favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXV)

HAY CÓ BAO GIỜ SỢI DÂY BẠC BỊ NỚI LỎNG

XVI

Họ phải đi một chốc nữa mới đến cổng vào khuôn viên lâu đài Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian. Lúc Voss sắp đi, Christian mới nói: “Có lẽ anh đã mệt. Tại sao phải tốn công sức đi bộ về làng? Hãy làm khách của tôi đêm nay.”

“Nếu như việc đó không làm anh thấy bất tiện, thì tôi xin nhận lời,” Voss trả lời.

Họ vào nhà và vào gian sảnh được chiếu sáng rực rỡ. Amadeus Voss kinh ngạc trố mắt nhìn quanh. Họ đi lên cầu thang rồi vào sảnh ăn tối, nó được trang bị đồ đạc theo phong cách Louis XV chuẩn mực nhất. Christian đưa khách qua những căn phòng khác đến phòng nơi hắn sẽ ngủ. Và Amadeus Voss càng lúc lại càng kinh ngạc hơn. “Nơi đây hoàn toàn khác với Halbertsroda,” hắn lẩm bẩm; “so sánh thì giống như một ngày có lễ hội với một ngày bình thường vậy.”

Họ im lặng ngồi đối diện nhau tại bàn. Rồi họ vào thư viện. Một người hầu phục vụ cà phê trên đĩa bạc phẳng. Voss tựa người vào một cây cột ngửa cổ nhìn lên trần. Khi gã hầu đã đi ra, hắn nói: “Đã bao giờ anh nghe nói về bệnh dịch Telchines chưa? Đó là một căn bệnh xuất phát từ thói đố kỵ của người Telchines, những con chó săn của Actaeon được biến thành người, và chúng hủy hoại tất cả mọi thứ ở trong tầm với. Một chàng trai trẻ tên là Euthilides đã nhìn hình phản chiếu chính tấm nhan sắc của mình trong một dòng suối bằng con mắt đố kỵ đó, và sắc đẹp của anh ta đã lụi tàn.”

Christian im lặng nhìn xuống sàn.

“Còn một truyền thuyết khác về một nhà quý tộc Ba Lan nữa,” Amadeus nói tiếp. “Nhà quý tộc này sống một mình trong một ngôi nhà trắng bên cạnh dòng sông Vistula. Tất cả hàng xóm đều xa lánh ông ta, bởi vì ánh mắt đố kỵ của ông ta chẳng mang lại cho họ gì khác ngoài tai họa. Nó giết chết gia súc gia cầm của họ, châm lửa đốt kho thóc của họ, và khiến cho con cái họ bị hủi. Có lần một thiếu nữ xinh đẹp bị những con sói rượt đuổi vào trốn trong ngôi nhà trắng đó. Ông ta yêu cô và cưới cô. Nhưng vì cái tính xấu trong ông ta cũng từ từ truyền sang cô, nên ông ta móc hai con mắt mình ra chôn bên cạnh bức tường trong vườn. Giờ đây ông ta đã lành bệnh. Nhưng hai con mắt bị chôn đã tìm được một nguồn sức mạnh mới dưới đất, và chúng giết chết lão gia nhân già đã đào chúng lên.”

Ngồi trên ghế đẩu thấp, Christian gập hai cánh tay lại trên đầu gối, và nhìn lên Voss.

“Đôi khi,” Amadeus Voss nói, “người ta phải đền tội cho cái dâm đãng của con mắt. Trên làng Nettersheim một cô hầu gái đang nằm chờ chết. Cô gái tội nghiệp bị cả thế giới bỏ rơi. Cô ta nằm trong chuồng bên cạnh chuồng ngựa, và những nông dân nghĩ rằng cô ta chỉ lười thôi không tin là cô ta sắp chết. Tôi đã đến thăm cô ta nhiều hơn một lần, để đền tội cho cái dâm đãng của con mắt.”

Một lúc im lặng dài đổ ụp xuống đầu họ. Khi đồng hồ trong hộp Gothic cao gõ mười hai tiếng, họ đi về phòng mình.

