favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXVI)

HAY CÓ BAO GIỜ SỢI DÂY BẠC BỊ NỚI LỎNG

XIX

Trời tối, và Christian đến nhà người trông coi rừng. Con đường giờ đây đã quá quen thuộc với chàng. Chàng không phân tích nỗi cưỡng bức bên trong nó kéo mình đến đó.

Amadeus Voss đang ngồi đọc một cuốn sách cũ bên cây đèn của hắn. Bóng mẹ hắn lẻn đi qua cánh cửa thứ hai của căn phòng.

Một lát sau hắn hỏi: “Mai anh đi với tôi đến Nettersheim chứ?”

“Tôi sẽ làm gì ở đó?” đến lượt mình Christian hỏi.

Amadeus ngước mặt lên, đôi mục kỉnh của hắn lấp lánh. Hắn lẩm bẩm: “Lần này cô ta có thể chết.”

Hắn lấy ngón tay gõ gõ lên hai đầu gối mình. Vì Christian không nói gì, hắn bắt đầu kể cho chàng nghe câu chuyện về Walpurga, người phụ nữ đang làm thuê cho chú hắn, người nông dân giàu có Borsche.

“Cô ta được sinh ra trong làng, con gái một người sống ở nông thôn. Năm mười lăm tuổi cô ta lên thành phố. Cô ta nghe nói đến cuộc sống tốt đẹp mà người ta sống ở đó và có những tham vọng to lớn. Cô ta làm thuê cho nơi này nơi kia. Cuối cùng cô ta đến làm thuê trong nhà một lái buôn có người con trai quyến rũ mình; và dĩ nhiên, khi việc này bị phát giác, người ta tống cổ cô ta đi. Thế nên hóa ra những người vốn là nạn nhân lại phải gánh chịu thêm một hình phạt nữa.

“Cô ta sinh được một đứa con, nhưng đứa trẻ này đã chết. Cô ta sa ngã ngày càng sâu hơn, cho đến khi trở thành một gái điếm lượn lờ ngoài phố. Cô ta hành nghề ở Bochum và Elberfeld. Nhưng cuộc sống đó làm cho cô ta kiệt sức, và ngã bệnh. Một hôm cô ta thấy nhớ nhà kinh khủng. Cô ta tập hợp tất cả phần sức lực còn lại, quay trở về ngôi làng nơi mình được sinh ra. Cô ta không một xu dính túi và ốm yếu, nhưng nóng lòng muốn kiếm miếng bánh mì ăn, bất chấp tiền lương là bao nhiêu và đó là công việc gì.

“Nhưng chẳng ai thuê cô ta. Cha mẹ cô ta đã chết và cô ta không có bà con thân thích nào, thế là cô ta trở thành gánh nặng chung. Người ta làm cho cô ta cảm thấy điều này một cách nghiêm trọng. Một Chủ Nhật ông mục sư chỉ trích cô ta từ trên bục giảng kinh. Ông ta không nhắc đến tên cô ta, nhưng nói về những cuộc đời ghê tởm và những vũng lầy tội lỗi, về tai ương và trừng phạt, và về việc nỗi tức giận của Chúa hữu hình trong một ví dụ nó ở trước mắt tất cả mọi người như thế nào. Cô ta bị sỉ nhục và bị mọi người công khai khinh bỉ như thế đấy, nên quyết tâm sẽ chấm dứt cuộc đời mình. Một buổi tối, khi Borsche trở về từ quán trọ của mình, ông ta trông thấy một người đàn bà đang nằm trên đường co giật dữ dội. Đó là Walpurga. Chẳng có ai ở gần đó cả. Borsche cõng cô ta trên tấm lưng rộng, và đưa về trang trại của mình. Cô ta thú nhận đã ăn đống phốt pho do mình cạo ra từ nhiều que diêm mà có. Người nông dân đó cho cô ta uống sữa để giải độc. Cô ta bình phục, và được cho phép ở lại trang trại đó.

