favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXIII)

HAY CÓ BAO GIỜ SỢI DÂY BẠC BỊ NỚI LỎNG

XI

Christian tự hỏi không biết Amadeus có đến không. Hai ngày trôi qua trong tình trạng hồi hộp pha chút thất vọng.

Chàng thực sự có ý định đi Waldleiningen để chăm sóc cho những con ngựa của mình. Đôi lúc chàng dường như thật sự trông thấy đôi mắt dịu dàng nhưng hăng say, bộ lông mượt như nhung, và trạng thái căng thẳng thần kinh khả quan giao động giữa phẩm giá và bồn chồn của chúng. Chàng khoan khoái nhớ lại mùi chuồng ngựa.

Con ngựa thuần giống Scotland mà chàng mua của Denis Lay sẽ chạy trong những cuộc đua mùa Xuân. Những người giữ ngựa của chàng cho chàng biết rằng con vật tuyệt đẹp này đã có phong độ tồi trong vài tuần, và chàng nghĩ có lẽ do nó nhớ bàn tay dịu dàng của mình. Tuy vậy chàng đã không đi Waldleiningen.

Sang ngày thứ ba Amadeus Voss nhờ một người làm vườn đến hỏi liệu tối hôm đó hắn có thể đến chơi được không. Thay vì thế chiều hôm đó vào lúc bốn giờ Christian đã xuống gõ cửa nhà người trông coi rừng.

Voss nghi ngờ nhìn chàng. Bằng bản năng của giai cấp bị áp bức hắn đã đoán ra được cái sự thật rằng Christian không muốn hắn đến nhà mình. Nhưng Christian không hề biết rõ về những động cơ của chính mình như Amadeus nghi ngờ. Chàng đánh hơi thấy mối nguy hiểm. Một phép yêu thuật nào đó ở trong đó kéo chàng nửa tỉnh nửa mê tới phía trước để gặp nó.

Nhìn quanh căn phòng đơn sơ nhưng sạch sẽ và ngăn nắp, Christian trông thấy, trên phần tường phía trên giường, những mảnh giấy trắng trên đó có viết những vần thơ trong kinh Thánh bằng chữ to. Có một câu thế này: “Anh ta bị dẫn đến chỗ tên đồ tể như một con cừu; và như con cừu non câm lặng trước kẻ xén lông mình, anh ta không mở miệng.” Và một câu khác thế này: “Vì đó là một ngày rắc rối, ngày chà đạp, và ngày lúng túng do Chúa của con chiên trong thung lũng bóng ma, xô ngã những bức tường, và của tiếng hét gọi lên những ngọn núi.” Và câu này nữa: “Chúa nói với tôi, Trong vòng một năm, trong vòng những năm của một tên tay sai, và tất cả vinh quang của Kedar sẽ lụi tàn.” Và cuối cùng là câu này: “Ta biết những công việc của mi, rằng mi không lạnh cũng không nóng; ta ước mi lạnh hoặc nóng. Thế là vì mi chỉ âm ấm, và không lạnh hoặc nóng, nên ta sẽ phun mi ra khỏi miệng ta.”

Christian tò mò nhìn Amadeus Voss rất lâu. Rồi chàng hỏi, bằng giọng rất cẩn trọng, tuy vậy không trách khỏi có chút giễu cợt trần tục: “Anh sùng đạo lắm à?”

Amadeus cau mày trả lời: “Tôi trả lời thế nào thì cũng chẳng mấy ý nghĩa với anh. Anh đến để chất vấn tôi đấy à? Chúng ta có gì chung mà câu trả lời cho câu hỏi đó có thể tiết lộ không? Amadeus Voss và Christian Wahnschaffe - chả phải đó là hai cái tên nằm ở hai thái cực khác nhau sao? Có hình tượng nào diễn tả được những sự khác biệt chia cách hai chúng ta không? Niềm tin của anh và của tôi! Và những điều như thế là có thể trên cùng một quả trái đất!”

“Tuổi thơ của anh quá khắc nghiệt sao?” Christian thơ ngây hỏi.

