QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXIV)
HAY CÓ BAO GIỜ SỢI DÂY BẠC BỊ NỚI LỎNG
XV
Không khí ban đêm vô cùng tĩnh lặng, bầu trời đầy sao lạnh lẽo lấp lánh. Sau khi ra khỏi làng, họ không còn nghe thấy âm thanh nào nữa.
“Anh ở nhà Ribbeck bao lâu?” Christian bất thình lình hỏi.
“Mười tháng,” Amadeus Voss đáp. “Khi tôi đến Halbertsroda, thì ở đó toàn những băng với tuyết. Khi tôi đi, thì ở đó cũng toàn những tuyết với băng. Trong khoảng thời gian giữa lúc tôi đến và lúc tôi đi, đã có một mùa Xuân, một mùa Hạ, và một mùa Thu.”
Hắn dừng lại một lát, chăm chú nhìn theo sau một con thú trong bóng tối đã nhảy băng ngang qua đường rồi biến mất trong những luống cày trên một cánh đồng. Rồi hắn bắt đầu nói, lúc đầu có vẻ ngắc ngứ và khô khan, sau lại có vẻ mạnh mẽ và dữ dội, và cuối cùng thì hổn hển tức thở. Họ đi lạc bước ra khỏi con đường, nhưng không nhận thấy điều đó; lúc bấy giờ đã muộn, nhưng họ cũng không biết.
Voss kể câu chuyện của hắn:
“Tôi chưa bao giờ thấy một ngôi nhà nào như thế. Những tấm thảm, những bức tranh, những tấm vải thêu, đồ bạc, và bao nhiêu kẻ hầu người hạ - tất cả đều mới mẻ đối với tôi. Tôi chưa bao giờ ăn những món như thế và ngủ trên những cái giường như thế. Tôi tới từ giữa bốn bức tường trần trụi, từ một cái cũi, một lò sắt, một giá rửa mặt, một kệ sách, và một cây thánh giá mà.
“Hai học sinh của tôi đứa mười một tuổi đứa mười ba tuổi. Đứa lớn tuổi hơn tóc vàng hoe và gầy gò, đứa nhỏ tuổi hơn ngăm đen và chắc nịch. Tóc chúng chấm ngang vai như bờm. Ngay từ giờ đầu tiên chúng đã có với tôi một thái độ kháng cự nhạo báng. Lúc đầu tôi chẳng trông thấy bà Ribbeck ở đâu cả. Phải một tuần sau bà ta mới cho gọi tôi. Bà ta gây ấn tượng mình là một cô gái trẻ; có mái tóc màu đỏ gỉ sắt và khuôn mặt xanh xao, sợ hãi, chậm phát triển. Bà ta đối xử với tôi bằng thái độ khinh bỉ mà tôi không lường trước được, nên nó làm máu bốc lên hai thái dương tôi. Tôi phải ăn riêng. Tôi không được ăn trên bàn ăn của ông chủ, và đám gia nhân xem tôi như kẻ ngang hàng. Điều đó làm tôi đau khổ vô cùng. Khi bà Ribbeck xuất hiện trong vườn và tôi nhấc mũ lên chào, thì bà ta chỉ gật đầu chào lại vừa đủ, mù quáng và vô liêm sỉ trong nỗi khinh bỉ mà bà ta dành cho kẻ mình trả lương. Trong mắt bà ta tôi chẳng hơn gì một làn không khí mỏng tang!
“Tội lỗi mà người ta phạm với linh hồn tôi đã xưa như trái đất. Các người, những kẻ có tội với linh hồn tôi, tại sao các người để tôi chết đói? Tại sao tôi phải nếm mùi bị từ chối trong khi các người được say sưa hoan lạc? Gã đói ăn sẽ cưỡng lại những cám dỗ mà Kẻ Cám Dỗ đang còn sống mang đặt trước mặt hắn như thế nào? Các người nghĩ rằng bọn tôi không nhận thấy tính háu ăn của các người sao? Tất cả mọi hành động, dù tốt hay xấu, đều chạy qua tất cả mọi bản chất. Khi cây nho ra hoa ở Madeira, thì rượu vang được ép ra từ nó cũng đang sóng sánh trong một ngàn thùng to xa ngoài biển và trên đất liền, và lại lên men.
