QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXII)
HAY CÓ BAO GIỜ SỢI DÂY BẠC BỊ NỚI LỎNG
VI
Gần Đêm Thứ Mười Hai, Randolph von Stettner cùng vài người bạn đến lâu đài Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian. Những chàng trai trẻ này gọi điện thoại cho Christian, và chàng cô đơn quá lâu rồi nên sẽ rất vui nếu được đón tiếp họ. Gặp Randolph lúc nào chàng cũng thấy vui. Anh này mang theo mình hai chiến hữu, một nam tước Forbach và một đại úy von Griesingen nào đó, và thêm một người bạn khác nữa, một giáo viên đại học trẻ tuổi, người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc của mình ở Bonn nên cũng mặc quân phục. Trước đó Christian đã gặp anh ta trong một buổi lễ kỷ niệm của hội Borussia.
Một bữa ăn ngon lành được dọn lên, tiếp theo sau đó là xì gà và rượu mùi hảo hạng.
“Thật là yên tâm khi thấy anh vẫn chưa khinh bỉ những thoải mái của xác thịt,” Randolph von Stettner nói với Christian.
Đại úy von Griesingen thở dài: “Làm sao người ta có thể khinh bỉ chúng được nhỉ? Chúng hành hạ chúng ta và chúng bay lượn khêu gợi xung quanh chúng ta! Hãy nghĩ về tất cả những thứ đáng thèm muốn trong đời – đàn bà, ngựa, rượu vang, quyền lực, danh tiếng, tiền, tình yêu! Có một gã buôn nữ trang ở Frankfort, tên là David Markuse, có một viên kim cương mà người ta bảo là trị giá nửa triệu. Tôi không khao khát món đồ đặc biệt đó. Nhưng thế giới đầy rẫy những thứ khiến ta say mê và mang lại niềm vui.”
“Viên kim cương đó được gọi là Ignifer,” tiến sĩ Leonrod nhận xét, “kẻ phiêu lưu mạo hiểm trong số những viên đá quý.”
“Ignifer là tên thích hợp dành cho một viên kim cương,” Randolph nói. “Nhưng sao anh lại nói về nó một cách nghiêm trọng như vậy? Ngoại trừ giá bán, điều gì làm nó khác biệt so với những viên đá khác? Nó đã có một số phận lạ lùng đến thế sao?”
“Không còn nghi ngờ gì nữa,” tiến sĩ Leonrod nói, “một số phận lạ lùng nhất. Tôi tình cờ biết chi tiết vì, trong vai trò một nhà khoáng vật học chuyên nghiệp, tôi cũng quan tâm nhất định đến những viên đá quý.”
“Kể cho chúng tôi nghe đi nào!” những sĩ quan trẻ kêu lên.
“Dù cho người mua Ignifer có là ai chăng nữa,” tiến sĩ Leonrod bắt đầu, “thì người đó cũng không phải là ít can đảm. Đó là một món nữ trang bi thảm. Người ta đã chứng minh được rằng chủ sở hữu đầu tiên của nó là Madame de Montespan. Ngay sau khi vừa có được nó thì bà ta bị nhà vua xua đuổi. Người tiếp theo sở hữu nó là Marie Antoinette. Lúc bấy giờ nó nặng chín mươi lăm ca ra. Nhưng trong thời Cách Mạng nó đã bị đánh cắp và thất lạc, và phải năm mươi năm sau mới lại xuất hiện. Viên đá tìm lại được này nặng sáu mươi ca ra. Một người Anh, tên là Thomas Horst, đã mua nó và ngay sau đó thì bị giết chết. Những người thừa kế bán nó cho một người Mỹ. Cái bà mang nó, một bà Malmcote nào đó, đã bị một gã điên bóp cổ trong một buổi khiêu vũ. Rồi hoàng thân Alexander Tshernitsheff mang nó về Nga, tặng cho ả nhân tình đào hát của ông ta. Một gã tình nhân khác đã bắn chết ả ngay trên sân khấu. Ông hoàng thân bị một tên hư vô chủ nghĩa cho nổ bom tan xác. Rồi viên đá được đưa sang Paris, được ông vua Hồi giáo Abdul Hamid mua tặng cho bà vợ được sủng ái của mình. Người đàn bà này bị đầu độc, còn chuyện gì đã xảy ra với ông vua Hồi giáo kia thì tất cả các anh đều biết rồi đấy. Ignifer lại trôi giạt sang phía Tây sau cuộc cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ, và rồi lại quay về phương Đông. Bởi vì chủ nhân mới của nó, Tavernier, trên đường đi Ấn Độ đã bị đắm tàu và chết đuối. Người ta nghĩ rằng đã mất viên kim cương này trong một thời gian. Nhưng đó là một sai lầm; nó được gửi dưới một hầm an toàn trong một ngân hàng ở Calcutta [Thành phố ở miền Đông Ấn Độ - ND]. Bây giờ nó quay về châu Âu, và đang được rao bán.”