Voss bật lên một tiếng cười ngắn, liếc mắt nhìn Christian. “Anh biết những ngày có bữa ăn là gì không? Dĩ nhiên anh không biết. Ồ, đó là những ngày anh đến ăn tại nhà những người lạ mặt có lòng từ thiện. Mỗi ngày trong cái tuần lễ đó anh ăn với một gia đình khác nhau. Tuần này lặp lại tuần trước. Để không bị nghĩ là vô ơn anh phải vâng lời và nhún nhường. Ngay cả khi dạ dày có quặn lên vì một món ăn nào đó, thì anh cũng phải giả vờ làm như nó ngon tuyệt. Nếu như người ông cười, thì anh cũng phải cười theo; nếu như một ông chú nghĩ rằng mình hóm hỉnh, thì anh cũng phải toét miệng ra mà cười. Nếu như cô con gái trong nhà có tỏ ra láo xược, thì anh cũng phải lặng im. Nếu như họ đáp lại lời chào hỏi của anh, thì đó là một đặc ân to lớn; tấm áo bành tô sờn cũ với lớp vải lót rách bươm mà họ cho anh khi mùa Đông đến bắt anh phải mãi mãi biết ơn. Anh đến để biết tất cả những tâm trạng đen tối của tất cả những con người mà anh ngồi cùng bàn ăn, tất cả những quan điểm cũ rích, những lối nói và cách diễn đạt đạo đức giả của họ; và vì cái giờ cần thiết của mỗi ngày mà anh phải học cách rèn luyện loại giả vờ đặc biệt của nó. Những ngày có bữa ăn nghĩa là như thế đấy.”

Hắn đứng dậy, đi tới đi lui, rồi lại ngồi xuống. “Quỷ hiện ra với tôi sớm,” hắn nói bằng giọng trống rỗng. “Có lẽ thời thơ ấu của tôi đã đón nhận một kinh nghiệm nào đó đau khổ cho trái tim hơn những người khác, có lẽ chất độc của nó ngấm vào tôi sâu hơn. Nhưng anh không thể quên được. Việc người cha nát rượu đánh đập mẹ tôi đã khắc tạc lên linh hồn tôi. Đêm thứ Bảy nào ông ta cũng làm việc đó với sự đều đặn có ý thức. Đó là cảnh tượng không thể bị xóa nhòa.”

Christian không rời mắt khỏi mặt Amadeus.

Voss nói tiếp một cách nhẹ nhàng, nhưng với ánh mắt tàn nhẫn: “Một đêm trước lễ Phục Sinh, lúc tôi tám tuổi, ông ta lại đánh mẹ tôi. Tôi lao ra sân, kêu gào gọi hàng xóm giúp đỡ. Rồi tôi nhìn lên cửa sổ, trông thấy mẹ tôi đang đứng đó siết chặt hai bàn tay lại trong cơn tuyệt vọng. Bà trần truồng.” Và giọng hắn gần như tắt lịm thành im lặng lúc nói thêm: “Ai là kẻ dám nhìn chính mẹ mình trần truồng?”

Hắn lại đứng lên đi đi lại lại trong phòng. Hắn nghĩ về bản thân quá nhiều đến mức hầu như thực sự chỉ nói cho một mình mình nghe. “Có hai điều khiến tôi suy nghĩ và băn khoăn ngay từ khi còn bé. Thứ nhất, đó là có rất nhiều người nghèo khổ, mà cha tôi tố giác vì ăn cắp ít gỗ, và họ đã bị tống vào tù. Tôi vẫn thường nghe một bà lão bé nhỏ, khốn khổ hay một thằng bé đói ăn, rách rưới nào đó van xin lòng thương xót. Ở đây không có lòng thương xót nào cả. Cha tôi là người trông coi rừng, và phải thi hành bổn phận của ông ta. Thứ hai, có nhiều người giàu có sống trên miền đất này của đất nước, trong những tòa lâu đài, trên những điền trang, trong những ngôi nhà nghỉ để đi săn của họ, và họ là những con người mà dù có bốc đồng hoang dại hết sức thì người ta cũng phải chấp nhận. Đứng giữa hai nhóm người này giống như đứng giữa hai cái xy lanh thép lớn đang xoay tròn. Cuối cùng chắc chắn sẽ bị nghiền nát.”

Hắn chằm chằm nhìn vào không khí một lát. “Anh nghĩ sao về một tên chỉ điểm?” bất thình lình hắn hỏi.

Christian trả lời với nụ cười gượng gạo: “Đó không phải là một con người tốt.”

