi, toa xe lửa nào cũng tốt hơn. Phòng tiếp tân nhờn mỡ của Madame Simchowitz ở Mannheim cũng còn tốt hơn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể đồng ý với nhau ở một điểm. Đây là một kế hoạch rất hay. Palermo, Conca D’oro, Monte Pellegrino, và những cô gái Sicilia với những cái liếc mắt đầy khao khát đằng sau những tấm mạng che mặt đoan trang. Từ đó chúng ta sẽ đi bằng máy bay đến Naples để thăm cô bạn Yvonne bé bỏng đáng yêu của tôi. Nàng có mái tóc đen nhất, hàm răng trắng nhất, và hai bàn chân bé nhỏ xinh xắn nhất châu Âu. Những vùng đất ở giữa thật là – siêu phàm. Rồi chúng ta có thể gửi một bức điện tín đến cho Madruzzi Thịnh Vượng, người đang tịnh dưỡng lá lách của mình trong căn biệt thự của anh ta ở Venice, và để cho anh ta giới thiệu chúng ta vào xã hội thượng lưu có chọn lọc kỹ càng nhất La Mã. Ở đó chỉ toàn những nữ bá tước, nữ hầu tước và những nàng công chúa. Những nhân vật đáng chú ý nhất trên khắp cả năm châu lục đều lúc nhúc ở đó như trong một nhà thương điên mê ly; những bà Mỹ máu lạnh phạm tội bất cẩn với những anh chàng lazzarone [Kẻ lười biếng sống lang thang bằng công việc không ổn định hay bằng cách ăn xin ở thành Naples – ND] say đắm, những người có những cái tên ma thuật và những đôi vớ ngắn lụa không thể có thực; ở đó ngôi nhà tồi tàn nào cũng có thể khiến cho anh phải tò mò, đống đá nào cũng có thể thêm vào vốn văn hóa của anh, cứ mỗi bước đi là anh lại vấp phải một kiệt tác nghệ thuật.”

Christian lắc đầu. “Tôi không thấy hứng thú với kế hoạch đó,” chàng nói.

“Thế thì tôi xin giới thiệu một kế hoạch khác,” Crammon nói. “Hãy đi cùng tôi đến Vienna. Đó là thành phố đáng được anh quan tâm. Anh đã bao giờ nghe nói đến Messiah chưa? Messiah là người mà người Do Thái tin là sẽ đến vào ngày tận thế, và là người mà họ mong được chào đón bằng tiếng kèn và chũm chọe. Ở Vienna những người lạ mặt cao quý cũng được chào đón như thế đấy. Nếu như anh nuôi dưỡng một bầu không khí bí ẩn, và không quá keo kiệt trong vấn đề cho tiền boa, và thỉnh thoảng làm nhục một kẻ đã quá quen mặt – thì tất cả xã hội thượng lưu Vienna sẽ ở dưới chân anh. Bao trùm thành phố này là bầu không khí chểnh mảng đạo đức dễ chịu. Tất cả những việc bị cấm đoán đều được phép. Phụ nữ vô cùng hors concours [Nổi bật - tiếng Pháp – ND]; thịt nướng ở Sacher không có đối thủ; những điệu waltz mà anh nghe thấy bất cứ khi nào một người chơi nhạc cầm một cây vĩ lên thật là xúc động; chuyến đi chơi đến Ngôi Nhà Nhỏ của Niềm Vui – làm ơn xin hãy lấy tên theo đúng nghĩa đen giùm tôi - thật là một giấc mơ. Bản thân tôi ao ước tất cả những điều đó - bầu không khí chiều lòng người, món gà quay, món bánh táo và kem tráng miệng, túp lều nhỏ đầy đồ đạc thuộc thời kỳ Maria Theresa, và hai cô gái già thân mến của tôi. Hãy định thần lại, và đi với tôi.”

Christian lắc đầu. “Chẳng nghĩa lý gì với tôi cả,” chàng nói.

Crammon đỏ mặt tức giận. “Chẳng nghĩa lý gì với anh sao? Được thôi. Tôi không thể giao hậu cung của một ông vua Hồi giáo cho anh tùy ý sử dụng được, cả những khu vườn mà Nhà Tiên Tri [Muhammad, người sáng lập đạo Hồi – ND] đã hứa hẹn cũng thế. Tôi sẽ để mặc anh cho số phận của anh, và sẽ đi lang thang ở ngoài kia hưởng lạc thú cuộc đời.”