“Một buổi sáng hai thằng bé khóa cửa phòng chúng lại không chịu sang phòng học. Chúng chế giễu tôi từ bên trong trong lúc tôi lay quả đấm cửa. Đám gia nhân đứng trong sảnh cười nhạo sự bất lực của tôi. Tôi đến gặp người làm vườn, mượn cây rìu, phá cửa bằng ba nhát. Một phút sau đó tôi đã ở trong phòng. Hai thằng bé kinh hoàng nhìn tôi, và cuối cùng nhận ra rằng tôi sẽ không chịu đựng tính láo xược của chúng. Bà Ribbeck nghe ồn ào nên chạy đến. Bà ta nhìn cánh cửa đã bị phá rồi nhìn tôi. Tôi sẽ không bao giờ quên cái nhìn đó. Bà ta không rời mắt khỏi tôi ngay cả khi đang nói chuyện với hai thằng bé, và việc đó diễn ra ít nhất là mười phút. Đôi mắt bà ta hỏi: Sao anh dám? Anh là ai? Lúc đi ra bà ta trông thấy cây rìu ở bên cạnh cửa nên dừng lại một lát, và tôi thấy bà ta rùng mình. Nhưng tôi biết là gió đã đổi chiều. Tôi cũng nhận thấy rằng một người phụ nữ đã đứng trước mặt mình.
“Hai đứa học trò của tôi không hề bỏ cái trò chọc ghẹo tôi đi. Ngược lại, chúng làm cho tôi khó chịu hết sức. Nhưng giờ đây chúng làm việc đó một cách bí mật, nên khó mà có thể trách mắng được. Tôi thấy những viên đá cuội và những cây kim trên giường mình, thấy mực loang trên những cuốn sách, thấy vết rách kinh khủng trên bộ quần áo đẹp nhất mà tôi có. Chúng cười nhạo tôi trước mặt những người khác, nói dối về tôi với mẹ, và trao đổi những ánh mắt láo xược không biết xấu hổ khi tôi trách mắng. Những việc chúng làm không giống như tính nghịch ngợm thông thường của những thằng bé ngớ ngẩn. Chúng đã bị xa hoa làm cho trở nên tinh vi. Chúng sợ một cơn gió lùa, chúng đốt lò sưởi quá nóng đến mức làm cho người ta lả người đi, và chúng chẳng nghĩ đến gì khác ngoài những tiện nghi vật chất. Có lần chúng đánh nhau, thằng nhỏ cắn ngón tay thằng lớn. Thế là thằng này nằm suốt ba ngày trên giường, khăng khăng đòi gọi bác sĩ cho bằng được. Đó không phải chỉ là trò giả vờ ốm vì lười; ác tâm và hằn thù sâu sắc cũng có mặt trong đó. Chúng xem tôi là rất thấp kém so với chúng, và không bỏ lỡ cơ hội nào để làm cho tôi cảm thấy thân phận lệ thuộc của mình. Tâm trạng tôi thường xuyên cay đắng, nhưng tôi quyết tâm sẽ tỏ ra kiên nhẫn.
“Một buổi tối tôi vào phòng khách. Giờ tôi quy định cho hai thằng bé kia phải đi ngủ đã trôi qua. Bà Ribbeck ngồi trên thảm, hai thằng bé rúc vào hai bên sườn. Bà ta đang cho chúng xem những bức tranh ở trong một cuốn sách. Mái tóc bà ta buông xõa, - để tóc như thế thật không thích hợp, tôi nghĩ – và vẻ tráng lệ màu đỏ nhạt của nó bao phủ bà ta cũng như hai thằng bé kia giống như chiếc áo khoác bằng gấm thêu kim tuyến. Hai thằng bé dán chặt đôi mắt xanh hiểm độc nhìn tôi. Tôi ra lệnh cho chúng phải đi ngủ ngay lập tức. Trong giọng nói của tôi hẳn có âm điệu gì đó khiến chúng sợ và buộc phải vâng lời. Chúng đứng dậy đi ra không dám cãi lại.