“Nghe tôi nói đây. Ở trường dòng tôi có một người bạn học tên là Dippel. Học lực có hạn, nhưng anh ta là một gã hiền lành, chăm chỉ. Cha anh ta là người báo hiệu trên đường xe lửa - một trong những người rất nghèo, và người con trai này là hy vọng và niềm tự hào duy nhất của ông ta. Dippel quen biết một họa sĩ mà trong xưởng vẽ của gã này anh ta tình cờ trông thấy tập anbom trong đó có những tấm hình chụp hình thể đàn bà trong những tư thế uốn éo. Cậu bé chưa trưởng thành chăm chú nhìn đi nhìn lại những tấm hình đó, cuối cùng thì xin gã họa sĩ hãy cho mình mượn tập anbom đó. Dippel ngủ trong cùng một phòng ngủ tập thể với tôi. Tôi là trưởng lớp, nhanh chóng nhận thấy đám đông và bầu không khí khoái cảm xung quanh Dippel, người đã cho vài người bạn xem những tấm hình kia. Nó giống như một vết thương đang mở rộng miệng. Tôi vào cuộc tàn nhẫn tịch thu những tấm hình đó. Tôi báo cho khoa biết. Dippel bị gọi lên, bị tra khảo một cách nghiêm khắc, rồi bị đuổi học. Hôm sau chúng tôi tìm thấy anh ta đã treo cổ chết dưới tán cây táo.”

Gương mặt Christian đỏ phừng. Giọng kể bình thản còn ghê tởm hơn cả chính bản thân câu chuyện.

Amadeus Voss tiếp tục: “Anh nghĩ đó là một hành động đê tiện. Nhưng theo những quy tắc được áp đặt lên chúng tôi thì tôi đã chỉ thực hiện bổn phận của mình mà thôi. Tôi mười sáu tuổi; và tôi dường như, mà đúng là như thế thật, đã ở trong một cái lỗ đen tối. Tôi cần thoát ra ngoài không khí và ánh sáng. Tôi giống như người bị ép giữa đám đông lớn, không thể trông thấy chuyện đang xảy ra bên kia. Những cơn nôn nóng bóp nghẹt tôi, mọi thứ trong tôi đều kêu gào đòi không gian và ánh sáng. Nó giống như sống đời đời bên phía tối của mặt trăng. Tôi đã sợ sức mạnh của cái ác; và tất cả những gì tôi nghe nói về con người không ít thì nhiều đều ác độc. Những cái vảy mọc lên rồi rơi rụng trong ngực tôi. Có những giờ trong đó người ta vừa có thể trở thành tên sát nhân vừa có thể chết trên cây thánh giá. Tôi khát khao thế giới trần tục. Tuy vậy, trong những ngày đó tôi cầu nguyện nhiều, đọc nhiều sách sùng đạo, tự trừng phạt nghiêm khắc. Đêm muộn, khi tất cả những người khác đã đi ngủ, một thầy tu sẽ trông thấy tôi đắm mình trong cầu nguyện với chiếc áo vải tóc [Áo của các thầy tu khổ hạnh – ND] quanh thân thể. Tình cảm sùng đạo vô song và mãnh liệt dạt dào trong tôi lúc làm lễ mi xa hay hát thánh ca. Nhưng rồi tôi lại trông thấy những lá cờ trên những con đường trong thành phố, hay những người đàn bà mặc đẹp, hay tôi đứng trên sân ga, và một đoàn tàu có những toa sang trọng dường như đang trêu chọc tôi. Hay tôi thấy một người đàn ông lao ra ngoài cửa sổ và óc bắn tung tóe trên vỉa hè, và anh ta dường như hét lên với tôi: Người anh em, người anh em! Rồi quỷ hiện hình thành con người và tôi muốn chộp lấy hắn. Phải, quỷ có hình hài con người và chỉ quỷ - bất công, ngu ngốc, dối trá, tất cả những điều người ta ghê tởm đến tận đáy lòng, nhưng phải ôm ấp và mang trong mình, nếu như người ta không được sinh ra với cái muỗng bạc ở trong mồm. Để cứu lấy một tia sáng cho mình, tôi học chơi đàn ống. Nó cũng có giúp ích được chút đỉnh. Âm nhạc, những bài thơ, những bức tranh đẹp, những dinh thự quý phái, những cuốn sách triết học hay toàn bộ thế giới trần tục tráng lệ ở ngoài kia thì quan trọng gì? Tôi không thể với tới chính mình. Giữa tôi và bản ngã đích thực kia có điều gì đó – đó là gì vậy? Một bức tường thủy tinh nóng đỏ. Có những người ngay từ đầu đã bị nguyền rủa. Nếu như tôi hỏi: làm thế nào để có thể hóa giải được lời nguyền đó? thì chỉ có một câu trả lời duy nhất: phải vượt qua điều gớm guốc, điều không thể tưởng tượng nổi! Nó với tôi là như thế đấy.”

Christian chấn động. “Nói thế là anh có ý gì vậy?”

