favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XX)

MỘT CON CÚ TRÊN MỖI CÂY CỘT

XIX

Đám cưới Judith sẽ phải được tổ chức một cách vô cùng lộng lẫy.

Ngay từ tiệc mở đầu đã có tới hơn hai trăm khách được mời. Ô tô và xe ngựa xếp hàng dài vô tận.

Những ông trùm than và sắt trong toàn tỉnh đều xuất hiện, những viên chức quân sự và dân sự cấp bậc cao cùng phu nhân, những nhà quý tộc cấp bậc cao nhất và những nhà tài phiệt của Frankfort, những thành viên tòa án lưu động ở Darmstadt và Karlsruhe, và bạn bè từ nơi xa. Một ca sĩ trữ tình giọng nam cao nổi tiếng đến từ Berlin, một nhà soạn nhạc người Vienna, một ảo thuật gia, và một nghệ sĩ xiếc tung hứng bận rộn mua vui cho khách mời.

Cái bàn hình móng ngựa vĩ đại ở trong sảnh ăn tối, rực rỡ nào vàng, bạc, thủy tinh chạm, có ba trăm ba mươi bộ đồ ăn.

Đám đông dự tiệc tràn ngập trong hành lang đá hoa cương và những căn phòng kế cận. Màu vàng và hồng chiếm ưu thế trong cách phục trang của các quý bà; những cô gái trẻ phần lớn mặc đồ trắng. Những đôi vai trần lấp lánh kim cương và ngọc trai. Trang phục chỉ toàn đen trắng của đàn ông có tác dụng làm dịu bớt vẻ tráng lệ của sự phối hợp màu sắc.

Christian đi dạo với Randolph von Stettner, một trung úy kỵ binh nhẹ trẻ tuổi, đóng quân ở Bonn. Họ là bạn từ thuở bé, nhiều năm rồi không gặp nhau, nên đang nhắc lại những kỷ niệm. Randolph von Stettner nói anh ta không thực sự hạnh phúc với cái nghề của mình; đáng lý ra anh ta nên kiếm một tấm văn bằng đại học. Anh ta rất có nhiều năng khiếu về môn hóa học, và cảm thấy lạc lõng trong vai trò một người lính. “Nhưng trứng làm sao chọi được với đá,” anh ta kết luận, thở dài; “phải cắn răng mà chịu thôi.”

Christian tình cờ trông thấy Letitia, đang đứng giữa vòng vây đàn ông. Trên trán nàng là vẻ vô tư lự; nàng chẳng nghĩ gì đến hôm qua và ngày mai. Chẳng ai chìm đắm vào hiện tại hơn nàng.

Một người hầu tiến lại gần Christian và đưa cho chàng một tấm thiếp. Gã hầu này nhíu mày nghi ngại, vì tấm thiếp không được sạch sẽ. Christian đọc thấy trên đó dòng chữ viết bằng bút chì như sau: “I. M. Becker phải nói chuyện với anh ngay lập tức.” Chàng vội vàng xin lỗi rồi đi ra ngoài.

Ivan Michailovitch đứng hoàn toàn bất động trong sảnh ngoài. Khách mới đến, sau khi đưa mũ và áo choàng ngoài cho người hầu, đi qua mà không thấy ông ta. Đàn ông bước đi õng ẹo, các bà tìm một tấm gương soi lại mình lần cuối bằng đôi mắt phấn khích.

Ivan Michailovitch mặc một tấm áo choàng ngoài dài màu xám, sờn cũ và ướt át. Khuôn mặt râu đen tái nhợt như sáp. Christian kéo ông ta vào một góc trống trải trong sảnh, nơi họ không bị làm phiền.

“Xin anh thứ lỗi cho vì đã phủ bóng đen lên bữa tiệc lộng lẫy này,” Ivan Michailovitch bắt đầu, “nhưng tôi không còn lựa chọn nào khác. Chiều nay tôi đã nhận được lệnh trục xuất từ cảnh sát. Tôi phải rời khỏi thành phố và đất nước này trong vòng mười hai tiếng. Cái ơn huệ giản đơn mà tôi muốn xin anh là hãy giữ lấy cuốn sổ này, cho đến khi chính tôi hay một người bạn có nhân dạng thích hợp nào đó đến xin lại nó.” Ông ta liếc nhanh mắt nhìn quanh, lấy từ trong túi mình ra một cuốn sổ mỏng, màu xanh, rồi đưa nó cho Christian. Chàng nhanh chóng và kín đáo luồn nó vào túi áo choàng dài dạ hội của mình.