Christian bật cười, vì chàng không tin ông. Tuy vậy, hôm sau ông nói lời giã biệt thật, với mọi dấu hiệu của một nỗi đau khổ sâu sắc, rồi ra đi.

IV

Christian ở lại trong ngôi nhà nông thôn của chàng. Tuyết rơi dày đặc, năm đã về cuối.

Chàng không có một vị khách nào cả. Chàng không trả lời cả thư từ lẫn những lời mời mọc của bạn bè. Chàng sẽ phải qua Giáng Sinh bên cha mẹ ở lâu đài, nhưng chàng xin lỗi họ vì mình không về được.

Vì đã đến tuổi trưởng thành, nên lâu đài Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian giờ đây đã hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của chàng, và toàn bộ các tác phẩm nghệ thuật của chàng đều tề tựu về đây - những nhóm tượng, những bức tranh, những bức tiểu họa, cả bộ sưu tập những hộp đựng thuốc lá bột nữa. Chàng rất yêu những chiếc hộp bé nhỏ này.

Các lái buôn gửi danh mục liệt kê đến cho chàng. Chàng có người tin cẩn ở mọi cuộc bán đấu giá trứ danh. Chàng đánh điện gửi những chỉ thị cho con người này, thế là những món đồ sẽ đến - một cái chén bằng pha lê núi, một bộ đồ sứ Dresden, một bức phác họa bằng chì than của Van Gogh. Nhưng chàng thất vọng khi trông thấy những món đồ mà mình đã mua. Chúng dường như không hiếm và quý như chàng hy vọng.

Chàng mua một cuốn kinh Thánh thế kỷ mười sáu, được in trên giấy da, với những chữ cái viết tắt tên họ nhiều màu và bìa có những cái móc bằng bạc. Nó tiêu tốn của chàng mười bốn ngàn mark, và mang nhãn sở hữu sách của vua chư hầu Augustus xứ Saxony. Chàng tò mò lật các trang mà không đọc chữ, những chữ xa lạ và vô nghĩa đối với chàng. Quyển sách này chẳng làm cho chàng vui thú gì ngoài tính chất hiếm có và quý giá của nó. Nhưng chàng ao ước những thứ khác thậm chí còn hiếm và quý hơn nữa kia.

Sáng nào chàng cũng cho chim ăn. Chàng sẽ đi ra từ cửa với một cái rổ nhỏ đựng vụn bánh mì, và những con chim sẽ bay đến với chàng từ mọi hướng, bởi vì chúng đã quen với chàng và giờ chàng cho chim ăn. Chúng đói, và chàng nhìn chúng bận rộn với bữa ăn nhỏ của chúng. Và chàng quên những khát khao của mình trong khi làm việc đó.

Một hôm chàng mặc bộ đồ đi săn của mình, đi ra ngoài bắn một con thỏ. Khi con thú đã nằm ở trước mặt chàng, và chàng đã trông thấy đôi mắt sắp chết của nó, thì chàng không thể chịu đựng nổi việc chạm vào con thỏ đó. Chàng là người đã săn và giết nhiều thú vật, thế mà không thể chịu đựng nổi trò chơi này thêm được nữa, và để chiến lợi phẩm của mình lại làm mồi cho lũ quạ.

Trong phần lớn những cuốc đi dạo của mình chàng đều đi ngang qua làng, nó chỉ cách khu rừng của chàng có mười lăm phút đi bộ. Nằm cuối làng, trên con đường cái, là nhà của người trông coi rừng. Vài lần chàng đã trông thấy, tại một trong những ô cửa sổ của ngôi nhà này, khuôn mặt của một gã trai trẻ, mà những đường nét hình như chàng vẫn còn nhớ. Chàng nghĩ đó hẳn là Amadeus Voss, con trai lão trông coi rừng. Khi mới lên sáu, chàng vẫn thường hay đến ngôi nhà này chơi. Lâu đài Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian sau đó mới được xây cất, và trong những năm đó cha chàng thuê khu săn bắn dành riêng ở đây và vẫn thường hay ở vài hôm trong nhà lão trông coi rừng. Và Amadeus từng là bạn chơi đùa của Christian.