“Viên đá này hẳn chứa đựng một tâm hồn xấu xa,” Randolph nói. “Thú thực tôi chẳng thèm muốn nó chút nào. Tôi rất ít mê tín dị đoan; nhưng khi những sự việc thuyết phục như trong trường hợp này, thì thái độ hoài nghi được khai sáng nhất dường như là đáng trách.”
“Tất cả những chuyện đó quan trọng gì nếu như viên đá này tuyệt đẹp, nếu như nó thực sự đáng yêu không gì sánh kịp?” Christian kêu lên với vẻ thách thức, tuy vậy hình như chàng đang nói với chính mình thì đúng hơn. Sau câu trên chàng nói ít, ngay cả khi buổi nói chuyện đã xoay sang những chủ đề khác.
Trưa hôm sau chàng bảo đánh xe ra, rồi lái đi Frankfort đến hiệu bán đồ nữ trang của David Markuse.
VII
Ngài Markuse đã biết Christian.
Ignifer được cất trong két chống cháy đặt dưới hầm chống trộm. Ngài Markuse nhấc viên đá lên khỏi chiếc hộp đựng nó, đặt lên cái bàn trải khăn màu xanh lục, bước tránh sang bên, rồi nhìn Christian.
Christian im lặng nhìn viên đá sáng rực. Chàng nghĩ: Đây là thứ hiếm có và đắt tiền nhất thế giới; không gì có thể vượt qua được nó. Và chàng lập tức hiểu rõ rằng mình phải có thứ nữ trang này.
Viên kim cương có màu vàng phớt nhẹ nhất. Nó đã bị cắt để cho có rất nhiều mặt. Người ta cắt một đường rãnh nhỏ ở gần một đầu để phụ nữ có thể đeo nó quanh cổ bằng dây chuyền mỏng hay dây lụa.
Ngài Markuse đặt nó lên trên một tờ giấy trắng rồi hà hơi vào. “Không phải nước đầu tiên,” ông ta nói, “nhưng nó không có cả gỉ lẫn mắt. Không có dấu vết rạn hay nứt, không mây không bọt. Không khuyết điểm. Viên đá này là một trong những phép nhiệm màu của tự nhiên.”
Giá bán là năm trăm năm mươi ngàn mark. Christian trả xuống nửa triệu. Ngài Markuse hỏi ý kiến cái đồng hồ của ông ta. “Tôi trót hứa với một quý cô rằng sẽ giữ nó lại,” ông ta tuyên bố. “Nhưng quá giờ rồi.” Họ thống nhất với nhau giá bán là năm trăm hai mươi ngàn mark. Một nửa trả bằng tiền mặt, một nửa thanh toán bằng ngân phiếu chia làm hai đợt khác nhau. “Tên Wahnschaffe là lời bảo đảm chắc chắn,” lão lái buôn nói.
Christian cân viên kim cương trên bàn tay, rồi lại đặt nó xuống.
David Markuse mỉm cười. “Trong cái nghề kinh doanh của tôi người ta phải học cách nhận định con người,” ông ta nói không chút suồng sã. “Anh đang mua với dự định sâu sắc hơn anh có thể biết. Linh hồn viên kim cương này quyến rũ anh. Bởi vì viên kim cương này có linh hồn đấy.”
“Ý ông thực sự là thế sao?” Christian ngạc nhiên.
“Tôi biết điều đó. Có những con người không còn chút sĩ diện nào nữa khi trông thấy một món nữ trang tuyệt đẹp. Hai cánh mũi họ phập phồng, hai má tái nhợt, hai bàn tay run rẩy ngập ngừng, hai đồng tử giãn rộng, mỗi động tác đều phản bội họ. Cũng có những người rụt rè, hay không còn cảm giác gì nữa, hay buồn bã. Anh sẽ nhìn thấu bản chất con người một cách kỳ lạ. Những cái mặt nạ sẽ rơi xuống. Kim cương làm cho con người ta trở nên trong suốt.”