“Adeline vẫn ngồi trên tấm thảm. Tôi sẽ chỉ gọi bà ta là Adeline, như quả thực sau đó đã gọi trong mối giao thiệp giữa chúng tôi. Bà ta nhìn tôi đúng chính xác như đã nhìn vào hôm tôi sử dụng cây rìu. Người ta không thể xanh xao một cách tự nhiên hơn bà ta, nhưng giờ đây làn da bà ta đã trở nên trong suốt. Bà ta đứng dậy, đi đến bên bàn, nhấc một đồ vật hững hờ nào đó lên, rồi lại đặt nó xuống. Đồng thời một nụ cười chế nhạo thoáng hiện trên môi.
Nụ cười đó trở đi trở lại trong tôi. Và quả thực là người phụ nữ đó đã làm tôi nhức nhối, cả thể xác lẫn linh hồn. Anh sẽ hiểu lầm tôi. Không quan trọng. Nếu như anh không hiểu, thì có giải thích cũng bằng thừa. Lớp băng trên đầu tôi rạn nứt, và tôi trông thấy thế giới ở trên cao.”
“Tôi tin rằng tôi hiểu anh,” Christian nói.
“Để đáp lại câu hỏi của tôi rằng có muốn tôi rời khỏi ngôi nhà đó hay không, bà ta trả lời rằng, vì chồng đã thuê tôi, nên bà ta phải tôn trọng sự sắp đặt đó. Giọng bà ta băng giá. Tôi đáp lại rằng vì áp lực do bị bà ta ghét bỏ mà những hoạt động của tôi không thu được kết quả. Với một cái nhìn không thẳng hướng về phía tôi, bà ta trả lời rằng có thể tìm ra một phương pháp chung sức nhẹ nhàng nào đó, và rằng bà ta sẽ cân nhắc việc này. Bắt đầu từ tối hôm đó, tôi được mời đến để thảo luận với bà ta, và hai thằng bé kia cùng với bà ta đối xử với tôi bằng lòng tôn trọng, nếu như không phải là sự tử tế. Một buổi tối, lúc đã muộn, bà ta cho gọi tôi đến và nhờ tôi đọc sách cho mình nghe. Bà ta đưa cuốn sách đó cho tôi. Đó là cuốn tiểu thuyết lúc bấy giờ đang hợp mốt, và, sau khi đọc vài trang, tôi quẳng nó lên bàn, bảo rằng nội dung của nó khiến tôi buồn nôn. Bà ta gật đầu, bảo rằng đó cũng chính là cảm giác của mình, nhưng không muốn thừa nhận ngay cả với chính bản thân, và rất biết ơn tôi vì đã ngay thẳng. Tôi đi lấy cuốn kinh Thánh của mình, và đọc cho bà ta nghe chuyện Samson trong Sách của Các Thủ Lĩnh. Tôi hẳn phải có vẻ thơ ngây trong mắt bà ta, bởi vì sau khi tôi đọc xong, thì nụ cười chế giễu đó lại lởn vởn trên môi bà ta. Rồi bà ta hỏi: ‘Làm một vị anh hùng chia sẻ số phận với Samson ở Judah khó có thể là một việc làm cần thiết, phải không? Và anh có nghĩ rằng những việc Delilah đã hoàn thành là đáng chú ý đến thế không?’ tôi đáp rằng mình không có kinh nghiệm trong những việc như vậy, thế là bà ta bật cười.
