QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XXVII)
ĐIỀU TRA
IX
Suy nhược vì ăn chơi thác loạn, cuối cùng Felix Imhof cũng phải dừng lại. Sức mạnh của anh ta đã đến hồi kết.
Anh ta gọi bác sĩ, mỉm cười xin hãy cho mình biết sự thật. Ông bác sĩ cuối cùng được hỏi ý kiến, một chuyên gia nổi tiếng, bảo hãy chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất, vì tủy sống đã nhiễm bệnh. “Bệnh lao ư?” Imhof khách quan hỏi. “Phải, chính xác,” là câu trả lời.
“Thôi rồi, anh bạn! Hồi năm, cảnh cuối,” anh ta nói một mình. Vì sau đó bị sốt, và tình trạng kiệt sức xen kẽ với những cơn đau dữ dội, nên anh ta lên giường, che cửa sổ và phủ gương soi, rồi chòng chọc nhìn vào khoảng không qua nhiều giờ dài với vẻ mặt của một đứa bé hốt hoảng.
Anh ta không bao giờ có thể khá hơn nếu không có người bên cạnh. Theo như anh ta còn nhớ, thì cuộc sống của anh ta từng đông đúc như hội chợ. Anh ta từng thân thiết với mọi người; tất cả bọn họ đều bám lấy anh ta, và anh ta phải rất cố gắng có nghĩa gì đó và đáp ứng những ước mong của tất cả bọn họ. Thế mà bây giờ còn lại ai bên cạnh? Không ai cả. Anh ta khao khát ai? Không ai cả. Ai sẽ khóc than cho anh ta? Không có người đàn ông và không có người phụ nữ nào cả.
“Không biết họ sẽ nói gì về mình khi mình đã đi rồi?” anh ta không ngừng tự hỏi. “Ồ, phải, Imhof, họ sẽ nói, anh không nhớ anh ấy sao? Một gã tốt, một người bạn vui vẻ, không bao giờ ủ ê, lúc nào cũng phấn chấn, luôn luôn đề phòng điều gì đó mới – hơi hâm hâm một chút, có lẽ. Anh phải nhớ anh ấy. Sao chứ, anh ấy trông thế này thế này thế này này. Anh ấy nói chuyện như thầy tu người Ý, ném tiền qua cửa sổ như thằng ngốc, và uống như cá.”
Và bất chấp những lời gợi nhớ trên, nhiều người sẽ không nhớ, mà chỉ nhún vai, rồi bắt đầu nói sang chuyện khác.
Anh ta không có cả cha lẫn mẹ, chị em lẫn anh em, không bà con họ hàng và thực ra là không có bạn bè. Chính sự ra đời của anh ta cũng mờ ảo. Bây giờ thì bức màn bí ẩn đó sẽ không bao giờ được vén lộ. Có lẽ anh ta được sinh ra từ cặn rượu của nhân loại, có lẽ thuộc dòng máu quý tộc. Nhưng theo anh ta thì bí ẩn này chẳng có cả sự lãng mạn lẫn nét quyến rũ. Có điều số phận, để rõ ràng, đã dán tem thông báo rằng anh ta là sinh linh cô độc, bị cô lập, và tự lập như thế đó.
Anh ta không có cả cội rễ lẫn sự liên hệ lẫn mối ràng buộc. Anh ta chỉ là chính anh ta thôi; chứ chẳng là ai khác cả. Một nhân cách được định hình bởi khoảnh khắc trong thời gian – đơn nhất và toàn vẹn trong chính mình.
Thậm chí không có người hầu nào trung thành với anh ta vì lòng tận tụy cá nhân hay vì tình gắn bó với ngôi nhà của anh ta. Không có linh hồn nào thuộc về anh ta cả - chỉ có những đồ vật mà anh ta đã trả tiền mua thôi.