Buổi nói chuyện xoay sang chỗ thiếu cẩn trọng khiến cho Christian thấy khó chịu. Nhưng trước đó chàng vẫn thường nhận thấy rằng có điều gì đó trong con người mình mời gọi người khác cởi mở và giãi bày tâm sự. Chàng đứng dậy, hứa tối hôm đó sẽ quay trở lại.
“Quý cô mà tôi đã nói đến,” Markuse nói tiếp lúc đi với chàng ra cửa, “người hôm qua đã đến đây, là một quý cô thực sự tuyệt diệu. Lúc cô ta bước vào, tôi nghĩ thế này: đi dạo thôi mà cũng phải xinh đẹp đến thế sao? Ngay sau đó tôi khám phá ra rằng cô ta là một vũ nữ nổi tiếng. Cô ta dừng chân một ngày trong khách sạn Cung Điện, trên đường đi từ Paris sang Nga, chỉ để được trông thấy Ignifer. Tôi cho cô ta xem viên đá này. Cô ta đứng nhìn nó ít nhất phải năm phút. Cô ta không nhúc nhích, ôi vẻ mặt đó! Chà, giá món nữ trang này không phải phần lớn của tất cả những gì tôi có trên đời, thì hẳn là tôi đã cầu xin cô ta hãy giữ lấy nó. Trong việc kinh doanh của tôi không có nhiều những khoảnh khắc như thế. Cô ta hứa hôm nay sẽ quay lại, nhưng, như tôi đã nói với anh, cô ta không giữ lời.”
“Ông không biết tên cô ta sao?” Christian bẽn lẽn hỏi.
“Ồ, có chứ. Cô ta tên là Eva Sorel. Anh đã bao giờ nghe nói đến cô ta chưa?”
Máu dồn lên mặt Christian. Chàng buông quả đấm cửa. “Eva Sorel ở đây sao?” chàng lẩm bẩm. Chàng trấn tĩnh lại, mở cửa sang một căn phòng trống trải trải thảm đỏ, tường ốp gỗ mun. Hầu như đúng lúc đó cánh cửa phía đối diện cũng bật mở; và, Eva Sorel dẫn đầu bốn quý ông, bước qua ngưỡng cửa.
Christian đứng hoàn toàn bất động.
“Eidolon!” Eva kêu lên, và cô ta lại thực hiện cái động tác hăng hái không thể bắt chước được của mình là chắp hai bàn tay lại.
VIII
Christian không biết những quý ông đi cùng với cô ta. Nét mặt và quần áo cho thấy họ là người nước ngoài. Đã quen với những sự kiện bất ngờ trong cuộc sống hàng ngày của Eva, họ chăm chú nhìn Christian với vẻ tò mò điềm tĩnh.
Toàn bộ thân hình Eva được bao bọc trong tấm áo choàng da chuột chũi xám. Lông chim diệc, móc hồng ngọc tuyệt diệu, trang điểm cho chiếc mũ lưỡi trai lông thú của cô ta. Mái tóc màu mật ong lộ ra dưới chiếc mũ lưỡi trai đó. Không khí mùa Đông lạnh lẽo tặng sắc hồng mịn tuyệt đẹp cho làn da cô ta.
Chỉ bằng vài bước chân, cô ta đã lao đến bên Christian, hai bàn tay đeo găng trắng tìm kiếm cả hai bàn tay chàng. Những vẻ lớn lao và nồng cháy của cô ta đưa niềm vui tỉnh táo và những nhận thức về sự hiện diện của cô ta quay trở về với linh hồn chàng, và nỗi sợ hãi xuất hiện trên nét mặt chàng. Chàng thấy mình vô phương tự vệ như quả bóng bị bàn tay người khác ném. Chàng chờ đợi mục tiêu của mình.
“Anh mua Ignifer rồi sao?” Đó là câu hỏi đầu tiên của cô ta. Vì chàng im lặng, nên cô ta nhướn lông mày lên quay sang phía David Markuse.
Lão lái buôn cúi chào nói: “Tôi đã nghĩ rằng mình không còn có thể trông mong gì được ở bà nữa, thưa bà. Chân thành xin bà thứ lỗi cho.”