“Nó chứa đựng những bức thư báo viết bằng tiếng Nga,” Ivan nói tiếp, “chẳng có giá trị gì với bất cứ ai ngoài tôi, nhưng không được phép tìm thấy trên người tôi. Vì tôi sắp bị trục xuất nên gần như chắc chắn rằng người ta sẽ lục soát người tôi và đồ đạc của tôi.”

“Ông không vào nghỉ trong phòng tôi sao?” Christian rụt rè hỏi. “Ông không ăn hay uống gì sao?”

Ivan Michailovitch lắc đầu. Trong sảnh dập dềnh tiếng đàn vĩ cầm, đang chơi một khúc chiều lòng của Puccini.

“Ông không cả hong khô áo choàng ngoài của mình sao?” Christian lại hỏi. Những giai điệu nhạc, vẻ huy hoàng trong kia, tâm trạng vui vẻ và tiếng cười, trạng thái tràn trề nhan sắc và hạnh phúc, tất cả những điều đó tương phản quá mạnh mẽ với dung mạo người đàn ông mặc áo choàng dài ướt át, có khuôn mặt tái nhợt như sáp và đôi mắt tấy đỏ bệnh hoạn kia, đến mức khiến cho Christian thấy không thể chịu nổi cái vị trí hình như là nhẫn tâm của mình giữa hai thế giới mà chàng hiểu rõ là dứt khoát căm ghét nhau kinh khủng này thêm được nữa.

Ivan Michailovitch mỉm cười. “Anh thật tốt khi quan tâm đến áo choàng ngoài của tôi. Nhưng anh không thể giúp gì được đâu. Rồi nó cũng sẽ ướt lại thôi.”

“Tôi muốn đưa ông, cứ y nguyên như thế này, đi vào trong đó với tôi,” Christian nói, và chàng cũng mỉm cười.

Ivan Michailovitch nhún vai, mặt tối sầm lại.

“Tôi không biết tại sao mình lại thích làm như thế,” Christian lẩm bẩm. “Tôi không biết tại sao việc đó lại lôi cuốn tôi. Tôi đứng trước mặt ông, và ông khiến tôi cảm thấy mình đáng trách. Việc tôi nói hay im lặng không quan trọng. Chỉ cần tồn tại thôi là tôi đã đáng trách rồi. Chúng ta không nên nói chuyện ở đây trong góc của đầy tớ. Ông đang yêu cầu tôi gì đó, phải không Ivan Michailovitch? Yêu cầu của ông là gì vậy?”

Những lời này chứng minh tình cảm của chàng đã rối loạn đến tận đáy lòng. Chúng rộn ràng khao khát muốn được trở thành và là một con người khác. Ivan Michailovitch, trong một chớp lóe bất thình lình của trực giác, đã trông thấy và đã hiểu. Ban đầu ông ta nghi rằng đây chỉ là ý thích bất chợt nảy ra có tính chất trịch thượng, hay cùng lắm chỉ là thái độ thách thức ngu ngốc và thiếu suy nghĩ của kẻ phản bội nồng nhiệt quá vội vàng đã thôi thúc người đàn ông kiêu hãnh và đẹp trai này nói những lời trên. Giờ đây ông ta thấy rằng mình đã lầm. Ông ta hiểu rằng mình vừa nghe thấy một tiếng kêu cứu, và rằng nó phát ra từ lòng sâu của một trong những khoảnh khắc quyết định ít khi xuất hiện ở đời.

“Tôi phải yêu cầu anh gì đây, thưa anh Christian Wahnschaffe?” ông ta nghiêm trang hỏi. “Anh lôi tôi vào trong đó với bạn bè anh, chắc chắn không phải để bắt tôi phải xem đó như một hành động kiên cường và một thắng lợi đối với chính bản thân anh đấy chứ?”

“Không phải thế,” Christian nói, hai mắt nhìn xuống, “chỉ để công khai tình bạn và niềm tin của tôi thôi.”