XVII

Nghe theo lời kêu gọi của cha, Christian đến Wurzburg.

Họ chào hỏi nhau một cách lịch sự nhất. “Cha hy vọng mình không cản trở kế hoạch nào của con,” Albrecht Wahnschaffe nói.

“Con là để tùy ý cha sử dụng,” Christian điềm tĩnh đáp.

Họ đi dạo trên những thành lũy cổ nhưng không nói gì nhiều. Con chó Freia xinh đẹp, người bạn trung thành của ông Albrecht Wahnschaffe, chạy lon ton giữa hai người. Wahnschaffe cha ngạc nhiên nhận thấy trên mặt Christian những dấu hiệu của thay đổi nội tâm.

Tối hôm đó, trong khi uống trà, ông ta nói với vẻ rộng lượng đáng khâm phục. “Con sẽ được chúc mừng, cha hiểu, về một thành tích thực sự khác thường. Một vòng hoa huyền thoại bao quanh viên kim cương đó. Sự việc đó đã thổi bụi bay xoáy tít và gây ra không ít kinh ngạc. Đối với cha nó dường như không được chính đáng đến thế, bởi vì con không phải là một công tước người Anh, cũng không phải một hoàng tử Ấn Độ. Viên đá đó thực sự đáng thèm muốn đến thế sao?”

“Nó tuyệt diệu,” Christian nói. Và đột nhiên những lời nói của Voss lại hiện lên trong tâm trí chàng: Người ta phải đền tội cho cái dâm đãng của con mắt.

Albrecht Wahnschaffe gật đầu. “Cha không nghi ngờ điều đó, và cha hiểu những đam mê như vậy, dù, là người làm ăn, cha tiếc một khoản tiền lớn đến thế. Đó là lập dị; và thế giới sẽ ở trong tình thế cực kỳ nguy hiểm bất cứ khi nào đám người bình dân trở nên lập dị. Và vì thế mà cha muốn nhờ con ngẫm nghĩ về mặt này của vấn đề: tất cả những đặc quyền mà con được hưởng, tất cả những sự thoải mái của cuộc sống, khả năng thỏa mãn những ý thích bất chợt nảy ra và những đam mê của con, uy quyền tối cao của địa vị xã hội của con - tất cả những thứ đó có được là nhờ ở thành quả lao động. Cần cha nói thêm là – nhờ ở thành quả lao động của cha con hay không?”

Con chó Freia từ trong góc phòng chạy ra, âu yếm tựa đầu lên đầu gối Christian. Albrecht Wahnschaffe, hơi khó chịu và ghen tị, tát yêu vào một bên sườn nó.

Ông ta nói tiếp. “Tình trạng bị bóc lột sức lao động đến mức độ như cha phải gánh chịu dĩ nhiên kéo theo sau sự tự từ chối rộng lớn nhất tất cả những vấn đề khác. Người ta trở thành lưỡi cày xẻ đất và hoen gỉ đi. Hoặc người ta giống như một thứ chất đốt, truyền ánh sáng nhưng tự hủy hoại mình. Hôn nhân, gia đình, bạn bè, nghệ thuật, tự nhiên - những thứ đó hầu như không tồn tại đối với cha. Cha đã sống như thợ mỏ dưới hầm. Và cha đã nhận được những lời cảm ơn như thế nào? Những kẻ mị dân nói với đám người chúng định lừa dối rằng cha là một con ma cà rồng, kẻ hút máu những người bị áp bức. Những kẻ đầu độc đời sống xã hội của chúng ta đó cả không biết lẫn không muốn biết những cú sốc, những đau khổ và những sự từ bỏ mà cha phải chịu đựng, những điều mà đám ‘làm công ăn lương’ vô tư lự của chúng không có chút khái niệm nào cả.”

Freia nép sát vào người Christian hơn, nó liếm bàn tay chàng, đôi mắt nhún nhường van xin một cái nhìn. Sự dịu dàng câm lặng của con vật đã xoa dịu chàng. Chàng nhíu mày, nói ngắn gọn: “Nếu vậy, và cha cảm thấy điều đó một cách sâu đậm đến thế, thì tại sao cha vẫn tiếp tục làm việc?”