“Ông đúng. Tôi do dự quá lâu.” Eva nói thứ tiếng Đức du dương của cô ta, pha chút giọng nước ngoài. Quay sang phía Christian cô ta nói tiếp: “Eidolon à, anh hay em có nó thì có lẽ cũng như nhau thôi. Nó giống như trái tim bị tham vọng biến thành pha lê. Nhưng anh không tham vọng. Nếu anh như thế, thì chúng ta đã gặp nhau ở đây như hai con chim bị bão thổi bay vào cùng một hang động. Viên đá này quý đến mức em thấy nó hầu như ma quái, và em không cho phép kẻ không biết giá trị của nó tặng nó cho mình. Và ai ở đó? Họ tặng gì cho người ta? Những món hàng trong một cửa hiệu, tất cả chỉ có thế.”
David Markuse khâm phục nhìn cô ta, và gật đầu.
“Người ta bảo nó mang tai họa lại cho người sở hữu mình,” Christian hầu như thì thầm.
“Anh định thử thách bản thân, và làm sáng tỏ điều đó sao, Eidolon? Anh định thách thức yêu ma đánh bại mình sao? A, đó cũng chính là điều lôi cuốn em đấy. Tên nó làm em đố kỵ. Khi em nắm giữ nó, nó dường như giống rốn Phật, mà người ta không thể hướng suy nghĩ của mình sang hướng khác, nếu từng một lần được trông thấy.”
Vì nhận thấy những người xung quanh dường như khiến Christian do dự, nên cô ta nắm cánh tay chàng, kéo vào đằng sau những tấm màn của một hốc cửa sổ.
“Việc nó mang tai họa lại cho con người là chắc chắn,” Christian nhắc lại một cách máy móc. “Eva, em khao khát nó, vậy thì làm sao anh giữ nó được?”
“Hãy giữ nó để phá bỏ bùa mê xấu xa,” Eva trả lời và bật cười. Nhưng thái độ nghiêm túc của chàng vẫn không thay đổi; và cô ta làm một cử chỉ xin lỗi vì đã cười, như thể gạt tâm trạng thoải mái quá mức của mình sang một bên. Cô ta im lặng nhìn chàng. Đôi mắt cô ta xanh như ma la sít, trong ánh sáng sắc gọn phản chiếu từ tuyết. “Anh sẽ làm gì với bản thân mình?” cô ta hỏi. “Đôi mắt anh có vẻ cô độc.”
“Anh đã sống khá cô đơn trong một thời gian,” Christian trả lời. Những lời nói của chàng khô khan và rõ ràng. “Cả Crammon cũng đã bỏ rơi anh.”
“Ivan Becker đã viết thư cho em về anh,” Eva nói bằng giọng không nghe rõ. “Em đã hôn bức thư đó. Em mang nó trong ngực, và cứ nhắc đi nhắc lại với mình những chữ ở trong đó. Có chuyện thức tỉnh như thế sao? Linh hồn có thể hiện ra từ bóng tối, như bông hoa hiện ra từ hành sao? Nhưng anh cứ đứng đó trong niềm kiêu hãnh của mình, và không động đậy. Nói gì đi chứ! Chúng ta không còn nhiều thời gian đâu.”
“Tại sao phải nói?”
Dù đôi mắt có vẻ không thấy gì, nhưng chàng vẫn thấy rằng mặt Eva đã thay đổi. Trên đó đã có vẻ nghiêm khắc mới mẻ, và ý chí ghê gớm điều khiển những sợi dây thần kinh, thậm chí đến cả cử động nâng lên hạ xuống của hai hàng lông mi dài. Sự trải đời cho nó mượn vầng hào quang giản dị, và ưu thế vô biên so với người khác cho nó mượn vẻ trang nghiêm.
“Em không quên rằng đây là thành phố nơi anh sống,” cô ta nói, “nhưng trong những giờ có nhu cầu bức bách này không có nơi nào dành cho anh. Họ đếm bước chân em và nằm rình chờ lúc em thức giấc. Thứ em nên có là một nhà tù và một người bạn đủ không ích kỷ để ép buộc em phải giữ mình hơn. Ở Lisbon nữ hoàng tặng em một con chó lớn tuyệt đẹp, nó tận tụy đến mức em cảm thấy nó trong chính thân xác mình. Một tuần sau người ta thấy nó chết vì bị đầu độc tại cổng vào vườn. Đáng nhẽ em phải mặc đồ để tang nó. Nó mới lặng lẽ và cảnh giác làm sao, và có thể yêu được nhiều làm sao!” Cô ta khẽ rùng mình rướn vai, lại hạ xuống, rồi nói tiếp bằng giọng nhanh. “Em sẽ cho gọi anh đến vào một hôm nào đó. Anh sẽ đến chứ? Anh sẽ sẵn sàng chứ?”