“Nhưng hãy cân nhắc việc tôi sẽ là một nhân vật như thế nào, trong chiếc áo bờ lu lao động, hiện ra một cách miễn cưỡng và rõ ràng đến thế, nói theo một câu tục ngữ Nga, trong vương quốc của địa vị xã hội. Anh thì sẽ được tha thứ. Anh sẽ bị buộc tội là kẻ lập dị, sẽ bị cười nhạo; nhưng chuyện đó sẽ được bỏ qua. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra với tôi? Anh có thể bảo vệ tôi khỏi bị lăng mạ công khai. Nhưng nỗi nhục nhã của cái vị trí của tôi thì vẫn thế. Và một hành động khoe khoang như thế phục vụ cho mục đích gì? Anh có thấy lời hứa hẹn tốt đẹp nào trong việc đó – cho tôi, cho anh, hay cho những người khác không? Tôi chẳng thể kết tội ai, chẳng thể thuyết phục ai, chẳng thể làm cho ai tin được. Ngay cả chính bản thân anh cũng sẽ không tin.”

Ông ta im lặng vài giây, rồi chăm chú nhìn Christian bằng ánh mắt nhân từ và rắn rỏi. Rồi ông ta nói tiếp. “Nếu như tôi xuất hiện trong bộ đồ dạ hội, thì toàn bộ cuộc nói chuyện này chẳng có nghĩa gì cả. Việc đó sẽ khiến cho nó trở nên tầm thường. Tại sao, thưa anh Christian Wahnschaffe, tôi lại nên trưng bày tấm áo choàng dài và chiếc bờ lu của mình giữa quần áo của bạn bè anh? Anh có đi với tôi đến nơi mà tấm áo choàng dài của anh sẽ là một lời báng bổ và một vết nhơ, còn tấm áo xù xì, ướt át của tôi sẽ là niềm kiêu hãnh và một lợi thế không? Tôi biết một ngôi nhà như thế đấy. Nào hãy đi với tôi!”

Christian, không đáp lại lời nào, gọi một người hầu đến, lấy tấm áo choàng lông của chàng, rồi theo Ivan Becker đi ra khỏi nhà. Gã hầu vội vàng vào ga ra. Ít phút sau chiếc ô tô xuất hiện. Christian để cho Ivan Michailovitch vào xe trước mình, hỏi địa chỉ, rồi ngồi xuống bên cạnh ông ta. Xe nổ máy.

XX

Trước đó Ivan Michailovitch đã hai lần đến thăm gia đình của Roderick Kroll, người thợ bị bắt giam. Mối quan tâm mà ông ta dành cho những con người này không trực tiếp. Nó có do ông ta quan tâm đến Christian Wahnschaffe. Ở Christian có điều gì đó làm cho ông ta xúc động vô cùng. Sau buổi nói chuyện đầu tiên giữa họ, ông ta lập tức nghĩ nhiều đến nhân cách, sức hút mãnh liệt, những hoàn cảnh trong đời của chàng và mảnh đất xã hội mà từ đó chàng xuất thân. Do tên ông trùm công nghiệp Wahnschaffe liên quan mật thiết đến phiên tòa xét xử Roderick Kroll, và vì phiên tòa này thực sự khuấy động thế giới, nên dĩ nhiên ông ta phải chú ý đến nó. Có thể ông ta đã cân nhắc trước về cái bước mà giờ đây mình đang tiến hành. Bởi vì ông ta tin chắc bất di bất dịch rằng nhiều người sẽ tốt hơn, sẽ hành xử công bằng hơn, nếu như được đưa đến để trông thấy, hay được trao cho một cơ hội để trông thấy, những thực tế của cuộc sống.

Bà Kroll và năm đứa con của bà ta trú ẩn trong một cái lỗ trong căn gác xép áp mái trên đỉnh một tòa nhà chung cư đông đúc nằm tận ngoài rìa xa nhất thành phố. Trước đó bà ta cư ngụ tại một trong nhiều những ngôi nhà ở ngoại ô dành cho thợ thuyền mà Albrecht Wahnschaffe đã cho xây dựng cạnh những nhà máy của ông ta. Nhưng bà ta bị đuổi khỏi ngôi nhà này và đã chuyển vào thành phố.