“Lời nối lời, và tôi thu gom đủ can đảm để khiển trách bà ta về tình trạng chểnh mảng về mặt đạo đức của hai đứa con của bà ta, và về bản chất thối tha và thô bỉ của tất cả những chuyện mà cho đến lúc đó tôi đã trải qua trong ngôi nhà của bà ta. Tôi cố tình dùng những lời lẽ gay gắt nhất, để cho bà ta nổi cơn phẫn nộ và đuổi tôi ra khỏi cửa. Nhưng bà ta vẫn hoàn toàn bình tĩnh, xin tôi hãy giải thích ý kiến của mình một cách đầy đủ hơn. Tôi làm như thế, không phải là không hăng say, và bà ta thích thú nghe tôi nói. Có vài lần tôi thấy bà ta hít thở sâu, vươn thẳng người lên và nhắm hai mắt lại. Bà ta tranh cãi với tôi, rồi đồng ý, bảo vệ luận điểm của mình, và cuối cùng thừa nhận rằng không thể bảo vệ được nó. Tôi nói với bà ta rằng tình yêu mà bà ta nghĩ rằng mình có với hai thằng con trai của bà ta thực ra chỉ là một dạng thù ghét, dựa trên tình trạng bị nhiễm độc của linh hồn bà ta, trong đó tuy vậy vẫn có một cuộc sống khác và một tình yêu khác, mà nó đã xấu xa bắt phải khô héo và chết đi. Bà ta hẳn hiểu lầm tôi ở điểm này, bởi vì bất thình lình bà ta trợn tròn mắt nhìn tôi, ra lệnh bảo tôi đi đi. Tôi nghe thấy tiếng khóc nức nở, sau khi đã đóng cánh cửa phòng bà ta lại sau lưng mình. Tôi lại mở cánh cửa đó ra, và trông thấy bà ta ngồi đó vùi mặt trong lòng hai bàn tay. Tôi muốn trở lại bên bà ta. Nhưng bà ta làm cử chỉ xua đuổi.
“Trước đó tôi chưa bao giờ trông thấy một người phụ nữ đang khóc nào ngoại trừ mẹ tôi. Tôi không thể diễn tả cho anh nghe những cảm xúc của mình. Giá mà tôi có một người chị gái và lớn lên trong tình bầu bạn với chị ấy, thì hẳn là tôi đã hành động và cảm thấy khác rồi. Nhưng Adeline là người phụ nữ đầu tiên mà, dù theo bất cứ ý nghĩa sâu sắc hơn nào đi chăng nữa, tôi thực sự đã trông thấy.
“Ít hôm sau đó, bà ta hỏi tôi rằng liệu tôi có chút hy vọng nào sẽ uốn nắn được hai đứa con trai của bà ta thành những con người theo chiều hướng của tôi hay không. Bà ta nói rằng đã nghiền ngẫm suy nghĩ kỹ về tất cả những điều tôi nêu ra, và đi đến kết luận rằng mọi chuyện không thể cứ tiếp tục mãi như thế được. Tôi trả lời rằng tuy vậy nhưng vẫn chưa quá muộn. Bà ta xin tôi hãy cứu vãn những gì còn có thể, và thông báo rằng, để cho tôi được rảnh tay, bà ta quyết định sẽ đi du lịch vài tháng. Ba ngày sau bà ta lên đường. Bà ta không tạm biệt riêng hai đứa con trai mình, mà đến Dresden mới viết thư về cho chúng.
“Tôi đưa hai thằng bé cùng với mình đến một ngôi nhà nghỉ săn bắn nằm cô lập ở trong rừng, cách Halbertsroda hai giờ. Nó nằm trong điền trang nhà Ribbeck và Adeline đã cho phép tôi được đến đó trú ẩn. Tôi ổn định ở đó với hai thằng bé và ra tay nghiêm khắc với chúng. Thỉnh thoảng tôi hoảng sợ, khi nghĩ về những lời trong kinh Thánh: Tại sao mi lúc nào cũng cố gắng thay đổi cách thức? Coi chừng bị Ai Cập lừa, cũng như từng bị Assyria lừa.