“Anh sẽ đến,” Christian trả lời một cách rất giản dị, nhưng trái tim chàng rộn ràng.
“Có phải cảm xúc mà anh dành cho em vẫn như trước – không thay đổi và không thể đổi thay?” Có vẻ hân hoan trữ tình không thể diễn tả nổi trong ánh mắt cô ta, và thân thể cô ta, xúc động vì tinh thần của nó, dường như hiện ra từ những tấm mạng.
Chàng chỉ cúi đầu.
“Thế còn vấn đề cortesia thì sao?” Cô ta tiến lại gần chàng hơn, vì thế chàng có thể cảm thấy hơi thở của cô ta trên làn môi mình. “Anh ấy mỉm cười,” cô ta kêu lên, đôi môi hé mở, để lộ hàm răng, “thay vì chỉ một lần quỳ xuống vì phẫn nộ hay vui sướng – anh ấy lại mỉm cười. Coi chừng đấy, anh với nụ cười của anh, không biết chừng một ngày nào đó em sẽ muốn dập tắt nụ cười của anh đấy.” Cô ta rút găng tay ra khỏi bàn tay phải, chìa bàn tay trần cho chàng, và chàng hôn lên nó bằng đôi môi mình. “Thỏa thuận nhé, Eidolon,” cô ta nói, giờ đây với vẻ trầm lặng và quyến rũ, “anh phải sẵn sàng đấy nhé.” Đi ra khỏi hốc tường, cô ta quay sang phía những quý ông đã đến cùng với mình, từ nãy đến giờ họ vẫn thì thầm trò chuyện với nhau: “Messieurs, nous sommes bien pressés [Thưa các quý ông, chúng ta đang vội - tiếng Pháp – ND].”
Cô ta cúi đầu chào lão lái nữ trang, lông chim diệc rung rinh. Bốn quý ông vội vàng để cho cô ta ra trước họ, rồi lặng lẽ và tôn kính đi theo sau.
IX
Christian dừng lại trong lần tiếp theo đi qua làng và trông thấy Amadeus Voss trong ô cửa sổ.
Voss bất thình lình đứng dậy mở cửa sổ, thế là Christian tiến lại gần.
Lúc bấy giờ đang vào độ tan băng. Nước nhỏ giọt xuống từ trên mái nhà và máng xối. Christian cảm thấy gió ấm thổi không khí ẩm vào mình đến phát đau. Đôi mắt Amadeus Voss tỏa ánh sáng lấp lánh màu vàng nhạt đằng sau hai tròng kính dày cộp. “Chúng ta hẳn phải là những người quen cũ,” hắn nói, “dù cho từ lúc chúng ta đi tìm những quả mâm xôi trong các bờ giậu đến giờ đã bao thời gian trôi qua. Lâu quá rồi.” Hắn bật cười hơi yếu ớt một chút.
Christian định sẽ hỏi thăm người anh trai đã chết của Amadeus. Đó là biến cố nằm trong sương mù của quá khứ mà chàng không thể hiểu rõ, dù đã suy nghĩ nhiều.
“Tôi cho rằng tất cả mọi người đều đang băn khoăn về tôi,” Voss nói bằng giọng của kẻ muốn biết người ta đang nói những gì. “Tôi dường như là cái gai trong mắt họ. Anh không nghĩ như thế sao?”
“Tôi không dám mạo muội phán xét,” Christian dè dặt nói.
“Trông mặt anh lúc nói câu đó kìa!” Voss lẩm bẩm, nhìn Christian từ đầu xuống chân. “Anh mới kiêu hãnh làm sao. Tuy vậy, chắc anh dừng bước vì tò mò.”
Christian nhún vai. “Anh còn nhớ chuyện đã xảy ra khi tôi ở đây với cha tôi không?” chàng nhẹ nhàng và lịch sự hỏi.