“Người ta sẽ phải trải qua một kinh nghiệm mới,” Amadeus Voss trả lời, “để biết một con người thực sự - trong ý thức cao và sâu nhất.” Khuôn mặt hắn có màu như đá trong áng sáng hoàng hôn đang tụ họp. Đó là một khuôn mặt sắc sảo – dài, hẹp, thông minh, đầy đau đớn dữ dội. Hai tròng kính trước đôi mắt hắn lóe sáng trong những tia sáng ban ngày cuối cùng, và trên mái tóc đẹp của hắn là ánh sáng le lói như trên những món đồ nữ trang.

“Anh sẽ sống trong ngôi làng này sao?” Christian hỏi, không phải vì muốn biết, mà vì nỗi đau buồn mà chàng cảm thấy trong bầu im lặng nặng nề. “Anh đã làm việc cho ông ủy viên hội đồng Ribbeck. Anh sẽ quay trở lại với ông ta chứ?”

Những sợi dây thần kinh của Voss giần giật. “Quay trở lại ư? Không có quay trở lại nào cả,” hắn lẩm bẩm. “Anh có biết Ribbeck không? Ồ, bản thân tôi hầu như không biết ông ta. Tôi chỉ mới trông thấy ông ta có hai lần. Lần đầu là khi ông ta đến trường dòng để kiếm gia sư cho những đứa con trai mình. Khi nghĩ về ông ta tôi thấy hình ảnh một thứ gì đó béo và đã đóng băng. Tôi được chọn ngay lập tức. Cấp trên của tôi rất tán thành tôi và muốn dọn quang con đường tôi đi. Phải. Lần thứ hai tôi trông thấy ông ta là vào một đêm tháng Mười Hai, khi ông ta có mặt ở Halbertsroda cùng với một sĩ quan cảnh sát để tống cổ tôi. Anh không cần phải nhìn tôi như thế. Không có hậu quả nào nghiêm trọng hơn. Người ta sẽ không để cho bất cứ một hậu quả nào như thế xảy ra.”

Hắn im lặng. Christian đứng dậy. Voss không nài nỉ chàng ở lại, mà đi theo chàng ra đến cửa. Đến đây hắn nói bằng giọng đã thay đổi: “Anh là loại người nào vậy? Người ta ngồi trước mặt anh bộc bạch hết nỗi lòng, thế mà anh cứ im lặng. Làm sao lại như thế được nhỉ?”

“Nếu như anh tiếc việc đó thì tôi sẽ quên hết tất cả những điều anh đã nói,” Christian ngoan ngoãn và nhã nhặn trả lời, lối nói này luôn luôn có vẻ lập lờ nước đôi.

Voss gục đầu xuống. “Xin hãy vào lại lúc anh đi ngang qua đây,” hắn dịu dàng van xin. “Có thể lúc bấy giờ tôi sẽ kể cho anh nghe chuyện đã xảy ra ở đó!” Hắn chỉ ngón cái qua vai.

“Tôi sẽ đến,” Christian nói.

XII

Albrecht Wahnschaffe vào phòng ngủ của vợ. Bà ta đang ở trên giường. Đó là một cái giường có màn che tráng lệ với những bức tranh in lớn chạm khắc. Hai bên bức tường đều có treo những tấm vải thêu tích thần thoại đắt tiền. Một tấm mền bằng gấm đa mát xanh che giấu tấm thân oai nghiêm của bà Wahnschaffe.

Ông hào hoa phong nhã hôn lên bàn tay mà bà ta chìa về phía mình bằng một cử chỉ uể oải, rồi ngồi xuống ghế bành: “Tôi muốn nói chuyện với mình về Christian,” ông ta nói. “Bởi vì thỉnh thoảng những việc làm của nó làm tôi lo lắng. Nó trôi giạt ngày càng xa. Gần đây nhất là việc nó mua viên kim cương đó. Có lời thách thức trong một hành động như thế. Nó làm tôi khó chịu.”

Bà Wahnschaffe nhăn trán trả lời: “Tôi thấy không cần phải lo lắng. Nhiều cậu con nhà giàu vẫn qua thời trai trẻ của chúng giống như Christian. Chúng giống như những cái cây quý phái cần đồ trang sức. Đối với tôi chúng dường như là hiện thân sự phát triển của con người ở mức độ cao. Chúng tự xem mình là ưu tú tự bản chất một cách rất đúng đắn. Nhờ dòng dõi và giàu có mà chúng không cần phải nỗ lực. Bản chất thực sự của chúng ở trong tính chất tách biệt và không thể xâm phạm quý tộc của chúng.”