Bộ mặt gợi chàng nhớ lại tuổi thơ ấu của mình đó vàng vọt và hốc hác. Hai cái môi mỏng và thẳng, trên đầu phủ mớ tóc vàng hoe rất nhạt. Ánh phản chiếu của những tia sáng lên hai tròng dày cộp của đôi mục kỉnh khiến cho bộ mặt đó trông như thể không có mắt.

Christian kinh ngạc thấy ngày nào người đàn ông trẻ này cũng ngồi bất động ở đó hết giờ này sang giờ khác, nhìn chòng chọc ra phố qua ô cửa sổ. Điều bí mật chàng cảm thấy ở đây khuấy động chàng, và nguồn sức mạnh nằm dưới một vực sâu nào đó dường như đã vì chàng mà bốc lên.

Một hôm chàng gặp ông trưởng làng ở lối vào khu rừng của mình. Christian giữ ông ta lại. “Xin hãy cho tôi biết,” chàng nói, “có phải lão trông coi rừng Voss vẫn còn sống không?”

“Không, ông ta chết đã ba năm rồi,” ông ta trả lời. “Nhưng bà vợ góa của ông ta vẫn còn sống trong căn nhà đó. Người trông coi rừng hiện nay sống độc thân, nên cho bà ta ở nhờ. Tôi cho anh hỏi là vì Amadeus, anh ta đã bất ngờ xuất hiện vì một lý do lạ lùng nào đó ...”

“Xin hãy cho tôi biết về anh ta,” Christian nhờ vả.

“Anh ta được định hướng sẽ trở thành linh mục, và được gửi đến trường dòng ở Bamberg. Ở đó người ta chỉ nghe được những điều tốt đẹp về anh ta, và các giáo viên ca tụng anh ta hết lời. Anh ta có lương giáo sĩ và học bổng, tất cả mọi người đều chờ mong anh ta sẽ phát tài phát đạt. Mùa Đông vừa rồi cấp trên kiếm được cho anh ta vị trí làm gia sư cho những cậu bé con ông chủ tịch ngân hàng, ủy viên hội đồng cơ mật Ribbeck. Anh thì quen thuộc với cái tên đó quá rồi. Một con người vô cùng quan trọng. Hai thằng bé mà Voss phải giám sát việc giáo dục sống ở Halbertsroda, một điền trang ở Franconia Thượng, và cha mẹ chúng ít khi lên đó thăm chúng. Cuộc hôn nhân của họ không hạnh phúc. Chà, mọi chuyện dường như đều ổn thỏa. Cứ xem những năng khiếu của anh ta và người đỡ đầu mà giờ đây anh ta đã có, thì Amadeus không còn có thể thiếu gì nữa. Thế mà bất thình lình anh ta rơi xuống đầu chúng tôi ở đây, không bước chân ra khỏi nhà, chẳng để ý gì đến ai, trở thành gánh nặng trên vai bà mẹ già khốn khổ của mình, ai nói chuyện cũng gầm gừ đáp lại như con chó. Chắc chắn phải có những chuyện điên rồ xảy ra ở Halbertsroda. Chẳng ai biết thực hư thế nào. Nhưng thỉnh thoảng cái ấm cũng sôi lên, và khi đó anh sẽ được nghe tin đồn về việc đã có chuyện gì đó giữa anh ta với vợ của ông ủy viên hội đồng cơ mật.”

Ông ta rất lắm mồm, nên cuối cùng Christian phải ngắt lời. “Chẳng phải người trông coi rừng còn có một người con trai khác nữa sao?” Ký ức mơ hồ về một trải nghiệm nào đó trong thời thơ trẻ đã trở về trong chàng.

“Rất đúng,” ông trưởng làng nói. “Còn có một người con trai khác nữa. Tên anh ta là Dietrich, anh ta vừa câm vừa điếc.”

“Đúng, giờ thì tôi nhớ rồi,” Christian nói.