“Một lão đầy tớ già, điếc nấu ăn cho chúng tôi, và không còn những bữa ăn xa xỉ nữa. Hai thằng bé phải cầu nguyện, phải nhịn ăn mỗi tuần một lần, phải ngủ trên những tấm đệm cứng, và phải dậy vào lúc năm giờ sáng. Tôi làm mọi cách để bẻ gãy tính bướng bỉnh, thói lười biếng uể oải, tính dâm đãng ngấm ngầm, những âm mưu và những trò xỏ lá của chúng. Giờ đây không còn chơi đùa gì nữa, và những ngày được phân chia bằng kỷ luật sắt. Tôi không từ bất cứ hành động nghiêm khắc nào. Tôi trừng phạt chúng; dùng roi trước một việc không vâng lời dù là nhỏ nhặt nhất. Tôi dạy chúng ý nghĩa của đau đớn. Khi chúng trần truồng ngồi co rúm trước mặt tôi, thân hình đầy những vết roi đẫm máu, thì tôi nói cho chúng nghe về việc tử vì đạo của các vị thánh. Tôi viết nhật ký, để Adeline có thể biết chính xác những gì đã xảy ra. Hai thằng bé giật mình khi nghe tiếng tôi từ xa; tôi chỉ ngước đầu lên là chúng đã run rẩy. Một đêm tôi đến lúc chúng đang thì thầm nói chuyện với nhau ở trên giường. Tôi đuổi chúng ra ngoài. Chúng hét lên, chạy ra khỏi nhà để tránh xa tôi. Chúng chạy vào rừng, còn tôi, cùng với hai con chó, thì đuổi theo sau. Mưa bắt đầu rơi, cuối cùng chúng kiệt sức nằm lăn ra đất, van xin lòng thương hại. Việc khó khăn nhất trong tất cả là bắt chúng phải xưng tội. Nhưng tôi mạnh hơn con Quỷ ở bên trong chúng, nên ép được chúng phải tẩy rửa linh hồn. Cuộc sống của tôi thật cay đắng. Nhưng tôi đã thề với Adeline trong trái tim mình.
“Hai thằng bé trở nên trầm tư, thờ ơ và lặng lẽ. Chúng đi vào góc nhà và khóc. Tôi đưa chúng về Halbertsroda khi Adeline đã về, bà ta kinh ngạc trước những đổi thay nơi chúng. Chúng lao vào vòng tay bà ta, nhưng không phàn nàn lời nào về tôi, cả lúc đó lẫn khi chỉ có một mình với mẹ. Tôi đã bảo chúng rằng nếu như chúng không vâng lời hay bướng bỉnh, thì chúng tôi sẽ quay trở lại ngôi nhà nghỉ săn bắn kia. Chúng phải đến sống ở đó một hoặc hai ngày một tuần bất luận hoàn cảnh thế nào. Dần dà chúng tránh mặt mẹ, và bản thân Adeline cũng thờ ơ với chúng hơn. Yếu tố mềm mại, sôi nổi, quá dịu dàng trong mối quan hệ giữa họ đã không còn nữa.