Anh ta đã tặng nhiều lòng tận tụy không ích kỷ cho các nghệ sĩ và những tác phẩm nghệ thuật. Một bài thơ hay, một bức họa đẹp đã tặng cho tâm trí anh ta tính bồng bột và cho tâm trạng anh ta sự thanh thản nó đền bù cho anh ta tất cả những sự kiệt sức và tẻ nhạt trong môi trường sống của mình. Nhưng bây giờ tìm cách nhớ lại những ấn tượng dường như không thể nào quên với mình, thì anh ta lại phải đối mặt với sự trống trải. Dòng suối sủi tăm đã bị chặn lại bởi đá và cát. Chẳng lẽ nghệ thuật, mà anh ta đã yêu thành thật đến thế, nâng đỡ tâm hồn không bằng một cuộc phiêu lưu bên đường thoảng qua nào đó sao? Nó còn thiếu điều chi?
Dù đã phá sản nhưng anh ta vẫn còn lại ít vật quý giá - một bức họa của Mantegna, Ba Ông Vua Từ Phương Đông, một bức tượng Dionysos của Hy Lạp cổ, một bức tượng của Rodin, và một bức tranh tĩnh vật của Von Gogh. Anh ta đã bảo mang những thứ tinh xảo đó và vài thứ khác nữa vào phòng mình, và tìm cách trầm tư đắm mình vào chúng. Nhưng niềm ngất ngây sung sướng ngày xưa không quay trở lại. Màu sắc dường như xám xịt và đá hoa cương không có hơi ấm hay sự sống. Điều gì đã thoát ra khỏi những thứ này? Sự đổi thay nào đã đến với chúng?
Có một cái đồng hồ cát đứng trên bàn cạnh giường anh ta. Anh ta nhìn cát màu đo đỏ, lỏng và nhanh như nước, chảy từ bầu trên xuống bầu dưới qua một con mắt. Chảy hết mất mười hai phút. Tựa lên hai cánh tay anh ta nhìn nó và lật ngược lại mỗi khi bầu bên trên đã chảy hết cát. Và anh ta lại có ánh mắt của đứa bé đang hoảng sợ.
Một hôm, lúc đang nhìn cát chảy trong đồng hồ cát, anh ta nói lớn một mình: “Chết ư? Chữ đó có nghĩa gì? Chẳng có nghĩa gì cả.”
Đó là một chữ và ý niệm vô lý, anh ta không thể nắm bắt hay thâm nhập được vào nó. Anh ta hầu như không bắt đầu có được chút quan niệm nào dù là nhỏ nhất về cái chết khi thấy rằng chính quan niệm đó bắt đầu từ ý niệm về cuộc sống. Người ta vẫn luôn ở trong không gian và bây giờ sắp rời bỏ nó. Nhưng dù người ta có đi đến đâu, thì ở đó cũng phải có không gian. Và người ta không thể nghĩ về khái niệm không gian mà không đồng thời nghĩ về chính mình. Chà, lúc đó ...
Anh ta rùng mình. Rồi anh ta thèm khát mỉm cười. Anh ta nghĩ đến những niềm vui sướng mình từng được hưởng - sự tràn đầy và dồi dào lạc thú và kì vọng, ngất ngây và đắc thắng; yến tiệc và chè chén và những chuyến đi và những việc liều lĩnh và những trò chơi; tất cả những xung đột vui vẻ, đầy màu sắc, lắm đổi thay. Đã từng sảng khoái làm sao khi thức giấc duỗi thẳng tứ chi vào buổi sáng; vui tai làm sao khi bánh xe quay tròn và những thằng bé bán báo hét lên lanh lảnh và chuông rung leng keng và chó sủa; và từng tuyệt mỹ làm sao khi một người phụ nữ trẻ, đã sẵn sàng cho tình yêu, xõa tóc và trút bỏ xiêm y và thân xác trắng trẻo của cô ta sáng le lói như thịt của một thứ trái cây. A, và những chiến hữu vui tính và những chú ngựa lộng lẫy, và trở về nhà vào ban đêm, chỉ hơi say một chút. Trong sảnh người ta thèm muốn bậc thang đầu tiên; nó dường như thật thoải mái, hợp lý, mời gọi. Trên cầu thang những ô cửa sổ mở, và có một bó hoa trong một ô. Bất cứ lúc nào và ở bất cứ đâu người ta cũng cảm thấy: “Ta đang ở đây, ở giữa nó, chúa tể của bọt bia rượu và âm nhạc của cuộc sống. Ta ra lệnh và cuộc sống tuân theo, và sẽ có một ngày mai và ngày sau ngày mai, và những ngày vô tận, như cây cối mảnh khảnh dọc đại lộ.” Vào những khoảnh khắc như thế anh ta cảm thấy dịu dàng với bản thân và được tâng bốc bởi hơi thở của chính mình, và thu được dưỡng chất từ không khí và ánh sáng và những đám mây và con người và những bài ca. Và mọi thứ đều ngon lành với khẩu vị của anh ta - thậm chí những thứ xấu xí và cơn mưa và ngay cả những vũng nước nhỏ ở ngoài phố. Vì anh ta vẫn còn sống ... còn sống ...