Albrecht Wahnschaffe cúi đầu. Ông ta chơi đùa với những ngón tay trắng mảnh khảnh không mang dấu vết tuổi tác của mình. Ông ta nói: “Xin lỗi vì không thể hoàn toàn chia sẻ quan điểm với mình. Đối với tôi dường như trong tổ chức xã hội mỗi thành viên nên thực hành một chức năng nó phục vụ cho toàn cục. Tôi được giáo dục theo quan điểm này, và không thể vì Christian mà phủ nhận nó. Tôi không thích cãi nhau chỉ vì việc tiêu tiền của nó, dẫu trong vài tháng gần đây nó đã móc hầu bao vượt định mức đáng kể. Nhà Wahnschaffe không thể bị chạm đến ngay cả với những trò đùa nghịch tốn kém đến thế. Điều làm tôi khó chịu là sự vô mục đích của một cuộc đời như thế, tình trạng tiêu xài quá đáng của nó rõ ràng không hề có chút tham vọng nào ở bên trong.”

Bà Wahnschaffe điềm tĩnh chăm chú nhìn chồng từ dưới đôi mi mắt khép hờ mệt mỏi. Việc ông ta muốn lôi Christian, sinh ra để ăn chơi, vui vẻ và xinh đẹp, vào trong cái vòng xoáy hỗn độn của mình làm cho bà tức giận. Bà ta trả lời với vẻ nóng nảy: “Mình lúc nào cũng để cho nó muốn làm gì thì làm, bây giờ thì mình không thể thay đổi nó được nữa rồi. Không phải tất cả mọi người đều cần phải khổ cực làm việc đâu. Công việc làm ăn thật buồn chán kinh khủng. Tôi đã sinh được hai đứa con trai - một đứa cho mình, một đứa cho tôi. Mình hãy cứ đặt ra những yêu cầu của mình rồi để cho nó thực hiện được bao nhiêu tùy khả năng của nó. Tôi thích nghĩ về đứa con của tôi và hạnh phúc với ý nghĩ rằng nó hoạt bát. Nếu như có điều gì đó làm tôi lo lắng thì đó là việc từ sau chuyến đi Anh của nó, Christian ngày càng xa cách chúng ta và tôi nghe nói là xa cách cả bạn bè nó nữa. Tôi hy vọng việc này không nghĩa lý gì. Có lẽ có một phụ nữ ở đằng sau chuyện này. Trong trường hợp đó nó sẽ qua thôi; nó không sa đà vào những mối đam mê bi thảm. Nhưng nói chuyện làm tôi kiệt sức, Albrecht ạ. Nếu như mình còn những lý lẽ khác nữa, thì tôi xin mình hãy hoãn chúng lại.”

Bà ta quay mặt đi, kiệt sức nhắm hai mắt lại. Albrecht Wahnschaffe đứng lên, hôn bàn tay bà ta bằng dáng điệu hào hoa phong nhã như trước, rồi đi ra.

Nhưng việc bà ta nói rằng đã sinh một đứa con trai cho ông và một đứa con trai cho mình làm cho ông ta hơi bực dọc một chút với vợ, mà ông ta vẫn xem là người không thể xâm phạm được tạo ra từ thứ chất liệu tốt hơn người thường. Tại sao ta lại xây dựng tất cả những thứ này nhỉ? ông ta tự hỏi, lúc đi qua những gian sảnh lộng lẫy.

Ông ta thấy khó tiếp cận Christian hơn cả một thành viên ở trong bộ hay một người nước ngoài lỗi lạc. Ông ta do dự giữa việc đưa ra một lời thỉnh cầu và việc đưa ra một mệnh lệnh. Ông ta không chắc chắn về uy quyền của mình, và thậm chí còn ít chắc chắn hơn về bất cứ một sự thấu hiểu bạn bè nào. Nhưng trong khi nghỉ ngơi tiêu khiển ít hôm tại ngôi nhà của tổ tiên ở Wurzburg, ông ta gửi cho Christian một lời nhắn, xin chàng một cuộc gặp gỡ.

XIII

Crammon viết thư cho Christian. Ông hài hước áp dụng lối hành văn cổ xưa:

“Bạn cao quý và sáng giá nhất ơi: Với lòng thỏa mãn sâu sắc tôi biết rằng bạn đã buồn bã quay trở về với thần Dionysos [Thần rượu nho trong thần thoại Hy Lạp, tượng trưng cho ham mê dục lạc – ND], và như một dấu hiệu của việc đó đã đặt lên bàn thờ ông ta một món nữ trang, mà giá bán khiến cho răng của những người Philistine trên xứ này phải va vào nhau cành cạch, và khiến cho hệ tiêu hóa què quặt của họ phải làm việc với sự mau lẹ không được chào đón. Ngược lại, đầy tớ của bạn, kẻ ký tên dưới đây, khi tin tức về điềm hạnh phúc kia đến tai, đã trình diễn một điệu nhảy trong căn buồng riêng cô độc, việc khiến cho các bà sống trong cung điện của hắn hoảng loạn đến mức nhấc điện thoại lên gọi ngay lập tức cho các bác sĩ tâm thần. Thế giới, cằn cỗi sự thấu hiểu, bất khả trong việc có những ý nghĩ lớn lao như thế đấy.