“Cô ta lê thân ra đồng vào những hôm có thể làm việc được. Nhưng hôm không thể làm việc cô ta nằm trong một góc xa xôi nào đó. Đám hầu nam, số này rất đông, chăm chú nhìn thân xác cô ta như món tài sản chung. Kháng cự cũng vô ích. Mọi chuyện không khá hơn trước khi Borsche phát hiện ra việc này và đùng đùng nổi giận. Cô ta chỉ mới hai mươi ba tuổi, và dù đau ốm và khốn nạn trong đời, vẫn còn giữ lại được nhiều nét xinh đẹp trẻ trung. Hai má cô ta đỏ hồng tự nhiên và đôi mắt cô ta trong trẻo. Thế nên những khi cô ta không thể làm việc, những hầu gái khác lại bất ngờ tấn công cô ta một cách dữ dội, gọi cô ta là con điếm giả vờ ốm để khỏi phải làm việc.

“Hai tuần trước tình cờ tôi đi lang thang trong làng Nettersheim, và dừng chân ở nhà chú Borsche. Tôi được đón tiếp nồng hậu ở đó, bởi vì gia đình này nghĩ tôi là một linh mục tương lai rất có triển vọng. Họ nói chuyện về Walpurga. Chú tôi kể cho tôi nghe câu chuyện của cô ta, nhờ tôi xem cô ta và cho ý kiến về việc cô ta có ốm thực hay không. Tôi từ chối, hỏi vì sao không mời bác sĩ đến khám cho cô ta. Ông ta nói rằng bác sĩ ở Heftrich đã khám cho cô ta nhưng không thấy có bệnh tật gì cả. Thế là tôi đến gặp cô ta. Cô ta nằm trong chuồng, được ngăn cách khỏi những con bò cái chỉ bởi tấm liếp ngăn bằng gỗ. Cô ta đắp một tấm chăn phủ ngựa cũ, và một tấm đệm rơm nhỏ ngăn cách hơi lạnh của đất khỏi thân thể cô ta. Sắc mặt khỏe khoắn và hình hài bình thường của cô ta không đánh lừa được tôi. Tôi nói với ông chú tôi: ‘Cô ta đã như ngọn nến sắp tắt.’ Ông ta và vợ hình như tin tôi. Nhưng khi tôi yêu cầu họ phải cho người phụ nữ đau ốm này một chỗ ở tử tế và phải chăm sóc cho cô ta, thì họ chỉ nhún vai, nói rằng trong chuồng ngựa cũng ấm áp như bất cứ nơi nào khác, và rằng chẳng có lý do gì phải phiền phức và chịu bất tiện vì một sinh linh đã sa ngã đến thế.

“Sang ngày thứ ba tôi lại gặp cô ta, và từ đó ngày nào cũng gặp. Những ý nghĩ của tôi không thể rời khỏi cô ta được nữa. Trong suốt cuộc đời tôi chưa có người nào lôi kéo được trái tim tôi đến thế. Cô ta không còn dậy được nữa; đến kẻ độc ác nhất cũng phải thừa nhận điều đó. Tôi ngồi với cô ta trong cái chuồng bốc mùi kinh khủng trên băng ghế dài gỗ cạnh chỗ cô ta nằm. Mỗi lần tôi đến trông thấy tôi cô ta đều có vẻ hạnh phúc hơn. Tôi hái những bông hoa dại ở trên đường, và cô ta nắm chúng trong hai bàn tay rồi áp lên ngực. Họ đã nói cho cô ta biết tôi là ai, và dần dà cô ta hỏi tôi nhiều câu. Cô ta muốn biết cuộc sống bất diệt và hạnh phúc bất diệt có thực hay không. Cô ta muốn biết có phải Giê su chết trên cây thập giá để cho cả cô ta nữa hay không. Cô ta sợ những cuộc tra tấn nơi luyện ngục, và nói nếu chúng cũng tồi tệ như những cuộc tra tấn mà con người có thể thực hiện thì cô ta lấy làm tiếc cho phần bất tử của mình. Cô ta không định chửi rủa loài người hay phàn nàn về họ. Cô ta chỉ muốn biết mà thôi.