Anh ta lật ngược chiếc đồng hồ cát rồi nằm trở lại xuống giữa những cái gối. Đôi mắt trông thấy một con nhện nhỏ, xám đang bò lên những bức rèm tường bằng lụa tím. Nó làm anh ta sợ. Thình lình anh ta nghĩ: “Có thể, thậm chí nhiều khả năng, con nhện kia vẫn tồn tại khi ta đã đi rồi.” Ý nghĩ này khiến cho anh ta hoảng sợ khôn xiết, và hồi hộp nín thở nhìn chuyến đi chậm chạp của con nhện kia.
“Có thể hiểu được,” anh ta nghĩ, “việc con nhện gớm ghiếc và vô nghĩa đó sẽ ở trong cái thế giới mà ta đã rời bỏ sao? Thật là điên rồ. Ta không bao giờ tin điều đó và không thể tin nổi – trong vô thức và bóng tối, và sự ẩm ướt và đất và giòi bọ. Và con nhện sẽ sống còn ta thì không? Ta kẻ làm tràn đầy tất cả mọi không gian bằng sự tồn tại và sức sống của mình? Có bất cứ triết học hay tôn giáo hay niềm tin chắc nào không vỡ tan thành từng mảnh khi va vào cái sự thật duy nhất trên không? Giá có ai đó đủ sức mạnh để ta sống tiếp như tên quét đường, một gã ăn mày, một tên vào tù ra tội, bị khinh bỉ, dị hình dị dạng, lố bịch, lọm khọm. Có như thế cũng chẳng sao miễn là được sống. Ôi Thượng Đế Nhân Từ, những ý nghĩ như thế sẽ đưa đường dẫn lối người ta đi đến đâu? Chúng mới là những ý kiến đáng xấu hổ làm sao với người đàn ông vẫn luôn khăng khăng đòi được sạch sẽ và có danh dự! Ta có bao giờ chùn bước trước một lời lăng mạ hay quên không nâng cao phẩm giá của mình không? Tuy thế mà vẫn biết rằng mình sẽ chọn cuộc sống dù bất cứ giá nào. Những nỗi đau của linh hồn ư? Ta quan tâm đến chúng lắm đấy! Ta sẽ chào đón nỗi đau buồn, sự thất vọng, nỗi đắng cay, lòng căm ghét, và mất mát - để có thể chỉ được sống mà thôi ... chỉ cần được sống mà thôi ...”
Một giờ sau người ta thông báo Weikhardt đến. Imhof cân nhắc không biết có nên gặp anh ta không. Ít hôm vừa qua anh ta không tiếp người đến thăm nào cả, nhưng không thể quyết định có nên tiếp người họa sĩ này hay không, người mà anh ta vẫn luôn thích hơn bình thường.
“Eliphaz, Bildad, hay Zophar đến an ủi Job đấy à?” anh ta nói với Weikhardt. “Anh còn nhớ đoạn đó không? ‘Họ ngước mắt lên ở cách xa, và không biết anh ta, họ cất cao giọng khóc; xé áo khoác của anh ta cho mọi người, và rải rắc bụi trên đầu mình về phía thiên đường.’”
Weikhardt mỉm cười. Nhưng khi mắt đã quen với ánh tranh tối tranh sáng trong phòng và nhìn thấy bộ mặt hốc hác kia, thì anh ta không còn thích chế giễu nữa.