“Cuộc sống của tôi chẳng đáng yêu chút nào. Tôi bị mắc bẫy trong những cuộc phiêu lưu tình ái nó chẳng làm cho tôi được hài lòng, và, thêm nữa, làm thất vọng những người liên quan. Thỉnh thoảng tôi ngồi bên ngọn lửa lò sưởi rực rỡ của mình, và, nhắm mắt lại, nghiền ngẫm cuốn sách của ký ức. Chai cô nhắc màu vàng là người bạn duy nhất của tôi, và trong khi tôi nuôi dưỡng trái tim mình trên hơi ấm nhân tạo của nó, thì những vùng đất cao hơn có thói quen chìm vào trong bí ẩn lạnh lùng của tính ngu si đơn thuần. Những năng lực tinh thần của tôi dịch chuyển, giống như con cua, lùi về phía sau; sức mạnh đàn ông trong tôi suy tàn. Nhiều năm trước ở Paris tôi có quen một người chơi cờ, một ông già người Đức mắt lòa, người thua tất cả những ván cờ mình chơi, lần nào cũng kêu lên: ‘Đâu rồi những ngày tôi đánh bại cả Zuckertort vĩ đại?’ Người này, tôi phải giải thích, là bậc thầy vĩ đại trong trò chơi của hoàng gia đó. Sự ứng dụng tất yếu vào bản thân mình làm tôi bối rối. Có thời một hoàng đế La Mã nổi tiếng hơn tất cả những người khác nhờ quyền lực đối với phụ nữ; tôi tin tên ông ta là Maxentius. Nhưng nếu như tôi kêu lên: ‘Đâu rồi những ngày tôi là địch thủ của Maxentius vĩ đại?’ thì đó chỉ là một lời khoác lác đáng nguyền rủa mà thôi!

“Việc anh không thể là người chứng kiến lúc tôi trở dậy khỏi ghế trường kỷ vào buổi sáng thật là một sự đáng tiếc. Cảnh tượng đó phải được kiểm tra bởi những người am hiểu và phải được thưởng thức bởi những kẻ thế tục, những đám đông sẽ phải tham dự vào đó, như xưa kia người ta vẫn làm đối với cuộc thức giấc của những ông vua nước Pháp. Đám người quý phái trong xứ này sẽ đến bày tỏ lòng tôn kính đối với tôi, và những quý bà đáng yêu sẽ cù cho đến lúc trên mặt tôi phải tỏa ra một tia vui vẻ mới thôi. Ôi chàng trai trẻ thần thánh, bạn và người cùng chơi trong những giấc mơ của tôi, tôi xin thưa với anh rằng những khoảnh khắc trong đó người ta rời bỏ tấm khăn trải giường bằng vải lanh đã được chính cơ thể mình sưởi cho ấm sực, để dấn thân vào mười hai giờ của cuộc đời tàn ác, đối với tôi là những khoảnh khắc của lòng trắc ẩn vô song. Tôi ngồi trên mép giường, chăm chú nhìn bộ đồ lót của mình với nỗi phẫn nộ ầm ĩ dù ngấm ngầm. Tôi buồn bã góp nhặt những tàn tích của bản ngã, và buộc lại sợi chỉ ý thức tại nơi mà Morpheus [Vị thần của giấc mơ và giấc ngủ trong thần thoại Hy Lạp – ND] đã cắt vào đêm hôm trước. Linh hồn tôi bị rải rắc khắp mọi nơi, và lăn thành những viên nhỏ, như thủy ngân chảy ra từ một cái nhiệt kế vỡ. Chỉ có những làn khói tế thần của ấm đun trà, mùi thơm phức của giăm bông và một miếng trứng tráng giống như những cây anh thảo hoa vàng, và, trên tất cả, những lời nói dịu dàng thốt ra từ đôi môi mềm mại của những bà quản gia chu đáo, là hòa giải được tôi với số phận mình.