“Và tôi có thể trả lời cô ta thế nào đây? Tôi đảm bảo với cô ta rằng Giê su vác cả cây thập giá của cô ta trên lưng Người. Tôi câm lặng trước những câu hỏi khác của cô ta. Người ta câm lặng và tuyệt vọng như thế khi một trái tim đang sống khao khát sự thật, và Giê su bị đóng băng ở bên trong sẽ tan ra thành một ngày mới và một mặt trời mới. Thậm chí bây giờ họ vẫn đang ở dưới luyện ngục và hỏi khi nào sẽ bắt đầu. Đang ở trong bóng tối, họ không thấy bóng tối; đang bị lửa thiêu đốt, họ không biết nóng nghĩa là thế nào. Đâu là vương quốc đích thực của Satan - ở đây hay nơi nào khác? Và nơi nào khác đó có thể ở trên ngôi sao đáng nguyền rủa hơn ngôi sao này không? Người nghèo bị đẩy mạnh khỏi lề đường, người bị áp bức trên mặt đất bò đi trốn; tiếng rền rĩ của những người sắp chết đến từ các thành phố, và linh hồn của những người bị thương đến chết gào khóc. Thế mà Chúa không chấm dứt tội lỗi. Và chẳng phải người ta đã viết rằng Chúa nói với Satan: ‘Mi đến từ đâu? Và Satan trả lời Chúa, Từ đi tới đi lui và đi lên đi xuống trên trái đất.’

“Cô ta thú nhận những tội lỗi của mình với tôi, và cầu xin tôi ban cho sự xá tội. Nhưng những việc cô ta cho là đầy tội lỗi dường như lại không như thế với tôi. Tôi đã thấy nỗi sầu não và cô đơn trên cuộc đời. Tôi đã thấy những căn phòng trống trải và những bức tường trơ trụi, những con phố về đêm với những ngọn đèn lập lòe, và những người đàn ông không có chút ánh trắc ẩn nào trong đôi mắt. Đó là những điều tôi đã thấy và nghĩ đến, và tôi thu nhận vào lương tâm mình để bào chữa cho cô ta khỏi mọi tội lỗi. Tôi xá tội cho cô ta và hứa rằng cô ta sẽ được lên Thiên Đường. Cô ta mỉm cười với tôi và siết chặt bàn tay tôi, và trước khi tôi kịp ngăn lại thì cô ta đã hôn nó. Đó là ngày hôm qua.”

Amadeus im lặng. “Đó là ngày hôm qua,” hắn nhắc lại, sau một khoảng im lặng dài và trầm ngâm. “Hôm nay tôi không đi, vì sợ cô ta đã chết. Thậm chí bây giờ có lẽ cô ta chết rồi cũng nên.”

“Nếu như anh vẫn còn muốn đi, thì tôi sẵn sàng,” Christian rụt rè nói. “Tôi sẽ đi với anh. Chỉ mất một tiếng đi bộ thôi.”

“Thế thì chúng ta đi nào,” Amadeus nói, với một tiếng thở dài nhẹ nhõm, và đứng dậy.

XX

Một giờ sau đó họ đã ở trong sân trang trại của ông Borsche. Cửa chuồng ngựa mở. Đám đầy tớ nam và nữ đứng trước nó. Một ông già giơ đèn lồng lên cao, và tất cả bọn chúng nhìn chòng chọc vào chuồng. Trong quầng ánh sáng lờ mờ và dao động, mặt chúng có vẻ pha trộn giữa tôn kính và kinh ngạc. Bên trong, xác Walpurga nằm trên tấm đệm rơm. Hai má cô ta hồng hào. Chẳng có nét gì trên khuôn mặt đó làm liên tưởng đến cái chết, đó chỉ là giấc ngủ bình yên thôi.

Một cây nến duy nhất đang cháy trên băng ghế dài gỗ; nhưng nó cũng sắp tắt đến nơi rồi.

Amadeus Voss vượt qua đám đông đàn ông và đàn bà kia, vào quỳ xuống dưới chân người phụ nữ đã chết. Ông già cầm đèn lồng thì thầm gì đó, thế là tất cả đám đàn ông và đàn bà đó quỳ xuống chắp hai bàn tay lại.

Một con bò cái rống lên. Sau đó chẳng còn âm thanh nào khác ngoại trừ tiếng những quả chuông của đám gia súc không chịu đứng yên. Bóng tối trong chuồng ngựa, khuôn mặt người phụ nữ đã chết, nó giống như khuôn mặt trong tranh vẽ, mặt đám người đang quỳ, với những cái trán đần độn và đôi môi cứng rắn, trong quầng ánh sáng le lói màu vàng – Christian trông thấy tất cả những điều trên, và có điều gì đó tan chảy trong ngực chàng.