“Anh ta chết năm mười bốn tuổi,” ông trưởng làng nói tiếp. “Cái chết của anh ta không bao giờ được giải thích rõ ràng. Đã có một lễ kỷ niệm trận chiến đấu ở Sedan, và anh ta đi ra ngoài trong đêm để xem pháo hoa. Sáng hôm sau người ta tìm thấy xác anh ta ở trong ao cá.”

“Anh ta đã chết đuối sao?”

“Hẳn vậy,” ông trưởng làng trả lời.

Christian gật đầu chào rồi chậm chạp đi qua cổng vào nhà mình.

V

Letitia và chồng đang ở trong nhà hát Opera tại Buenos Ayres. Vở operetta [Nhạc kịch hài, nhẹ nhàng, ngắn – ND] của buổi tối nông cạn như vũng nước mưa đọng trên đồng cỏ hoang.

Ngồi trong lô kế bên lô của họ là một người đàn ông trẻ, và Letitia thỉnh thoảng lại nhượng bộ cám dỗ muốn được trông thấy những ánh mắt khâm phục của anh ta. Thình lình nàng cảm thấy cánh tay mình bị túm chặt một cách thô bạo. Đó là Stephen ra lệnh cho nàng phải lặng lẽ đi theo mình.

Sau khi ra ngoài hành lang mờ tối, anh ta kề sát bộ mặt trắng xanh xanh của mình vào tai nàng, và rít lên: “Nếu em còn nhìn thằng ngốc ấy thêm một lần nữa, thì tôi sẽ đâm dao găm vào tim em đấy. Tôi cảnh cáo em. Ở đất nước này người ta không lưỡng lự đâu.”

Họ quay vào lô của mình. Stephen nở nụ cười hấp dẫn như một người đấu bò, và cho một mẩu sôcôla vào mồm. Letitia liếc mắt nhìn anh ta, tự hỏi không biết anh ta có thực sự mang trong mình một con dao găm không.

Đêm hôm đó, trên đường trở về nhà, anh ta gần như làm nàng ngạt thở bằng những cái vuốt ve. Nàng nhẹ nhàng đẩy anh ta ra, và cầu xin: “Cho em xem con dao găm, Stephen. Đưa nó cho em! Em rất muốn được trông thấy nó.”

“Con dao găm nào, hả cô bé ngớ ngẩn?” anh ta kinh ngạc hỏi.

“Con dao găm mà anh sẽ đâm vào tim em ấy.”

“Mặc kệ nó đi,” anh ta trả lời bằng giọng trống rỗng. “Bây giờ không phải lúc nói chuyện về dao găm hay chết chóc.”

Nhưng Letitia vẫn cứ bướng bỉnh. Nàng cứ khăng khăng đòi xem nó. Anh ta bỏ hai bàn tay ra khỏi người nàng, rồi chìm vào sự im lặng ảm đạm.

Sự việc trên dạy cho Letitia biết rằng mình có thể chơi đùa với anh ta. Nàng không còn sợ sự yên lặng ảm đạm, cái sọ to tướng trên cái cổ đầy sức mạnh, đôi môi mỏng, bộ mặt tái, và sức mạnh kinh khủng của hai bàn tay nhỏ lạ lùng của anh ta nữa. Nàng biết rằng mình có thể đùa giỡn với anh ta.

Những con đom đóm lớn bay trong không trung, rồi đậu xuống cỏ ở xung quanh họ. Khi cỗ xe ngựa đã dừng lại trước ngôi biệt thự, Letitia quay lại nhìn rồi kêu lên thích thú. Những đốm sáng rơi xuống như cơn mưa vàng. Những con côn trùng phát sáng này bay xung quanh cửa sổ, mái nhà, dây leo nở đầy hoa bám vào tường. Chúng xâm nhập cả vào tận trong sảnh.

Letitia dừng lại dưới chân cầu thang tối, nhìn những đốm sáng le lói ánh lân tinh, và sợ hãi hỏi bằng giọng trầm có vẻ tự chế giễu hầu như không thể nhận thấy: “Anh Stephen ơi, chúng không làm cho cả ngôi nhà này bốc cháy đấy chứ?”

Gã da đen Scipio, vừa mới hiện ra nơi ngưỡng cửa với cây đèn trên tay, nghe những lời nàng nói nên toét miệng cười.

Thêm vào giỏ hàng thành công