Họ hời hợt nói chuyện với nhau một lát. Weikhardt nói về cuộc hôn nhân, công việc, những nỗ lực hòng đảm bảo về mặt kinh tế vô ích của mình, và cuối cùng thì tán gẫu một chút. Imhof lắng nghe với sự chú ý dao động. Bất thình lình anh ta hỏi bằng giọng giả cách bình thản: “Con kì nhông cái tuyệt diệu ấy thế nào rồi?”
“Con kì nhông nào? Ý anh muốn nói ai vậy?”
“Còn ai vào đây nữa? Sybil, dĩ nhiên rồi! Chả phải đó là việc điên rồ và hoang dại nhất mà những chữ tầm thường kia của một sinh linh không linh hồn đã nói ra để mang sự quyết định nhanh chóng vào tiến trình chậm chạp của số phận tôi sao? Phải chăng đó là Thượng Đế? Phải chăng điều đó đã được viết trên những vì sao?”
“Tôi không hiểu,” Weikhardt lẩm bẩm.
“Không ư? Anh không biết nàng tiên gỗ bé nhỏ khủng khiếp đó đã gọi tôi là một ‘thằng mọi đen,’ và rằng tôi đã trả thù theo cách đặc trưng của mình bằng cách đánh một quân bài chủ nó làm tôi thua cả ván bài hay sao? Tôi đã đi và tìm được người bạn mà lòng khinh bỉ băng giá của cô ta đẩy tôi đến. Tôi đã ngủ với một người phụ nữ da đen để bôi nhọ cô gái da trắng đó và hạ gục tính kiêu căng của cô ta, ít nhất là trong trí tưởng tượng của tôi. Thế không tuyệt sao? Anh không biết chuyện đó sao?”
“Tôi chẳng biết gì cả?” Weikhardt kinh ngạc lẩm bẩm. Tiếp theo sau đó là một khoảng im lặng dài.
Imhof tiếp tục nói bằng giọng đã đổi thay. “Những chuyện tiếp theo sau không quá khác so với sự thường tình. Nhưng thần kinh trung tâm ốm yếu và nguồn sống đã bị đầu độc. Thỉnh thoảng tôi lại muốn đẩy nhanh cuộc hành hình chậm chạp một cách đáng ghê tởm này bằng một viên đạn trơn. Thật quá mất phẩm giá khi để cho thần chết vờn quanh mình như con mèo béo vờn con chuột mắc bẫy. Nếu không thì người ta có thể làm như Sardanapalus – châm pháo hoa đốt cháy trụi cả ngôi nhà, rồi thoát ra bằng một cử chỉ oai hùng.”
“Thế thì rẻ tiền và chỉ đẹp mã thôi,” Weikhardt nói, “vì thế mà anh sẽ không bao giờ tha thứ cho người khác.”
“Tôi không thể làm được việc đó trong thực tế. Tôi tuyệt vọng bám vào mảnh giẻ rách đáng buồn còn lại của cuộc sống. A, sống một chút - điều đó mới nhiều ý nghĩa làm sao!” Anh ta cắn gối, rên rỉ: “Tôi không muốn chết! Tôi không muốn chết! Tôi không muốn chết!”
Weikhardt đứng lên tiến lại gần giường. Nhưng Imhof cuống quít ra hiệu bảo anh ta hãy đi đi. “Tôi phải đền tội như thế đấy,” anh ta rên rỉ. “Kẻ ăn quá nghiến ngấu bị ăn nghiến ngấu như thế đấy. Thời Gian ném mạnh tôi ra khỏi ngực nó như thế đấy. Hãy nhìn tôi quằn quại ở đây và khóc xin lòng tha thứ, rồi ra ngoài kể cho những người khác nghe. Gửi lời thăm họ hộ tôi! Và gửi lời thăm đến tất cả những chàng trai và cô gái thân yêu hộ tôi! Tạm biệt, bạn tôi, tạm biệt!”
Weikhardt cáo từ mà không nói một lời.
X
Thân xác Karen được trả lại cho đất. Nhiều người trong tòa nhà đó đi theo cô ta đến mồ. Christian nghĩ mình thấy cả Johanna và Voss nữa.