“Có thứ được gọi là bổn phận, cậu bé hư hỏng yêu dấu của cha à, có thứ được gọi là lòng trung thành với một chính nghĩa,” Albrecht Wahnschaffe trả lời, và ánh tức giận lóe lên trong đôi mắt màu xanh nhạt. “Mọi nông dân đều bám vào mảnh đất trên đó họ vất vả làm việc. Nước ta vẫn còn là nước nghèo khi cha bắt đầu làm việc; ngày nay nó đã giàu có. Cha sẽ không nói rằng những việc cha đã làm được là đáng kể, khi đem so sánh với tổng số những việc mà nước ta đã làm được, nhưng chúng cũng được tính gộp vào. Đó là dấu hiệu sự trỗi dậy của chúng ta, sức mạnh trẻ trung của chúng ta, sự thịnh vượng về kinh tế của chúng ta. Giờ đây chúng ta đã là một trong những quốc gia thực sự vĩ đại, và có một thân xác cũng như một vẻ mặt.”

“Điều cha nói rõ ràng không thể đúng hơn,” Christian trả lời. “Thật là bất hạnh, nhưng con lại không có bản năng dành cho những vấn đề như thế; nhân cách con thiếu sót những chuyện loại này.”

“Một phần tư thế kỷ trước số phận con hẳn là số phận của kẻ đi kiếm miếng bánh mì,” Albrecht Wahnschaffe nói tiếp, không phản ứng lại những lời nói của Christian. “Ngày nay con là hậu duệ và là người thừa kế. Thế hệ các con chứng kiến một thế giới và thời đại đã đổi khác. Những người già bọn cha gắn những đôi cánh lên vai các con, và các con đã quên mất bò trườn đau đớn thế nào.”

Christian, trong niềm khát khao u ám hơi ấm của một thân thể nào đó, đã ôm lấy đầu con chó trong hai bàn tay mình. Thế là, với một tiếng gầm gừ biết ơn, nó chồm dậy đặt hai bàn chân lên vai chàng. Miệng nở nụ cười, nó bao gồm cả mục đích mơn trớn con chó, chàng nói: “Chẳng ai từ chối những thứ tốt đẹp rơi vào lòng mình cả. Đúng là con không bao giờ hỏi mọi thứ đến từ đâu và sẽ đi về đâu. Chắc chắn có những lối sống khác; và có thể một ngày nào đó con sẽ áp dụng chúng. Khi đó sẽ rõ người ta có thể trở thành người khác được không, loại người nào và khi nào thì những sự chu cấp, hay những đôi cánh, như lời cha nói, sẽ không còn nữa.” Mặt chàng trở nên nghiêm túc.

Albrecht Wahnschaffe đột nhiên cảm thấy có phần hơi bất lực trước kẻ lạ mặt đẹp trai, kiêu hãnh là con trai mình đó. Để giấu nỗi lúng túng của mình, ông ta vội vàng trả lời: “Một lối sống khác – đó chính là điều ý cha muốn nói. Cuộc sống không có gì ngoài một chuỗi những chuyện vặt vãnh chắc chắn cuối cùng sẽ trở thành gánh nặng, điều đó khiến cha đề nghị với con một sự nghiệp nó xứng đáng với những sức mạnh và tài năng của con hơn. Con có thích nghề ngoại giao không? Wolfgang dường như hoàn toàn thỏa mãn với những khả năng mà nó thấy đang mở ra trước mắt. Cả với con nữa cũng chưa phải là quá muộn. Không khó để lấy lại khoảng thời gian đã mất. Tên con nặng ký hơn bất cứ tước hiệu quý tộc nào. Con sẽ ở trong một bầu không khí thích hợp; con có nhiều tiền, những phẩm chất và những mối quan hệ cần thiết. Mọi thứ sẽ tự động điều chỉnh.”