Căn phòng hiện thời bà ta đang sống không chỉ cung cấp nơi trú ngụ cho chính bà ta và năm đứa con, đứa lớn nhất mười hai tuổi, mà còn cho ba khách trọ khác nữa: một người nhặt giẻ rách, một người quay đàn thùng, và một tên lang thang say xỉn triền miên. Căn phòng rộng khoảng mười tám mét vuông; những người ở trọ ngủ trên những bao tải rơm bẩn thỉu, lũ trẻ ngủ trên hai tấm đệm xơ xác kéo sát lại với nhau, còn bà Kroll thì ngủ trên một tấm khăn choàng và một bọc quần áo cũ trong góc nơi mái nhà dốc xuống sàn.

Hôm đó tên tay sai của chủ đã đến đòi tiền thuê nhà ba lần. Vào lần thứ ba, vì không đòi được tiền nên hắn dọa sẽ tống cổ tất cả bọn họ ra đường ngay đêm hôm đó. Mười lăm phút trước khi Ivan Becker và Christian đến, hắn lại lên căn phòng tối tăm, hôi hám đó cùng với lão gác cổng và một người nữa để bắt đầu thực hiện lời đe dọa của mình. Bộ mặt hắn có vẻ tử tế thì đúng hơn là thô bạo. Hắn tự đắc về chất hài hước mà mình mang vào việc thi hành bổn phận. Tiếng khóc và tiếng than vãn không hề làm hắn bận tâm. Hắn nói: “Nhanh lên, lũ nhóc! Đi sang bên kia!” Hoặc: “Bồng súng, bước đều, bước! Đừng làm om sòm lên! Đừng khích động! Quỳ gối cũng chả được tích sự gì đâu! Thời gian là tiền! Làm việc nhanh là làm việc tốt!”

Hàng xóm làm om sòm hết cả lên, như thường thấy vào những dịp như thế này, và họ đã tụ tập ngoài hành lang. Có một bà tóc vàng mặc áo lót; có một người mặc áo choàng tắm màu đỏ tươi; có một người què chân, một ông già râu dài, những đứa trẻ đánh nhau, một người đàn bà tô son trát phấn đội cái mũ to như bánh xe bò, một bà khác nữa cầm cây nến đang cháy trong tay, trong khi người đàn ông vừa mới đi cùng bà ta từ ngoài phố vào tìm cách trốn trong vùng bóng tối ở bên cạnh mái nhà.

Người ta nghe thấy tiếng khóc của những đứa trẻ nhà Kroll, tiếng van xin đau khổ của người đàn bà. Bà ta nhìn bằng đôi mắt tuyệt vọng lúc tên tay sai của chủ nhà và người của hắn chất đống những đồ đạc khốn khổ của mình. Gã lang thang chửi bới, người quay đàn thùng kéo lê manh chiếu rơm của mình đi ra cửa, gã tay sai chủ nhà bật ngón tay nói: “Nhanh lên, hỡi những con người tốt đẹp, nhanh lên! Đừng gây nên những cảnh mủi lòng! Bữa khuya của tôi nguội rồi đấy nhé!”

XXI

Christian và Ivan Becker vào. Họ gạt đường đi giữa đám đông đang giương mắt nhìn mình chòng chọc. Christian mặc tấm áo choàng lông đắt tiền của chàng. Gã tay sai chủ nhà đứng im há hốc mồm. Người của gã giơ tay lên sờ mũ theo bản năng. Ivan Michailovitch muốn đóng cửa lại, nhưng cái bà đội mũ lớn cứ đứng ngang ngưỡng cửa không nhúc nhích. “Nên đóng cửa lại,” ông ta nói với gã tay sai chủ nhà, thế là gã này đi ra, thô bạo đẩy mạnh người đàn bà kia ra, rồi đóng cửa lại. Ivan hỏi có phải vợ con Kroll đang bị đuổi khỏi nhà không. Gã tay sai chủ nhà tuyên bố rằng bà ta không thể trả nổi tiền thuê nhà, rằng đã cho bà ta khất hết lần này đến lần khác, nhưng nếu cứ tiếp tục như thế thì sẽ gây ra tình trạng vô trật tự và một tấm gương xấu. Ivan Michailovitch trả lời rằng ông ta hiểu tình thế này. Rồi ông ta quay sang phía Christian, nhắc lại những lời trên như thể chàng cần chúng phải được dịch ra một thứ ngôn ngữ khác: “Bà ta không thể trả nổi tiền thuê nhà.” Nghe thấy một tiếng huýt sáo từ bên ngoài, và một người đàn bà thét lên thất thanh. Gã tay sai chủ nhà mở cửa, hét lên một mệnh lệnh, rồi đóng sầm cửa lại. Tiếp theo sau đó là im lặng.