“Adeline cố gắng kết bạn và nói chuyện với tôi. Bà ta theo dõi tôi, trịch thượng, mệt mỏi, lơ đãng trong tâm trí, và bồn chồn. Bà ta phục sức như có khách khứa sắp đến chơi, và chải tóc ba lần một ngày. Bà ta hoàn toàn qui phục những sắp đặt của tôi. Có những con người đần độn, hư thối, âm ỉ quỳ gối trước lưỡi rìu vung lên trong bàn tay kẻ khác, nhưng chỉ tặng những lời giễu cợt cho những kẻ cúi gập mình trước họ. Tính kiêu căng và dè dặt của bà ta thường khi vẫn lấn át tôi, và tôi đã nghĩ rằng trong tâm trí bà ta chẳng hề có chỗ nào dành cho mình. Rồi một cái nhìn hiện ra trong đôi mắt bà ta nó sẽ khiến cho tôi quên mất rằng mình đến từ đâu và mình là ai trong ngôi nhà này. Mọi chuyện dường như đều có thể xảy ra với bà ta. Bà ta có thể châm lửa đốt nhà vào ban đêm, vì buồn chán, và vì căn bệnh ung thu ăn linh hồn bà ta thôi không gặm nhấm nữa mà không vì niềm ngây ngất cao quý hơn nào: bà ta có thể đứng từ trưa đến tối trước tấm gương soi của mình để nhìn một nếp nhăn sâu trên trán. Mọi chuyện dường như đều có thể xảy ra. Bởi vì chẳng phải người ta đã viết: Người ta biết hết những điều ở bên trong mình chỉ trừ tâm hồn mình đó sao?
“Những cám dỗ mãnh liệt của tôi bắt đầu vào một buổi tối khi, trong lúc đang nói chuyện, bà ta bất cẩn đặt bàn tay lên bàn tay tôi, rồi vội vàng rụt lại. Cử chỉ đó khiến tôi không còn thấy những điều về chúng tôi nữa. Trong khoảng thời gian giữa ý nghĩ này và ý nghĩ kế tiếp, tôi trở thành nô lệ của những bóng ma và khao khát.
“Bà ta bảo tôi hãy kể cho mình nghe về cuộc đời tôi. Tôi cũng rơi vào cái bẫy đó, và kể cho bà ta nghe.
“Một hôm tôi gặp bà ta trong sảnh vào lúc chạng vạng. Bà ta đứng im, nhìn như đâm xuyên qua người tôi. Rồi bà ta bật cười và bỏ đi. Tôi lảo đảo, những giọt mồ hôi to tướng đọng trên trán.
“Trái tim tôi nặng trĩu khi tôi chỉ có một mình. Những bóng ma xuất hiện châm lửa đốt cháy phòng tôi. Chuỗi tràng hạt và cuốn sách Kinh đã chạy trốn khỏi tôi, và tôi không thể tìm được thứ nào trong hai thứ đó. Lúc nào trong tôi cũng có tiếng hét: Chỉ một lần! Hãy cho tôi nếm mùi nỗi mê ly đó dù chỉ một lần thôi! Rồi những con quỷ đến hành hạ tôi. Tất cả những bắp thịt, những sợi dây thần kinh và gân trong thân xác tôi dường như đều bị xé rách. Hãy đối xử với ta theo ý muốn của Chúa, tôi thì thầm với những con quỷ, bởi vì trái tim ta đã sẵn sàng. Trong lúc ngủ một sức mạnh lạ lùng ném tôi ra khỏi giường, và tôi đập đầu vào tường một cách vô ý thức. Suốt một tuần tôi chỉ sống bằng bánh mì và nước lã, nhưng cũng chẳng có tác dụng gì. Có một lần, khi tôi đã ngồi xuống đọc sách, thì một con vượn người khổng lồ đến đứng trước mặt tôi, lật những trang sách trong cuốn sách của tôi. Đêm nào bóng ma hấp dẫn của Adeline cũng đến bên giường tôi. Bà ta đứng đó và nói: ‘Em đây, người yêu dấu của em.’ Thế là tôi bật dậy, điên loạn chạy quanh. Nhưng bà ta đuổi theo và thì thầm: ‘Anh sẽ là chủ nhân của em và sẽ có được tất cả những thứ tốt đẹp trên cõi đời này.’ Nhưng khi tôi cố gắng tóm bắt lấy cái bóng ma này của bà ta, thì nó sẽ lấy ngay một thái độ ác cảm bất ngờ, sẽ gọi những bóng người đang lảng vảng ở đó đến giúp đỡ. Một người là công chứng viên tay cầm một cây viết và lọ mực, một người khác là thợ khóa tay cầm cây búa nóng đỏ, có một người là thợ nề tay cầm bay, một sĩ quan cầm thanh gươm tuốt trần, một người đàn bà mặt tô son trát phấn.