Christian lắc đầu. “Cha nhầm rồi, thưa cha,” chàng nói, nhẹ nhàng nhưng cương quyết. “Con không có khả năng cho bất cứ điều gì giống như thế, và không có chút thị hiếu nào.”

“Cha đã nghi như thế,” Albrecht Wahnschaffe nói, bằng cái cách sinh động nhất của ông ta. “Chúng ta thôi đừng nói chuyện này nữa. Lời đề nghị thứ hai của cha dễ chịu với cha hơn nhiều. Cha sẽ động viên con hợp tác trong những hoạt động của công ty chúng ta. Cha sẽ tạo cho con vị trí người đại diện dịch vụ của chúng ta ở trong nước lẫn nước ngoài. Nếu chọn nước ngoài con có thể chọn lãnh thổ hoạt động của con - chẳng hạn như Nhật hoặc Mỹ. Chúng ta sẽ trao cho con những ủy nhiệm quyền giúp cho vị trí của con rất độc lập. Con sẽ gánh vác những trách nhiệm không nặng nề chút nào, và được hưởng tất cả những đặc quyền của một viên đại sứ. Chỉ cần con nhận lời. Cha sẽ thu xếp mọi chuyện.”

Christian đứng dậy khỏi ghế. “Con thực sự thành khẩn cầu xin cha, thưa cha, đừng nói đến chuyện này nữa,” chàng nói. Thái độ chàng lạnh lùng và ánh mắt chàng thất vọng.

Albrecht Wahnschaffe cũng đứng dậy. “Đừng thiếu suy nghĩ, Christian,” ông ta quở mắng con trai. “Cha sẽ không giấu sự thật rằng lời từ chối dứt khoát của con sẽ làm cho cha tổn thương ghê gớm. Cha đã hy vọng ở con.” Ông ta nhìn Christian bằng ánh mắt kiên định. Nhưng Christian im lặng.

Một lát sau ông ta hỏi: “Từ lúc con đến nhà máy đến nay đã bao lâu rồi?”

“Hẳn ba hoặc bốn năm rồi,” Christian trả lời.

“Đến lễ Hạ Trần là ba năm rồi, nếu như cha nhớ đúng,” Albrecht Wahnschaffe nói, với vẻ tự hào về trí nhớ quen thuộc của ông ta, đó là một trí nhớ hiếm khi nhầm lẫn. “Con đã đồng ý một chuyến du ngoạn thú vị trên những ngọn núi Harz với anh họ con, Theo Friesen, và Theo nóng lòng muốn ghé thăm qua những nhà máy. Nó đã nghe nói đến phong trào sức khỏe cho công nhân mới của chúng ta, và quan tâm đến nó. Nhưng rốt cuộc con đã không dừng lại.”

“Vâng, con thuyết phục Theo đi tiếp. Bọn con còn một chặng đường dài ở trước mặt, và con thì nóng lòng muốn đến khu ăn ở dành cho công nhân.”

Bây giờ Christian đã nhớ lại tất cả. Trời tối trước khi chiếc ô tô chạy vào những con đường trong khu nhà máy. Chàng đã nhượng bộ ước muốn của người anh họ, nhưng đột nhiên mối ác cảm đối với thế giới của khói bụi, mồ hôi và sắt này trỗi dậy trong chàng. Chàng không muốn ra khỏi xe, và ra lệnh cho tài xế tăng tốc.

Tuy nhiên chàng vẫn còn nhớ thứ âm nhạc khủng khiếp phát ra từ thép bị rèn và những bánh xe ầm ĩ. Chàng vẫn có thể nghe tiếng sấm rền, tiếng huýt còi, tiếng khò khè, tiếng rít, tiếng xì; chàng vẫn có thể thấy đám rước mau lẹ của lò rèn, xy-lanh, máy bơm, búa hơi nước, lò luyện kim, đủ loại; hàng ngàn bộ mặt đen nhẻm, một nòi giống dường như được sinh ra từ than trong hơi thở của thứ ánh sáng hung dữ phát ra từ những ngọn lửa màu trắng và đỏ thẫm; những mặt trăng điện mù sương run rẩy trong không gian; những phương tiện giống xe đẩy của thần chết bị bóng tối màu tím nuốt chửng; những gia đình công nhân, với vẻ ngoài thoải mái, và thực tế buồn thảm vô cùng; nhà tắm, thư viện, câu lạc bộ, trường mẫu giáo, bệnh viện, nhà trẻ, nhà kho, nhà thờ và rạp chiếu bóng. Đám người của sức mạnh và tình trạng nô lệ, của tất cả những gì xấu xí nhất trên trái đất, ăn mặc lố lăng và nhuộm những màu nhạt ở đây, tất cả những kẻ quấy nhiễu đều bị đàn áp và gông cùm.