Bà Kroll đang ngồi co ro giữa những đứa con của mình, hai khuỷu tay giấu trong lòng. Bà ta có dáng người tráng kiện, khuôn mặt xương xẩu xanh xao như bột nhào hằn sâu nếp nhăn. Đầu bà ta trông như đầu một xác chết. Lũ trẻ kinh hãi nhìn bà ta: hai đứa trần như nhộng, một đứa bị bệnh ngứa. Gã tay sai chủ nhà, lấy giọng nhân từ, hỏi Ivan Becker rằng phải chăng nên giúp đỡ những con người này như thế nào đó; rõ ràng hắn không dám nói với Christian. “Tôi nghĩ chúng tôi có thể giúp được họ gì đó đấy,” Ivan trả lời, rồi quay sang phía Christian.

Christian đã nghe và đã thấy. Chàng vội vã gật đầu, có vẻ rụt rè và sốt sắng nồng nhiệt.

Christian hơi để ý đến một bình nước đã gãy tay cầm. Bình nước được trang trí bằng các đường lượn màu xanh lá cây nhạt tầm thường này đã in dấu ấn lên tâm trí chàng. Ô cửa sổ nghiêng mép đóng tuyết trên mái nhà làm chàng khó chịu, cả cảnh tượng một chiếc giày ống vấy bùn cũng vậy. Tiếp đến chàng thấy một niềm thích thú buồn bã với sợi dây thừng treo lủng lẳng từ trên mái nhà xuống, và một cây đèn dầu hỏa có cái chụp ám khói. Chàng nhìn thấy những thứ đó chỉ bằng con mắt thể xác. Nhưng chúng trôi vào linh hồn chàng, và chàng hòa làm một với chúng. Chàng chính là bình nước gãy tay cầm có những hình vẽ màu xanh lá cây, ô cửa sổ mép đóng tuyết, chiếc giày ống vấy bùn, sợi dây thừng lủng lẳng, cây đèn ám khói kia. Chàng đang biến hình như trong một lò lửa nấu chảy, hết từ hình dạng này sang hình dạng khác; và dù một cách khách quan chàng vẫn ý thức được chuyện gì đang xảy ra và cả những con người này nữa – gã ăn mày, người đàn bà, lũ trẻ, Ivan Michailovitch, gã tay sai chủ nhà, và những con người đang chờ ở bên ngoài – tuy vậy phải nỗ lực mạnh mẽ chàng mới giữ được họ ở bên ngoài mình trong một chốc lát ngắn ngủi, cho đến khi họ lao vào linh hồn chàng cùng với nỗi đau khổ, tuyệt vọng, nhẫn tâm, và điên rồ, như những con chó hoang dã lao vào một khúc xương.

Chàng thở dài; nụ cười bối rối thoảng qua lởn vởn trên môi. Một trong số lũ trẻ, một thằng bé lên bốn, mặc thứ giẻ rách chẳng ra hình thù gì, tiến lại gần chàng, chòng chọc nhìn lên chàng như thể chàng là một ngọn tháp. Ánh mắt những người khác cũng đồng loạt dán vào chàng. Ít nhất là chàng cảm thấy như thế. Ngực chàng giống như một lò nấu kim loại rực lửa được hai cánh tay gầy gò của thằng bé nâng lên và giữ ở trên cao. Trong khoảnh khắc chàng nắm đầy những đồng tiền vàng trong bàn tay mình, và làm một cử chỉ khích lệ thằng bé chìa hai bàn tay nó ra. Chàng đổ vàng vào hai bàn tay nó. Nhưng nó chỉ nắm được một ít. Những đồng tiền vàng lăn trên sàn, và đám người ở đó trông theo chúng trong nỗi kinh ngạc lặng câm.