“Tôi quá hoảng sợ, đến mức chỉ hiểu những chuyện đang xảy ra xung quanh mình một cách chậm chạp và dần dà từng bước. Một buổi sáng Adeline vào trong lúc tôi đang dạy hai thằng bé kia học. Bà ta ngồi xuống, lắng tai nghe. Bà ta rút chiếc nhẫn có viên ngọc trai to, đẹp ra khỏi ngón tay mình, trầm ngâm chơi đùa với nó, đứng dậy, đến bên cửa sổ ngắm tuyết rơi, rồi đi ra vườn. Tôi không còn có thể thở hay trông thấy gì được nữa. Ngực tôi bị ép chặt không thể chịu đựng nổi, thế nên tôi phải đi ra ngoài một lát để hít thở. Khi trở vào tôi thấy ánh độc ác khác thường trong đôi mắt hai đứa học trò của mình. Tôi không để ý đến điều đó. Thỉnh thoảng ánh chống đối cũ lại cháy bùng lên trong chúng, nhưng tôi mặc kệ. Chúng ngồi cúi mình trước mặt tôi, khe khẽ đọc thuộc lòng sách giáo lý bằng ánh mắt đầy sợ hãi.
“Khoảng mười phút sau thì Adeline quay vào. Bà ta nói rằng đã để chiếc nhẫn của mình lại ở trên bàn, và hỏi tôi có trông thấy nó không. Bà ta bắt đầu tìm kiếm, và tôi cũng làm theo như vậy. Bà ta gọi cô hầu gái của mình và một gã hầu, hai người này kiểm tra mọi thứ trong phòng; nhưng chiếc nhẫn đã biến mất. Adeline và những người hầu của bà ta nhìn tôi một cách lạ lùng, vì tôi cứ đứng đực ra đó không nhúc nhích. Tôi lập tức cảm thấy đến từng thớ thịt rằng mình nằm trong diện nghi ngờ. Họ tìm trên cầu thang và trong sảnh, trong lớp tuyết mới rơi ngoài vườn, rồi lại quay vào tìm trong phòng, vì Adeline cứ khăng khăng rằng mình đã rút chiếc nhẫn ra trong đó và đã để quên nó ở trên bàn. Tôi cũng xác nhận rằng đúng là như thế, dù tôi không thực sự trông thấy chiếc nhẫn ở trên bàn, bởi vì tôi đã nhìn bà ta và những cử chỉ của bà ta như trong một giấc mơ. Tất cả những lời bà ta trao đổi với người hầu dường như đều chống lại tôi. Tôi đọc thấy vẻ nghi ngờ trong ánh mắt họ nên tái mặt đi. Tôi gọi lũ trẻ, hai thằng này đã lẻn đi ngay khi vừa có thể, và hỏi dò chúng. Chúng bảo cứ vào phòng chúng mà tìm, rồi nhìn tôi với vẻ độc ác. Tôi xin Adeline hãy vào tìm cả trong phòng tôi nữa. Bà ta làm một cử chỉ tỏ ý phản đối, nhưng nói, như thể để tự bào chữa, rằng bà ta gán cho chiếc nhẫn này một giá trị đặc biệt và ghét việc phải mất nó.