Chàng nhìn tất cả cảnh tượng kia từ trong bóng tối ngoài sân đằng sau. Khi Amadeus Voss trở ra với Christian thì ông thợ mộc làng đến đo tầm vóc người phụ nữ đã chết để đóng quan tài. Họ im lặng trên đường trở về nhà.

Bỗng Christian dừng bước. Họ đang ở gần một cột cây số cao. Chàng nắm chặt cây cột này bằng cả hai bàn tay, và ngửa đầu rất xa ra đằng sau, nhìn chằm chằm lên những đám mây đang trôi giạt trong đêm một cách dữ dội nhất. Rồi chàng nghe thấy Amadeus Voss nói: “Có thể sao? Những chuyện như thế có thể sao?”

Christian quay sang phía hắn.

“Tôi có một cảm giác lạ lùng khi ở trước mặt anh, Christian Wahnschaffe ạ,” Voss nói bằng giọng kiềm nén và thiếu sinh khí. Và rồi hắn lẩm bẩm một mình: “Có thể sao? Một chuyện tàn ác và không thể tin được như thế lại có thể xảy ra sao?”

Christian không trả lời, và họ đi tiếp.

XXI

Crammon mời một bữa tối. Không phải trong nhà ông; những cuộc gặp gỡ thuộc một tính chất nhất định không thể diễn ra ở đó, vì sự hiện diện thơ ngây của hai cô gái già, Cô Aglaia và Cô Constantine. Sự vỡ mộng sẽ quá đáng buồn và chí tử đối với hai quý cô tốt bụng này, những người tin vào đức hạnh của chúa tể và người bảo vệ họ như tin vào đức hạnh của bệ hạ hoàng đế vậy.

Trong những năm trước thỉnh thoảng họ cũng thấy hình như người mình tôn thờ không phải bao giờ cũng đi trên những con đường hoàn toàn trinh trắng. Họ đã nhắm một con mắt lại. Tuy nhiên giờ đây, phẩm giá và tiếng vang trí tuệ của nhân cách ông không cho phép bất cứ một sự nghi ngờ nào.

Crammon mời khách khứa đến phòng ăn riêng của một khách sạn nổi tiếng, ông thân quen và được kính trọng ở đó. Khách khứa gồm một số thành viên trẻ của giới quý tộc, những người ông có nghĩa vụ xã hội, và, về vấn đề các bà, có ba người đẹp, thú vị, thanh lịch, và dễ dãi, đúng mức độ mà dịp này đòi hỏi. Crammon gọi họ là bạn, nhưng trong cách đối xử của ông với họ có điều gì đó uể oải và thậm chí khó chịu. Ông làm họ hiểu rõ rằng mình chỉ là người quản lý tài chính của bữa tiệc, và rằng trái tim ông đang ở rất xa.

Trên thực tế, ông tỏ ra hoàn toàn lãnh đạm với tất cả những người có mặt. Ông thích nhất một nghệ sĩ dương cầm già có những lọn tóc bạc dài, người nhắm mắt mơ màng mỉm cười những khi ông chơi một khúc nhạc u sầu hay uể oải, đúng như ông vẫn làm hai mươi năm trước, khi Crammon vẫn còn bị những giấc mơ và tham vọng tuổi trẻ thiêu đốt. Ông đưa kẹo và thuốc lá cho ông già này, thỉnh thoảng còn trìu mến vỗ nhẹ lên vai ông ta.

Cái bàn rên rỉ dưới gánh nặng thức ăn và rượu vang. Tiêu được cho vào champagne để làm tăng cơn khát của mọi người. Anh đào trong những bát đựng trái cây, và các quý ông thấy trò thả hạt xuống những bộ ngực phô ra một nửa của các quý bà là vui nhộn. Các bà thấy việc cưỡng lại định luật hấp dẫn, và việc phô những đôi giày xinh đẹp, quần áo lụa mịn màng và dải buộc chân sột soạt của họ ra trong tư thế nằm ngang đáng kinh ngạc, khi đêm về khuya, càng lúc càng dễ dàng hơn. Người nhanh nhẹn nhất trong số họ, một nữ diễn viên chuyên đóng vai cô hầu nổi tiếng, leo lên cây đàn dương cầm lớn, và, cùng với tiếng đệm đàn của ông nhạc sĩ tóc bạc, hát ca khúc thành công mới nhất của các nhà hát âm nhạc.

Những chàng trai trẻ hòa giọng hát theo ở đoạn điệp khúc.