“Già Regamey thân yêu đã chết. Bá tước Sinsheim đã bị liệt vì đột quỵ. Bạn tôi, Quý Cô Constance Cuningham, một thành viên của tầng lớp quý tộc cao sang nhất, đã cưới một gã người Mỹ lỗ mãng. Những người tốt đẹp nhất đang mất đi, cây đời đang trở nên trần trụi. Trên đường đến đây tôi dừng chân ba hôm ở Munich làm khách của đôi vợ chồng trẻ nhà Imhof. Cô em gái Judith của anh đang gây được một ấn tượng tuyệt vời. Những họa sĩ vẽ cô ấy, những nhà điêu khắc tạc cô ấy trong đá hoa cương, những thi sĩ ca tụng cô ấy. Tuy vậy tham vọng của cô ấy vẫn đang nhảy sào. Cô ấy khát khao nồng cháy muốn có chiếc mũ miện nhỏ chín đỉnh trên đồ vải lanh, những bộ chế phục, và bốn chiếc ô tô, cô ấy ve vãn tất cả những gì đến từ triều đình hay đi tới đó. Felix, ngược lại, là một người dân chủ, tập hợp xung quanh anh ta những người làm ăn, những kẻ đầu cơ, những nhà thám hiểm, và những người khéo léo thuộc cả hai giới tính. Từ đây nhà họ sẽ là sự pha trộn giữa Tòa Thị Chính, sở giao dịch ngũ cốc, nơi họp mặt của đám thầy cò, và câu lạc bộ đua ngựa. Sau một buổi tối xem những việc đang diễn ra, tôi rút lui vào trong góc với một cô gái xinh đẹp, nhờ cô ấy bắt mạch cho. Cô ấy vâng lời, thế là linh hồn đau khổ của tôi được an ủi.

“Tôi nghe nói rằng Ariel ngọt ngào của chúng ta đang làm ngây ngất những người Ba Lan ở Warsaw và những người Moscow ở Moscow. Người ta nói sinh viên ở Moscow bộc lộ lòng tôn kính của họ bằng diễu hành rước đuốc, và sĩ quan trải hoa hồng trên những con phố phủ đầy tuyết dẫn từ nơi nàng ở đến nhà hát. Tôi còn nghe nói rằng đại công tước Cyril, thường được biết đến là tên đồ tể thịt người, yêu nàng đến gần như phát điên, và đang làm đảo lộn cả thế giới để có được nàng. Cứ nghĩ đến việc cả tôi đây, Ôi Ariel, cũng từng cảm thấy hơi thở của nàng là trong tôi lại tràn đầy một nỗi u sầu mênh mông nhức nhối. Chẳng còn gì nữa; nhưng thế cũng đủ rồi. Le moulin n’y est plus, mais le vent y est encore [Cối xay không còn ở đó nữa, nhưng gió thì vẫn còn - tiếng Pháp – ND].

“Với lời nhận xét cuối cùng trên, người anh em thân yêu của trái tim tôi và người bạn được nhớ đến rất nhiều à, tôi khen ngợi anh lên Chúa, và xin hãy trao cho Bernard Gervasius C. v. W đang trìu mến chờ mong anh một dấu hiệu.”

Sau khi Christian đọc xong lá thư này, chàng mỉm cười, rồi lặng lẽ đặt nó sang một bên.

XIV

Christian và Amadeus Voss gặp nhau hoàn toàn tình cờ trên sườn ngọn đồi ở phía sau ngôi làng.

“Tôi đã chờ anh suốt cả tuần,” Voss nói.

“Tôi định hôm nay sẽ đến chỗ anh,” Christian nói. “Anh đi dạo một đoạn ngắn với tôi chứ?”

Amadeus Voss quay người đi theo Christian. Họ leo lên đỉnh đồi rồi rẽ sang hướng vào rừng. Họ im lặng đi bên cạnh nhau. Mặt trời chiếu sáng xuyên qua cành cây và tất cả mọi thứ đều ẩm ướt. Tàn tích của tuyết đọng trên những tán cây khô; mặt đất trơn tuột; nước chảy trong những rãnh sâu trên đường. Mặt trời đang lặn lúc họ ra khỏi rừng, bầu trời có màu xanh lá cây nhạt và hồng, và khi họ đến những ngôi nhà đầu tiên của Heptrich, thì hoàng hôn buông xuống. Suốt trong lúc đi họ không nói với nhau lời nào. Ban đầu Voss thận trọng không đi sánh đôi với Christian. Sau đó họ đi trong một sự hài hòa nhịp nhàng nó giống như khúc dạo đầu của một cuộc chuyện trò.

“Tôi đói,” Amadeus Voss nói; “đằng kia có quán trọ. Chúng ta đến đó thôi.”