Chàng trai trẻ Friesen kiệt sức vì khâm phục, nhưng Christian thở không thoải mái cho đến khi chiếc ô tô của họ chạy ra đường thoáng rộng, bỏ lại phía sau nỗi khiếp sợ chói lọi trong cuộc trốn chạy hoảng loạn của nó.

“Từ bấy đến nay con không quay lại đó nữa phải không?” Albrecht Wahnschaffe hỏi.

“Vâng.”

Họ im lặng đứng đối diện nhau một lát. Albrecht Wahnschaffe nắm vòng cổ con Freia, và nói với vẻ tự chủ trứ danh: “Hãy hỏi ý kiến chính mình. Vẫn còn thời gian. Cha sẽ không hối thúc con quá đáng, mà sẽ chờ đợi. Khi đã suy nghĩ kỹ, đã kiểm tra tâm trí mình, con sẽ nhận ra rằng cha chỉ lo cho hạnh phúc của con mà thôi. Đừng trả lời cha bây giờ. Khi con đã quyết định dứt khoát – hãy cho cha biết.”

“Con rút lui được chưa ạ?” Christian hỏi. Cha chàng gật đầu, thế là chàng cúi chào rồi ra khỏi phòng.

Sáng hôm sau chàng trở về lâu đài Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian.

XVIII

Ngôi nhà của gia đình Gunderam nằm trên một con phố phụ thuộc khu vực bận rộn nhất của Buenos Ayres. Cha mẹ ông Gottfried Gunderam đã mua nó khi họ đến Argentina vào giữa thế kỷ mười chín. Vào những ngày đó giá trị của nó chẳng đáng là bao, nhưng sự phát triển của thành phố đã biến nó thành một tài sản đáng kể. Gottfried Gunderam nhận được những lời đề nghị mua nó hấp dẫn, không chỉ từ những người buôn bán riêng, mà còn từ chính quyền thành phố. Ngôi nhà ọp ẹp sẽ bị phá sập, và thay thế bằng một chung cư hiện đại.

Nhưng ông Gottfried Gunderam bỏ ngoài tai tất cả mọi lời đề nghị. “Ngôi nhà nơi mẹ tôi mất,” ông ta tuyên bố, “sẽ không bị bán cho những kẻ lạ mặt cho đến khi hơi thở vẫn còn trong thân xác tôi.”

Sự kiên quyết này, xuất phát từ tính mê tín dị đoan nó đủ mạnh mẽ để bắt ngay cả lòng tham của ông ta cũng phải im lặng, nhiều hơn là xuất phát từ lòng hiếu thảo của con cái. Ông ta sợ mẹ đội mồ dậy trả thù, nếu mình để cho ngôi nhà tổ tiên của gia đình bị bán và phá hủy. Theo ý kiến của ông ta, sự giàu sang, việc thu hoạch tốt, một thời kỳ vĩ đại, và hạnh phúc chung lệ thuộc vào hành động của mình trong vấn đề này. Ông ta thậm chí không cho phép người lạ vào nhà.

Những người con trai và bà con của ông ta giễu cợt gọi nó là Escurial [Cung điện và lăng tẩm lớn và đẹp cách Madrid hai mươi lăm dặm về phía Tây Bắc – ND]. Gottfried Gunderam không để ý đến những lời chế giễu của họ, nhưng dần dà và một cách hoàn toàn nghiêm túc, cũng nhiễm phải thói quen gọi ngôi nhà đó là Escurial.