Trên đường trở về nhà bác sĩ Voltolini bước đi bên cạnh chàng. Trong một lát họ không nói gì. Rồi Christian với nhận thức về điều gì đó khó chịu ở sau lưng, bất thình lình quay lại. Chàng thấy Niels Heinrich Engelschall cách mười bước đằng sau. Christian dừng lại, gã kia cũng dừng lại, giả vờ nhìn cửa sổ trưng bày hàng.
Trong nghĩa trang, Christian trốn khỏi những người bạn đi theo mình. Bây giờ cũng vậy, chàng thích được một mình hơn; nhưng không muốn làm tổn thương ông bác sĩ.
Tiếp tục cuộc chuyện trò mà họ đã bắt đầu trước đám tang, bác sĩ Voltolini nói: “Stubbe nên bị tách khỏi gia đình và đưa vào một tổ chức từ thiện nào đó. Bất cứ lúc nào những mê sảng vì say cũng có thể xuất hiện và ông ta có thể giết chết hết cả nhà. Mà thậm chí cứ như bây giờ, thì người phụ nữ tội nghiệp đó cũng không thể chịu đựng nổi tính tàn bạo của ông ta lâu hơn được nữa. Bà ấy hết sức lực rồi.”
“Ít hôm rồi tôi cũng có can thiệp vào vài lần,” Christian khe khẽ trả lời. “Những người hàng xóm khác cũng giúp đỡ. Một người đàn ông như thế còn tồi tệ hơn cả chó sói. Bọn trẻ đứng quanh và run rẩy.”
“Và thật khó,” bác sĩ Voltolini nói, “khiến cho nhà chức trách tiến hành bất cứ biện pháp phòng ngừa nào. Luật pháp nghiêm khắc một cách vô lý. Một khi xảy ra chuyện bất hạnh, là nó lại nhẫn tâm quá mức; thế mà có ngăn cản được việc gì đâu.”
Christian lại quay lại. Niels Heinrich vẫn theo sau. Hắn lại dừng bước, lơ đễnh nhìn quanh, nhổ nước bọt xuống vỉa hè.
“Vấn đề không bao giờ là người ta biết hay khát khao gì, mà luôn luôn là người ta làm gì,” Christian nói, lại bước đi tiếp.
“Và thậm chí việc người ta đã làm, dù nó được tạo cảm hứng bởi những động cơ trong sáng nhất và ý thức về bổn phận nghiêm ngặt nhất, thì cũng bị bùn đất bắn tóe lên, và người ta phải đau khổ vì nó như vì một tội ác,” bác sĩ Voltolini cay đắng nói.
“Đó là trải nghiệm của ông sao?” Christian hỏi, với vẻ cảm thông bề ngoài truyền thống, nhưng với ánh mắt thấu hiểu và đang lắng nghe của chàng.
“Tôi không thích nói về chuyện này,” bác sĩ Voltolini nói, với vẻ mặt buồn bã. “Cho đến nay tôi chưa từng làm thế này với ai ở đây. Anh là người đầu tiên và duy nhất khiến tôi muốn nói chuyện đấy. Tôi đã cảm thấy thế ngay khi vừa mới gặp anh. Không phải như thể anh có thể khuyên hay giúp đỡ tôi; đã quá muộn cho cả hai việc đó rồi. Nỗi bất hạnh của tôi đã lên đến đỉnh điểm và lùi vào dĩ vãng. Nhưng việc thường xuyên im lặng gặm nhấm tôi, và tôi có thể thoát khỏi tình trạng tê liệt một thời gian nếu kể được cho anh nghe câu chuyện đã xảy ra với mình.”
Christian kinh ngạc lắc đầu rất khẽ. Nhiều người đã nói những lời tương tự như thế với chàng, chàng không hiểu để làm gì.