Họ vào phòng khách, mà họ thấy là chẳng có ai. Họ ngồi xuống một cái bàn ở bên cạnh bếp lò, vì không khí lạnh đã làm cho họ rét cóng. Cô phục vụ thắp lên một cây đèn, rồi mang ra những thức mà họ đã gọi. Christian nghĩ, trong cơn trào dâng của nỗi sợ hãi, nó chỉ ít hơn nỗi tò mò thôi: Bây giờ thì chuyện gì sẽ xảy ra đây? rồi chăm chú nhìn Voss.

“Hôm trước tôi có đọc câu chuyện đạo đức trong một cuốn sách cũ,” Amadeus nói, và dùng cây diêm sắc làm tăm xỉa răng theo cách làm thần kinh Christian run lên. “Nó nói về một ông vua, người nhận thấy thần dân và mọi thứ trên đất nước mình càng ngày càng tệ hại đi, và ông ta nhờ bốn nhà triết học đi tìm giúp nguyên do. Bốn con người thông thái này bàn luận với nhau, và họ chia nhau đi đến bốn cổng thành rồi khắc lên đó một trong những nguyên do chính. Người đầu tiên viết: ‘Ở đây sức mạnh là lẽ phải, và vì thế nên mảnh đất này không có luật lệ; ngày là đêm, và vì thế nên mảnh đất này không có đường xá; xung đột là chạy trốn, và vì thế nên mảnh đất này không có danh dự.’ Người thứ hai viết: ‘Một là hai ở đây, và vì thế nên mảnh đất này không có sự thật; bạn bè là kẻ thù ở đây, và vì thế nên mảnh đất này không có lòng trung thành; cái ác là cái thiện, vì thế nên chúng ta không thấy lòng thương xót.’ Người thứ ba viết: ‘Con ốc sên giả vờ làm đại bàng, và những tên ăn cắp nắm tất cả quyền bính.’ Người thứ tư viết: ‘Ý chí là cố vấn của chúng ta, và lời khuyên của nó xấu xa; đồng tiền đưa ra lời phán xét, vì thế luật pháp của chúng ta đê mạt; Chúa là cái chết, và vì thế nên mảnh đất này đầy rẫy tội lỗi.’”

Hắn ném que diêm đi, rồi tựa đầu vào bàn tay. “Cũng trong cuốn sách đó,” hắn nói tiếp, “tuy vậy còn có thêm một câu chuyện khác nữa, và có lẽ anh sẽ cảm thấy mối liên hệ giữa hai câu chuyện này. Ngày xửa ngày xưa, trái đất nứt ra ngay giữa Rome, và người ta trông thấy một vực thẳm há hoác. Người ta đặt câu hỏi với các vị thần, và họ trả lời thế này: ‘Vực thẳm này sẽ không khép lại cho đến khi có ai đó nhảy xuống theo ý muốn tự nguyện của chính anh ta.’ Chẳng thể thuyết phục được ai làm việc đó. Cuối cùng một người trẻ tuổi đến nói: ‘Nếu như các vị cho tôi được sống một năm muốn làm gì tùy thích, thì đến cuối năm tôi sẽ vui lòng và tình nguyện nhảy xuống vực thẳm kia.’ Người ta quyết định rằng sẽ không cấm đoán anh ta bất cứ việc gì, và anh ta sẽ được tự do muốn sử dụng phụ nữ và của cải của những người La Mã bao nhiêu tùy thích. Tất cả đều chờ mong giây phút khi họ có thể tống khứ anh ta đi. Và khi một năm đã trôi qua, thì anh ta cưỡi trên lưng một con chiến mã quý phái, và cùng với nó nhảy xuống vực thẳm kia, thế là nó lập tức khép lại.”

Christian nhún vai. “Tất cả những chuyện đó đối với tôi đều tối tăm,” chàng ủ rũ nói. “Anh thực sự muốn kể cho tôi nghe những câu chuyện cũ rích này sao? Chúng chẳng có nghĩa lý gì cả.”

Voss khàn khàn cất tiếng cười một mình. “Anh không nhanh trí,” hắn nói, “đầu óc anh không nhanh nhẹn. Anh không bao giờ cảm thấy sự cần thiết phải tìm kiếm nơi trốn tránh trong một phép ẩn dụ nào đó sao? Nó giống như thuốc giảm đau vậy.”

“Tôi không biết nói thế là anh có ý gì,” Christian nói, và chàng lại nghe tiếng cười nhẹ nhàng của người đàn ông kia.

“Chúng ta đi thôi,” Christian nói và đứng dậy.

“Được thôi. Chúng ta đi nào.” Voss nói với vẻ buồn rầu. Và họ đi.

Thêm vào giỏ hàng thành công