Một hôm, trước chuyến đi sang Đức của anh ta lâu, Stephen khôn khéo tận dụng được thời cơ thuận tiện trước cha mình trong khi ông già này ngà ngà say và vui vẻ, và moi được từ ông ta lời hứa rằng Escurial sẽ là của anh ta sau khi cưới vợ. Anh ta đã hy vọng rằng lời hứa này sẽ được thực hiện khi về nhà với Letitia. Anh ta định sẽ ổn định làm luật sư ở Buenos Ayres, và khôi phục lại ngôi nhà bị bỏ mặc đó.

Anh ta nhắc cha mình về thỏa thuận kia. Ông già thẳng thừng từ chối. Ông ta nháy mắt một cách nghiêm trọng. “Có giấy tờ gì không - giấy trắng mực đen ấy? Được, thế mày muốn gì? Nghĩ có thể đòi được một thỏa thuận về chuyện không có giấy tờ thì quả mày là một luật sư giỏi đấy!”

Stephen không đáp. Nhưng thỉnh thoảng - một cách lạnh lùng, có phương pháp và bình tĩnh – anh ta lại nhắc ông già về lời hứa của ông ta.

Ông già nói: “Con bé mày cưới không vừa mắt tao. Nó không thích hợp với cuộc sống của chúng ta. Nó đọc sách suốt. Thật là kinh tởm. Nó là con búp bê mặt sữa không có nhựa sống. Bắt nó phải hài lòng với những gì nó có. Tao sẽ không ngu ngốc tốn tiền cho mày đâu. Phải tốn khá tiền mới làm cho Escurial có thể ở được. Mà tao không có tiền. Không có đồng nào cả.”

Stephen ước tính số tiền sẵn có của cha anh ta lên đến khoảng bốn năm triệu. “Cha nợ con khoản thừa kế của con,” anh ta trả lời.

“Tao nợ mày một trận đòn ra trò ấy!” ông già dứt khoát đáp.

“Lời cuối cùng của cha đó phải không?”

Ông già trả lời: “Còn lâu. Còn lâu tao mới nói lời cuối cùng. Nhưng tao muốn trong nhà được bình yên, và vì thế nên tao sẽ mặc cả với mày. Sau khi vợ mày sinh con trai, Escurial sẽ là của mày, thêm vào đó là năm mươi ngàn peso.”

“Hãy viết lời hứa đó ra giấy! Giấy trắng mực đen – như cha đã nói.”

Ông già bật lên một tiếng cười khô khốc. “Tốt!” ông ta kêu lên, và nháy cả hai mắt. “Mày khá hơn rồi đấy. Thật đáng mừng vì tiền bỏ ra cho mày học luật không hoàn toàn bị phí phạm.” Ông ta hân hoan ngồi xuống bên bàn, và thảo cái tài liệu được yêu cầu kia.

Ít tuần sau đó Stephen nói với Letitia: “Chúng ta vào thành phố thôi. Anh muốn cho em thấy Escurial.”

Sinh linh duy nhất sống trong ngôi nhà đó là một bà da trắng lai đen chín mươi tuổi. Để đánh thức bà ta dậy người ta phải ném đá vào những cánh cửa chớp gỗ. Thế là bà ta sẽ hiện ra, người gập hầu như làm đôi, mắt gần như mù, mặc những thứ giẻ rách, một cục u vàng ở trên trán.

Con phố, được làm từ một thế kỷ trước, thấp hơn gần một mét so với những phố được làm gần đây hơn; thế nên Stephen và Letitia phải dùng một cái thang ngắn mới lên được đến cửa nhà. Mọi thứ trong nhà, đồ nội thất và sàn, đều mốc meo và mục nát. Mạng nhện trong các góc giống như những đám mây, và những con nhện béo lông lá nằm vô tư lự ở đó. Giấy dán tường rách nát, cửa sổ gãy, lò sưởi sụp.