Bác sĩ Voltolini tiếp tục: “Cho đến hai năm trước tôi vẫn còn hành nghề ở Riedberg, gần Freiwaldau, trong xứ Silesia thuộc Áo. Thị trấn đó cách biên giới Phổ vài dặm. Người ta đã phát hiện ra những dòng suối chữa bệnh ở rất gần đó. Nó trở thành một khu nghỉ dưỡng chữa bệnh với dân số ngày càng tăng cao, tôi và gia đình dần dà cũng dành dụm được ít của nả. Nhưng vào đầu mùa Hè năm 1905 đã xảy ra cái sự việc là vợ của một người sống ở nơi thôn dã bị sốt thương hàn, và tôi, tuân theo bổn phận đã tuyên thệ, đã báo cáo việc này lên những người có thẩm quyền chăm sóc sức khỏe. Có mấy công dân muốn ngăn chặn hành động của tôi. Thậm chí cả ủy ban vệ sinh, mà chủ tịch là thị trưởng thị trấn, cũng lên tiếng phản đối, và miêu tả cho tôi thấy khách khứa sẽ hoảng sợ chạy trốn mất trong một thời gian dài và thị trấn sẽ mang tiếng xấu như thế nào. Tôi bảo họ tôi đang hành động vì quan tâm đến mọi người và không thể bị thoái chí chỉ vì những sự cân nhắc vật chất. Đầu tiên họ cầu xin và cuối cùng thì đe dọa, nhưng tôi vẫn kiên quyết.
“Hậu quả đầu tiên là một trung đoàn, đã được điều động đến Riedberg, mà sự đồn trú ở đó sẽ có lợi cho thị trấn, bị điều đi nơi khác. Cơn hoảng loạn mà người ta đã lo sợ sẽ nổ ra giữa những vị khách trong các khách sạn đã nổ ra, và phần lớn bọn họ đều chạy trốn. Thế là người ta chửi tôi xối xả, ai cũng phẫn nỗ nói về tôi bằng những lời lẽ bẩn thỉu nhất. Đàn ông không chào lại tôi ngoài phố. Người bán thịt và bán bánh mì và bán sữa từ chối không bán hàng cho vợ tôi. Ngày nào tôi cũng nhận được những bức thư nặc danh; anh cũng tưởng tượng được chúng có tính chất thế nào rồi đấy. Những ô cửa sổ nhà tôi bị ném vỡ; không ai đến vào giờ tôi khám bệnh nữa, không bệnh nhân nào dám gọi tôi. Người ta không trả phí còn nợ tôi, những lời ngờ vực và vu khống xuất hiện, đủ loại từ ngớ ngẩn đến bóng gió đê mạt nhất.
“Cuối cùng tôi bị đuổi khỏi cương vị bác sĩ vùng. Tôi kêu cầu lên Hội Liên Hiệp Y Tế Quốc Gia, nó đến lượt mình cũng kêu cầu lên những cấp có thẩm quyền cao nhất. Cả hội đồng thị trấn lẫn ủy ban vệ sinh đều bị ông tỉnh trưởng giải thể, ông thị trưởng bị di dời khỏi cương vị, người ta thu hồi lại lệnh đuổi tôi, và một đội sen đầm được cử đến thị trấn bảo vệ tôi và những gì là của tôi khỏi bạo lực. Rắc rối là tình thế vẫn tồi tệ như trước. Chính phủ có thể bảo vệ thân xác tôi khỏi đau đớn, nhưng không thể trả lại sự hành nghề hay ép những bệnh nhân cũ trả nợ cho tôi được. Tôi phá sản. Trong vòng năm tháng tôi khởi kiện hai mươi mốt vụ vu khống và thắng cả. Nhưng mỗi lần như thế lại càng chán nản hơn. Đã rõ ràng là không thể ở lại Riedberg được nữa. Nhưng biết đi đâu bây giờ - một bác sĩ nông thôn không có tiền riêng, phải lo toan cho một người vợ và những đứa con và một người mẹ già yếu? Làm sao tôi bắt những kẻ vu khống phải câm miệng, gột rửa vết nhơ, và chữa lành vết thương trong lòng tôi? Ở đó tôi không có người bạn nào có thể giúp đỡ mình; vợ an ủi tôi chỉ nghe ra tuyệt vọng.