“Chuyện kiểu gì? Tôi không biết. Hay – nhưng khoan đã! Ý anh muốn nói đến vụ con lợn kia phải không? Khi họ giết con lợn đó trong quán trọ ở đằng kia, và tôi ...”
“Rất đúng. Chính là chuyện đó đấy,” Christian vừa nói vừa khẽ cười. Chàng gần như không nói gì khi quang cảnh và sự việc kia hiện lên rõ nét lạ lùng trong tâm trí mình.
Cậu, Amadeus và Dietrich vừa câm vừa điếc đang đứng ở cổng. Và con lợn kia bắt đầu rống lên. Đúng lúc đó Amadeus dang hai cánh tay ra, chúng run dữ dội trong không khí. Trong tiếng rống dài, lớn và the thé của con thú đau đớn đang sắp chết có âm điệu gì đó mới mẻ và đáng sợ đối với cả Christian, và khiến cho cậu chạy đến nơi nó phát ra. Cậu trông thấy con dao sáng bóng, cánh tay hết nâng lên lại hạ xuống của gã hàng thịt, những cái chân ngắn đầy lông cứng vẫy vùng, và thân xác quằn quại run rẩy của nạn nhân. Amadeus, lảo đảo đi theo sau cậu, sùi bọt mép, chỉ tay và rền rĩ: “Máu, máu!” Christian trông thấy máu dưới đất, trên con dao, trên cái tạp dề trắng của gã đàn ông. Cậu không biết chuyện gì xảy ra sau đó. Nhưng Amadeus biết.
Hắn nói: “Nghe con lợn rống lên, tôi co giật dữ dội. Tôi nằm im bất động như khúc gỗ trong nhiều giờ. Cha mẹ tôi rất lo sợ, bởi vì trước đó tôi chưa từng lên cơn dữ dội như thế bao giờ. Chắc anh còn nhớ họ đã chọc ghẹo và chế giễu tôi vì đã ngất đi như thế nào. Họ bước vào vũng máu rồi giậm chân đi quanh trong đó cho máu tóe lên. Việc người anh trai câm của tôi nhận thấy việc đó chỉ càng làm cho tôi khích động thêm. Anh ta ú ớ nói gì đó trong cổ họng, khẩn cầu giơ hai bàn tay lên, trong lúc mẹ tôi vội vàng chạy từ trong nhà ra. Đúng lúc đó anh đấm vào mặt anh ta.”
“Đúng. Tôi đã đánh anh ta,” Christian nói, mặt chàng tái nhợt đi.
“Tại sao? Tại sao anh lại làm như thế? Từ hôm đó chúng ta không gặp lại nhau, chỉ trông thấy nhau từ xa thôi. Nghĩa là tôi đã trông thấy anh. Anh quá kiêu hãnh và quá bận rộn với bạn bè, làm sao trông thấy tôi được. Nhưng tại sao hôm đó anh lại đánh Dietrich? Anh ấy lặng lẽ tôn sùng anh. Anh ấy đi theo anh khắp nơi. Anh không nhớ sao? Chúng ta vẫn thường cười với nhau vì chuyện đó. Nhưng từ hôm đó trở đi anh ấy đã thay đổi – thay đổi một cách rõ rệt.”
“Tôi tin rằng lúc đó tôi đã căm ghét anh ta,” Christian trầm ngâm nói. “Tôi ghét anh ta bởi vì anh ta không thể nghe và nói. Tôi thấy việc đó giống như là tính bướng bỉnh có ác ý vậy.”
“Lạ lùng! Anh cảm thấy thế thì thật là lạ lùng.”
Cả hai cùng im lặng. Christian bỏ đi. Voss tì hai cánh tay lên bậu cửa sổ chồm người xa ra ngoài. “Báo viết rằng anh đã mua một viên kim cương trị giá nửa triệu. Có thật thế không?”
“Đúng vậy,” Christian nói.
“Chỉ một viên kim cương mà hơn nửa triệu ư? Tôi đã nghĩ rằng đó chỉ là tin vịt trên báo. Người ta sẽ được trông thấy viên kim cương đó chứ? Anh sẽ cho tôi xem nó chứ?” Trên mặt hắn có vẻ gì giống như nổi loạn đáng sợ, thèm muốn hổn hển, nhưng cũng có cả giễu cợt nữa. Christian giật mình.