“Trong khi đó viên quản lý điền trang, người tình cờ qua đêm hôm đó ở Halbertsroda, đã bước vào. Ông ta đi ngang qua tôi mà không chào, nhưng với cái nhìn ảm đạm thù địch. Thế rồi tôi hiểu tất cả. Tôi thấy mình trần trụi đứng giữa những mối nghi ngờ của họ, và tôi tự nhủ: Có lẽ quả thực chính mày đã ăn cắp chiếc nhẫn kia. Trạng thái tinh thần trước đó của tôi rơi xuống tình trạng thô tục và xấu xí này một cách quá đột ngột, đến mức tôi bật lên một tràng cười man dại, khăng khăng đòi người ta phải vào khám xét phòng, vật dụng cá nhân và thậm chí cả con người mình một cách càng khẩn cấp hơn bao giờ hết. Viên quản lý nói nhỏ với Adeline. Bà ta vừa thiểu não nhìn tôi vừa đi ra ngoài. Tôi lộn trái các túi của mình ra trước mặt người đàn ông kia. Ông ta đi theo vào phòng tôi. Tôi ngồi bên cạnh cửa sổ trong khi ông ta mở hết ngăn này đến ngăn khác của tủ ngăn kéo và mở cả tủ quần áo của tôi ra nữa. Gã hầu, cô hầu gái và hai thằng bé đứng bên cạnh cửa. Bất thình lình viên quản lý kêu lên một tiếng trống rỗng và giơ chiếc nhẫn lên. Một khoảnh khắc trước tôi đã biết với sự chắc chắn cao nhất rằng ông ta sẽ tìm được chiếc nhẫn. Tôi đã đọc thấy điều đó trên mặt hai thằng bé kia. Thế nên tôi ngồi im lặng trong khi những người khác nhìn nhau rồi theo chân viên quản lý đi ra ngoài. Tôi khóa cửa phòng rồi đi đi lại lại, cứ đi đi lại lại như thế, trong nhiều, rất nhiều giờ.
“Khi đêm đã trôi qua, linh hồn tôi thấy bình tĩnh một cách trang nghiêm. Tôi cử một người hầu sang hỏi Adeline rằng bà ta có tiếp tôi không. Bà ta từ chối. Viết thư bào chữa là việc tôi khinh bỉ không thèm làm. Tôi sẽ chỉ hạ thấp bản thân nếu như khẳng định sự vô tội của mình theo cách đó. Linh hồn tôi tinh khiết và lạnh lẽo. Hôm sau tôi được biết rằng từ lâu viên quản lý đã nghe nói đến những lời đồn về sự tàn bạo đáng sợ mà người ta nói là tôi đã giáng xuống đầu hai thằng bé kia, hai thằng này còn kết tội mẹ chúng và tôi thông dâm với nhau. Thế nên ông ta đã bí mật đến Halbertsroda vài lần, hỏi đám người hầu, và, ngay vào buổi sáng hôm đó, bảo hai thằng bé cởi đồ ra trước mặt mình và trông thấy trên người chúng những vết roi mà chúng đã nhận. Thêm nữa, vì toàn bộ tình trạng tâm trí của chúng làm cho ông ta lo lắng, nên ông ta đánh điện báo tin cho ông ủy viên hội đồng biết. Đêm hôm đó ông này đến cùng với một viên cảnh sát.
“Tôi nghi Adeline đã nhìn thấu ngay cái âm mưu liên quan đến chiếc nhẫn, vì việc này không được đề cập đến. Viên sĩ quan cảnh sát quay sang tôi nói một cách mơ hồ về những hậu quả nghiêm trọng, nhưng tôi không cố gắng giải thích hay bào chữa cho bất cứ việc gì mình đã làm. Ngay đêm đó tôi rời khỏi Halbertsroda. Tôi không gặp lại Adeline nữa. Tôi nghe nói rằng người ta đã gửi bà ta đến một viện điều dưỡng. Ba tuần sau đó tôi nhận được một hộp nhỏ qua đường bưu điện. Tôi mở nó ra thì thấy chiếc nhẫn đính ngọc trai kia. Trong sân nhà chúng tôi có cái giếng rất cổ xưa. Tôi ra ném chiếc nhẫn xuống cái giếng này.
“Và bây giờ thì anh biết chuyện gì đã xảy ra với tôi trong thế giới của những con người đẳng cấp cao hơn đó, trong ngôi nhà của ông ủy viên hội đồng Ribbeck đó rồi đấy.”