Crammon chỉ vỗ tay bằng hai ngón. “Linh hồn ta đau nhói,” ông thì thầm giữa tiếng ồn ào ầm ĩ. Ông đứng dậy rời khỏi phòng.

Trong hành đang người hầu trưởng Ferdinand đang đứng một mình tựa người có phần kiệt sức vào khung một tấm gương soi. Mối thân tình hai thập kỷ gắn bó Crammon với người đàn ông này, người trong đời mình chưa bao giờ tỏ ra thiếu kín đáo, dù vô số những bí mật mà ông ta đã nghe lỏm được.

“Thời buổi tồi tệ, Ferdinand ạ,” Crammon nói. “Thế giới rối beng.”

“Người ta phải chấp nhận mọi chuyện thôi, thưa ngài von Crammon,” con người đầy phẩm cách đó an ủi ông, và đưa tấm hóa đơn cho ông.

Crammon thở dài. Ông chỉ thị rằng nếu khách có hỏi, thì bảo rằng ông thấy khó ở nên về rồi.

“Linh hồn ta đau nhói,” ông nói, khi đã ra đến ngoài phố. Ông quyết tâm sẽ lại đi du lịch.

Ông khao khát bạn ông. Ông thấy dường như mình không có người bạn nào khác ngoài người đã vứt bỏ mình.

Ông khao khát Ariel. Ông thấy dường như mình không sở hữu người đàn bà nào cả, vì người mà ông cho là thiên tài và mỹ nhân đã khước từ ông.

Cô Aglaia đứng ở cửa nhà. Cô đã nghe tiếng ông về nên vội vàng ra gặp. Việc này khiến Crammon hốt hoảng, vì lúc đó đã muộn.

“Có một quý cô đang ở trong phòng khách,” Cô Aglaia thì thầm. “Cô ta đến lúc tám giờ, và đã chờ từ lúc đó đến giờ. Cô ta cầu xin chúng tôi cho ở lại quá cảm động đến mức chúng tôi không thể nhẫn tâm từ chối. Cô ta là một quý cô thanh lịch, và cô ta có một gương mặt đáng yêu ...”

“Cô ta có xưng tên không?” Crammon hỏi, và những đám mây đầy sấm sét tụ tập trên lông mày ông.

“Không, không hẳn ...”

“Vào nhà tôi thì phải xưng tên,” Crammon gầm lên. “Đây là nhà ga hay chỗ trú ẩn công cộng đấy à? Đi vào hỏi cô ta là ai. Tôi sẽ chờ ở đây.”

Ít phút sau Cô Aglaia quay lại nói bằng giọng thương hại: “Cô ấy đang ngủ trên ghế bành. Nhưng ông có thể nhìn trộm cô ấy. Tôi để cửa hé mở đấy.”

Crammon rón rén đi ngang qua sảnh, rồi nhìn trộm vào trong căn phòng khách sáng sủa. Ông lập tức nhận ra người đang ngủ. Đó là Elise von Einsiedel. Cô ta ngủ ngửa đầu ra sau và hơi nghiêng người sang một bên. Mặt cô ta tái, với hai vòng tròn màu xanh dưới đôi mắt, và cánh tay trái của cô ta ẻo lả buông thõng.

Crammon đội nguyên mũ và mặc áo choàng đứng đó, chòng chọc nhìn cô ta bằng đôi mắt ảm đạm. “Ôi cô bé bất hạnh!” ông lẩm bẩm.

Ông hết sức cẩn trọng khép cửa lại. Rồi ông kéo Cô Aglaia ra cửa nói: “Dĩ nhiên, sự hiện diện của một quý cô lạ mặt khiến cho việc tôi qua đêm ở đây trở nên không đứng đắn. Tôi sẽ đi kiếm một cái giường ở nơi khác. Tôi hy vọng cô đánh giá đúng thái độ của tôi.”

Cô Aglaia không nói nên lời trước thái độ trinh trắng và nghiêm trang đến thế. Crammon nói tiếp: “Sáng mai hãy dậy sớm hết sức, xếp hành lý của tôi rồi đưa chúng đến cho tôi kịp giờ đón tàu tốc hành đi Ostende. Và hãy để cho Constantine đi cùng với cô, để tôi có thể nói lời chia tay với cả cô ấy nữa. Hãy để quý cô lạ mặt kia ở lại đây bao lâu tùy thích. Hãy chiêu đãi cô ấy một cách lịch sự và đáp ứng tất cả mọi mong muốn của cô ấy. Cô ấy gặp chuyện đau buồn, và xứng đáng được đối xử tử tế. Nếu như cô ấy hỏi tôi, hãy nói rằng những chuyện khẩn cấp đòi hỏi tôi phải có mặt ở nơi khác.”