Nhưng trong căn phòng nơi mẹ ông Gunderam mất, có một cái bàn khảm hoa văn đẹp, đó là món đồ cổ từ một nhà tu kín ở Siena. Hình trang trí ghép mảnh là cảnh hai thiên thần nghiêng cành cọ về phía nhau, và có một con chim đại bàng đứng giữa hai thiên thần này. Nữ trang của người đàn bà đã khuất nằm trên cái bàn đó. Trâm và dây chuyền, nhẫn, hoa tai và xuyến, đã nằm đây bị bụi phủ trong nhiều, rất nhiều năm. Tiếng tăm bị ma ám bảo vệ ngôi nhà cũ này hữu hiệu hơn những ô cửa sổ có chấn song.

Letitia sợ hãi nghĩ: “Mình sẽ sống ở đây là nơi những con ma có thể xuất hiện vào ban đêm để mặc những bộ trang phục lộng lẫy cũ của chúng sao?”

Nhưng khi Stephen giải thích những kế hoạch xây dựng và trang trí lại của anh ta, thì nàng vui vẻ lại, và trí tưởng tượng của nàng biến những căn phòng mục nát này thành những buồng ngủ hấp dẫn và những khuê phòng thanh nhã, những gian sảnh mát mẻ và những cầu thang thoáng rộng trải thảm.

“Chúng ta có được một mái ấm hạnh phúc và xinh đẹp rất nhanh hay không là hoàn toàn tùy thuộc ở em đấy,” Stephen tuyên bố. “Anh đang góp phần mình. Anh ước mình cũng có thể nói như thế về em.”

Letitia nhìn đi nơi khác. Nàng đã biết điều kiện mà ông già Gunderam đưa ra.

Nàng làm Stephen thất vọng hết lần này đến lần khác. Escurial đang nằm trong giấc ngủ như chết của nó, và mặt chồng nàng ngày càng u ám hơn. Anh ta đưa nàng đến nhà thờ cầu nguyện; anh ta rải quả hồ đào đất lên giường nàng; anh ta cho nàng uống cao xương pha với rượu vang. Anh ta cho gọi một bà già có phép thuật tới, và Letitia phải đứng khỏa thân, bảy cây nến bao quanh, và để cho người đàn bà đó lẩm bẩm trên thân xác mình. Và nàng đi nhà thờ cầu nguyện, dù không tin những lời cầu nguyện của mình, không cảm thấy mộ đạo và không biết gì về Chúa. Tuy vậy nàng rùng mình trước những lời lẩm bẩm của mụ phù thủy người Ý kia, dù sau đó nàng bật cười xem nhẹ tất cả những chuyện này.

Trong tâm hồn mình, nàng hình dung hình ảnh đứa trẻ mà thân xác mình từ chối không chịu mang. Hình ảnh đó không có giới tính rõ ràng, nhưng đáng yêu không tì vết. Nó có đôi mắt dịu dàng của một con nai, những đường nét của một trong những thiên thần của Raphael, và linh hồn tuyệt đẹp trong một bài tụng ca của Holderlin. Nó sinh ra để trở thành vĩ đại, và đường cong cao ngất của vận mệnh nó không biết đến một chỗ sụt nào. Ý nghĩ về đứa trẻ trong mơ này làm nàng tràn ngập những tình cảm mơ hồ tuyệt đẹp, và nàng kinh ngạc trước việc Stephen ngày càng tức giận và nóng nảy hơn. Nàng kinh ngạc không hiểu mình có lỗi gì.

Mẹ Stephen, người được mọi người biết đến với cái tên Donha Barbara, nói với con trai: “Mẹ sinh cho cha con tám đứa con. Ba đứa đã chết. Bốn đứa là những người đàn ông mạnh mẽ. Chúng ta thậm chí không cần phải tính đến em gái Esmeralda của con. Tại sao con bé này lại hiếm muộn? Hãy trừng phạt nó, con trai ta, nện cho nó một trận!”

Stephen nghiến răng, cầm lấy cái roi da bò của anh ta.

 

Thêm vào giỏ hàng thành công