Chàng rút ví, lấy hết tiền trong đó ra bằng những ngón tay run rẩy, nhìn quanh, rồi tiến lại gần người đàn bà đang ngồi co ro. Rồi bỗng dưng chàng thấy khinh bỉ cái tư thế đứng thẳng của mình lạ lùng trong khi người đàn bà kia đang ngồi co ro dưới sàn. Thế là chàng quỳ xuống, quỳ xuống bên cạnh bà ta, rồi luồn những tờ tiền vào lòng bà ta. Chàng không biết bao nhiêu. Sau này mới biết đó là bốn ngàn sáu trăm mark. Chàng đứng dậy nắm lấy cánh tay Ivan, và ông này đã hiểu ánh mắt chàng.

Không khí im lìm chết lặng lúc họ đi ra. Gã tay sai chủ nhà và người của hắn, những người thuê nhà, lũ trẻ - tất cả dường như đã hóa đá. Người đàn bà chăm chú nhìn sự giàu có ở trong lòng mình. Rồi bà ta hét lên một tiếng lớn và lăn ra bất tỉnh. Thằng bé chơi với những đồng tiền vàng, chúng phát ra tiếng xủng xẻng như chỉ có vàng mới có thể phát ra được những tiếng kêu như thế, hơi dịu và không gay gắt.

Khi đã xuống dưới phố, Ivan Michailovitch nói với Christian: “Anh đã quỳ xuống bên cạnh bà ta – chính là như thế đấy, và chỉ có như thế mà thôi! Món quà – tôi thấy trong nó có điều gì đó tang thương và cay đắng! Nhưng anh đã quỳ xuống bên cạnh bà ta – a, chính là như thế đấy!” Và bằng một cử chỉ bất ngờ, ông ta nhón chân, ôm lấy đầu Christian trong hai bàn tay mình, và hôn lên trán chàng bằng một nụ hôn như hơi thở. Rồi ông ta lẩm bẩm nói lời từ giã, và bỏ đi, không nhìn chiếc ô tô đang đợi.

Christian ra lệnh cho người tài xế đánh xe về lâu đài Chốn Nghỉ Ngơi Của Christian. Hai giờ sau chàng đã có mặt ở đó, vô cùng thanh thản, sự thanh thản mà chàng đang cần. Chàng gọi điện báo cho gia đình biết rằng những sự kiện bất ngờ đã ngăn cản không cho mình ở đến cuối những bữa tiệc tối, nhưng chắc chắn chàng sẽ có mặt ở lễ cưới của Judith. Rồi chàng rút lui về phòng xa nhất, thức cầu nguyện suốt đêm.

XXII

Letitia cưới sáu tuần sau Judith. Tuy nhiên, theo đúng mong muốn của Stephen Gunderam, đó là một đám cưới lặng lẽ. Đã có một bữa ăn đơn giản trong khách sạn ở Heidelberg, và những người có mặt bao gồm bà von Febronius, bà bá tước, hai người cháu trai của họ là Ottomar và Reinhold, và một người bạn Argentina của Stephen - một người khổng lồ gầy giơ xương được gửi đến Đức sống một năm để học tính lịch sự.

Ottomar đọc thuộc lòng một bài thơ độc đáo ca tụng người bà con xinh đẹp của anh ta, và Reinhold soạn một bài diễn văn theo phong cách nói chuyện trong bữa ăn của Luther. Stephen Gunderam đánh giá văn hóa văn học của người bà con mới của mình không được đúng lắm.

Bà von Febronius im lặng ngay cả lúc chia tay. Bà bá tước khóc như mưa gió. Bà ta đã cung cấp cho Letitia đủ loại phép tắc và lời khuyên nhủ, nhưng chỉ vì hèn nhát mà trì hoãn khó khăn lớn nhất cho đến giây phút cuối cùng. Bà ta kéo Letitia về phòng riêng và, hết đỏ mặt lại tái mặt, nỗ lực truyền đạt cho cô gái một vài ý niệm về mặt sinh lý học của hôn nhân. Nhưng thậm chí ngay cả vào lúc đó lòng can đảm cũng phản bội bà ta, và cứ tiến lại gần điểm nan giải thực sự của vấn đề, thì bà ta lại lắp ba lắp bắp và trở nên lúng túng. Letitia thấy buồn cười chết đi được.