Ông đi ra. Cô Aglaia nhìn theo ông một cách buồn bã và vô cùng kinh ngạc. “Chúc ngủ ngon, Aglaia,” ông gọi với vào thêm một lần nữa. Rồi cánh cửa khép lại sau lưng ông.

XXII

Christian nhận được một bức điện tín từ Eva Sorel vào những ngày cuối tháng Tư. Nó như sau: “Từ ngày ba đến ngày hai mươi tháng Năm, Eva Sorel sẽ có mặt ở khách sạn Adlon, Berlin, và cảm thấy rất chắc chắn rằng Christian Wahnschaffe sẽ gặp cô ta ở đó.”

Christian đọc đi đọc lại bức điện trên. Tất cả mọi biến cố trong cuộc sống bên trong và bên ngoài của chàng đều hướng đến cuộc khủng hoảng sắp đến này. Chàng biết rằng lời kêu gọi đó sẽ ảnh hưởng quyết định tới số phận mình. Chàng không thể đoán được tính chất thực sự và phạm vi sức mạnh của nó.

Trong nhiều tuần lễ chàng gặp phải một cơn bồn chồn nó đánh cắp mất giấc ngủ nhiều giờ trong đêm. Chàng gọi đưa ô tô đến để đi sang một thành phố kế cận nào đó vào những ngày nhất định. Khi chiếc xe đi được nửa chặng đường, chàng lại ra lệnh cho tài xế quay trở về.

Chàng đã đi Waldleiningen, vỗ về những con ngựa và chơi đùa với những con chó của mình. Nhưng chàng bỗng cảm thấy mình giống như một chú học trò nói dối và trốn học, thế là niềm hứng thú dành cho những con vật này bay biến mất. Lúc chia tay chàng ôm con chó được mình yêu quý nhất, một con chó lớn giống Đan Mạch tuyệt đẹp, và khi Christian nhìn vào đôi mắt con vật đó thì, vẫn với vẻ cậu học trò trốn học, chàng dường như muốn nói: “Đầu tiên tớ phải vượt qua kỳ thi đã.” Và con chó dường như trả lời: “Tớ hiểu. Cậu phải đi rồi.”

Con ngựa mảnh mai của Denis Lay cũng nói, vừa quay cái cổ duyên dáng quá chừng của nó: “Tớ hiểu. Cậu phải đi rồi.”

Người ta xác định rằng con ngựa này sẽ tranh tài trong những cuộc chạy đua ở Baden-Baden, và gã dô kề người Ireland tràn đầy tự tin. Nhưng vào ngày lên đường Christian được cho biết rằng con vật này lại ốm. Chàng nghĩ: “Mình đã yêu chiều nó quá mức. Bây giờ thì nó muốn một bàn tay ve vuốt, và sẽ cảm thấy cô đơn nếu không có bàn tay đó.”

Cùng với mùa Xuân, khách khứa từ các thành phố đến lâu đài Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian hầu như hàng ngày. Nhưng chàng hiếm khi tiếp ai. Chàng không thể chịu đựng nổi một vị khách đơn lẻ. Nếu có hai người họ có thể nói chuyện với nhau và dễ dàng để cho chàng im lặng hơn.

Một hôm Conrad von Westernach và bá tước Madruzzi Thịnh Vượng đến, mang theo những lời nhắn của Crammon. Họ đang trên đường đi Hà Lan. Christian mời họ ăn tối với mình, nhưng chàng đã rất vắn tắt. Sau đó Conrad von Westernach nhận xét, bằng lối thẳng thắn của anh ta, với Madruzzi thế này: “Gã đó có nụ cười quái gở chết tiệt thật. Ta không bao giờ biết bẩm sinh gã là thằng ngốc hay gã đang cười nhạo mình.”

“Đúng thế,” ông bá tước đồng ý; “với hắn ta không bao giờ biết mình đang ở đâu.”

Thêm vào giỏ hàng thành công