“Rất sẵn lòng, nếu anh đến thăm tôi,” chàng trả lời, nhưng thầm quyết định rằng sẽ từ chối Voss, nếu gã này đến thật.
Bởi vì một bí mật đã lại khuấy động chàng, một vực sâu đã mở ra trước hai bàn chân chàng, một cánh tay đã duỗi ra ở đằng sau chàng.
X
Một đêm kia Letitia choàng tỉnh giấc vì nghe tiếng những bước chân đang kéo lê và chạy, tiếng thở của những người truy đuổi và kẻ bị truy đuổi, những tiếng thì thầm và những lời nguyền rủa giọng khàn khàn, lúc gần, lúc xa. Nàng ngồi dậy lắng tai nghe. Buồng ngủ của nàng hướng ra vườn. Những cánh cửa của nó mở ra hiên bao quanh toàn bộ ngôi nhà.
Rồi những bước chân vội vàng tiến lại gần; nàng trông thấy những bóng đen tách mình ra khỏi màn đêm màu xanh nhạt lướt qua: một người, hai người, ba người, rồi sau đó một chốc lát là đến người thứ tư. Nàng hoảng sợ, nhưng ghét gọi kêu cứu. Đánh thức Stephen, ngủ ở phòng kế bên, là một việc mạo hiểm đối với nàng, cũng như đối với tất cả những người khác. Vào những lúc như thế anh ta sẽ rống lên như con bò, đấm đá loạn xạ.
Letitia bật cười và rùng mình trước ý nghĩ trên.
Nàng chiến đấu với nỗi sợ hãi, đứng dậy, khoác lên mình tấm áo choàng, rồi quả quyết bước ra hiên. Đúng lúc đó những đám mây dày tách ra, để lộ vầng trăng. Ngạc nhiên trước ánh sáng bất ngờ, bốn cái bóng kia bất thần dừng lại, va vào nhau, đứng thở hổn hển và giương mắt nhìn.
Letitia trông thấy ông già Gottfried Gunderam và ba người con trai của ông ta, Riccardo, Paolo và Demetrios, những người anh em của chồng nàng. Giữa người cha và những người con trai của ông ta đã có một mối nghi ngờ không thể dập tắt. Họ rình rập và phục kích lẫn nhau. Khi trong nhà có tiền, ông già sẽ không dám lên giường ngủ, và mỗi người anh em sẽ kết tội tất cả những người còn lại là muốn ăn cắp của cha. Letitia đã quá biết chuyện này rồi. Điều mới mẻ với nàng là họ câm lặng phẫn nộ và thù hận nhau đến mức rượt đuổi nhau trong đêm, mỗi người đồng thời vừa là người đuổi vừa là người bị đuổi, người nào cũng đầy căm thù kẻ ở phía trước mình và đầy sợ hãi kẻ ở phía sau mình. Nàng bật cười và rùng mình.
Ông già là người đầu tiên lẻn đi. Ông ta lê bước về phòng mình, cứ để nguyên quần áo mà nằm vật ra giường. Bên cạnh giường là hai cái tráp du lịch khổng lồ, đã lèn chật đồ và bị khóa lại. Chúng ở đó như thế đã hai mươi năm. Trong suốt khoảng thời gian đó, ngày nào ông ta cũng ít nhất một lần nhất quyết sẽ bỏ trốn đến ngôi nhà ở Buenos Ayres, hay thậm chí sang nước Mỹ, những khi mối xung đột, đầu tiên là với vợ, sau đó là với những người con trai, trở nên không thể chịu đựng nổi đối với ông ta. Ông ta chưa bao giờ tiến hành cuộc bỏ trốn đó; nhưng hai cái tráp thì vẫn luôn luôn sẵn sàng.
Những người anh em kia cũng biến mất một cách lặng lẽ và bí mật. Trong khi đứng trên hiên ngắm nhìn vầng trăng, Letitia nghe thấy tiếng lạch cạch của một cái máy hát. Riccardo mới mua nó trong thành phố, và đêm đêm anh ta vẫn thường hay cho nó chạy.
Letitia bước ra xa hơn một chút, rồi nhòm sang căn phòng trong đó ba người anh em đang ngồi chơi xì phé với những bộ mặt ảm đạm. Cái máy hát rống lên một điệu waltz thô tục qua cái cổ họng bằng đồng thau của nó.
Thế là Letitia bật cười và rùng mình.