Stephen Gunderam muốn mau mau lên đường, như người muốn giấu kỹ chiến lợi phẩm của mình.

Bà von Febronius nói với chị: “Em có những linh cảm không hay về cuộc hôn nhân này, dẫu con bé dường như hoàn toàn hạnh phúc. Chỉ nhờ bản chất mà nó không cảm thấy rằng mình không hạnh phúc. Đó là của hồi môn duy nhất của nó, nhưng là một món tuyệt vời.” Thế là bà bá tước nắm hai bàn tay lại, rỏ nước mắt, và nói: “Nếu như tôi đã phạm tội lỗi, thì xin Chúa hãy tha thứ cho tôi.”

Chuyến đi chứng minh Letitia là một thủy thủ xuất sắc. Nàng và chồng dừng chân vài hôm ở Buenos Ayres và gặp gỡ nhiều người. Người quen của Stephen chăm chú nhìn nàng với vẻ tò mò dễ mến; và nàng thấy tất cả mọi thứ đều lạ lùng và lý thú – con người, nhà cửa, động vật, cỏ cây, đất và trời. Nhưng điều lý thú và lạ lùng nhất đối với nàng vẫn là tính chuyên chế đầy ghen tuông của người đàn ông mà nàng đã lấy làm chồng, dẫu đôi khi niềm hứng thú đó mang hơi hướng của sợ hãi. Nhưng khi điều đó tấn công, thì nàng thậm chí còn tự cười thầm mình, và gạt nó đi.

Một hôm, vào lúc sáng sớm, cỗ xe ngựa bốn bánh nhỏ nặng nề, đóng vững chãi, có hai con ngựa nhỏ nhanh nhẹn kéo, đưa họ đi ba mươi dặm đến điền trang Gunderam. Họ rời thành phố với bao nhiêu là lương thực. Sau ít giờ, con đường chấm dứt như dòng suối biến mất trong bãi cát, và trải dài ra đến tận chân trời trước mắt họ là đồng cỏ hoang không có lối đi.

Tuy vậy, không phải họ không được chỉ đường. Có những cây sào cắm xuống đất trồng cỏ ở hai bên con đường mà ngựa phải đi. Những cây cọc này cao bằng con người và đứng cách nhau khoảng mười tám mét. Những con ngựa cứ thế bình tĩnh tiến bước. Gã da đen ngồi trên ghế đánh xe không cần phải thúc giục chúng. Chuyến đi an toàn và buồn tẻ cho phép hắn được ngủ gục.

Không hề thấy có nhà cửa nào cả. Khi những con ngựa cần thức ăn hay muốn uống nước, thì cỗ xe sẽ dừng lại nghỉ chân ở ngoài trời. Từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn, không thấy có nhà cửa, cây cối, hay người nào xuất hiện, và Letitia thấy sợ. Từ lâu nàng không nói chuyện nữa, và Stephen từ lâu cũng không động viên nàng nữa. Anh ta cũng ngủ gục như gã xà ích của mình vậy.

Khi mặt trời đã lặn khuất sau màn mây màu trắng nhạt, thì Letitia đứng dậy, chăm chú lùng sục nhìn phía trên cánh đồng cỏ rộng mênh mông vô tận. Những cột gỗ cao vẫn hiện ra với sự đều đặn không biết mệt mỏi ở hai bên con đường không bị cắt ngang.

Nhưng bất thình lình nàng trông thấy, đang đậu trên một trong những cây cột đó, một con chim màu nâu xám nhạt, trong tư thế cúi xuống và bất động, với đôi mắt to, tròn, sáng rực.

“Giống chim gì thế ạ?” nàng hỏi.

Stephen Gunderam giật mình tỉnh giấc. “Cú đấy,” anh ta trả lời. “Em chưa trông thấy cú bao giờ à? Đêm nào khi trời tối chúng cũng ngồi trên những cây cột. Nhìn kìa, bắt đầu rồi đấy: trên mỗi cây cột đều có một con.”

Letitia nhìn và thấy rằng đúng là như thế. Trên mỗi cây cột ở cả hai phía, trong giới hạn mắt người có thể nhìn thấy được, đều có một con cú nặng nề, lười biếng, nghiêm trang, có hai con mắt to, tròn, sáng rực đang ngồi.

Thêm vào giỏ hàng thành công