“Tôi suy sụp hoàn toàn. Tôi nằm bệnh viện mười một tháng. Với năng lượng vô tiền khoáng hậu vợ tôi tất tả đặt nền móng cho mái ấm mới và tìm cho tôi một lĩnh vực hoạt động khác trong khoảng thời gian này. Tôi nhận được giấy phép hành nghề ở Đức, và bắt đầu lại cuộc đời. Dẫu đã mất niềm tin vào cả những năng lực của chính mình lẫn con người, thì linh hồn tôi cũng dần dà trở nên bình tĩnh lại. Chúng tôi sống một cách khiêm nhường nhất; nhưng trong cái thành phố lớn này người ta có thể cô đơn và ngăn chặn sự can thiệp của người lạ. Trong một thời gian dài tôi chỉ có thể hành nghề nếu quên rằng bệnh nhân của mình là con người. Tôi phải xem họ như những cỗ máy phải sửa. Tôi phớt lờ nỗi đau đớn và buồn rầu của họ, và tôi ghét phải thấy cả hai. Anh có hiểu điều đó không? Anh có hiểu tính lạnh lùng và thích khinh bỉ của tôi không?”
“Sau tất cả những trải nghiệm của ông thì tôi có thể hiểu rõ đấy,” Christian trả lời. “Nhưng tôi tin rằng quan điểm của ông không còn như trước nữa. Tôi nói thế có đúng không? Tôi thấy dường như trong lòng ông đã diễn ra một sự thay đổi.”
“Phải, đã diễn ra một sự thay đổi,” bác sĩ Voltolini thừa nhận. “Và nó bắt đầu ...” Ông ta dừng lời và ném một cái liếc mắt kín đáo vào bạn đồng hành của mình. Ông ta rụt rè nói sau một lát dừng lời: “Sao hôm đó anh mỉm cười khi cô gái Schirmacher cho xem chiếc nhẫn vậy? Anh còn nhớ chăng? Anh có thể, dĩ nhiên, đáp lại: mỉm cười là việc tự nhiên, vì viên đá làm cô ấy sung sướng đến thế hoàn toàn vô giá trị, nhưng sẽ tàn nhẫn nếu làm cô ấy vỡ mộng. Tuy vậy nụ cười của anh không thể hiện điều đó. Nó thể hiện điều gì đó khác kia.”
Christian nói: “Tôi thật sự không nhớ chính xác. Tôi nhớ chiếc nhẫn và niềm sung sướng vì có nó của cô gái đó, nhưng hôm nay tôi không thể nói cho ông biết vì sao tôi mỉm cười. Nhân tiện, sẽ tốt hơn nếu cô gái đó ít sung sướng hơn. Ít hôm sau đó cô ấy làm mất chiếc nhẫn, và con người tội nghiệp đó đã khóc hàng giờ. Sẽ tốt hơn nếu tôi đã nói với cô ấy: ‘Cả chiếc nhẫn lẫn viên đá đều không có giá trị gì cả.’ Đáng lẽ tôi phải bảo cô ấy vứt nó đi. Vào những dịp như thế hầu như lúc nào cũng tốt hơn nếu nói với người ta, ‘Hãy vứt nó đi.’ Có lẽ tôi mỉm cười vì đó là điều tôi muốn nói nhưng không dám nói.”
“Trông thì có vẻ như thế thật,” bác sĩ Voltolini nói nhanh và thoáng âm điệu phấn khích. “Đó là cái ấn tượng mà tôi đã có.”
“Tại sao lại nói đến chuyện này?” Christian nói.
Họ đã về đến tòa nhà trên phố Stolpische. Niels Heinrich, kẻ đã đi theo họ, biến mất vào dòng xe cộ trên phố.
Bác sĩ Voltolini nhìn xuống vỉa hè, nói với vẻ bối rối và do dự: “Anh có thể giúp tôi rất nhiều theo nghĩa anh gợi ý, nếu thỉnh thoảng cho phép tôi được đến thăm anh. Nghe có vẻ lạ lùng và giống như tự thú rằng mình yếu đuối, từ một người đàn ông ở tuổi tôi đến một người tuổi anh. Tôi không thể bào chữa cho lời thỉnh cầu của mình, nhưng biết là mình cần giúp đỡ. Tôi sẽ khá hơn và hòa thuận hơn với số phận mình và làm việc chăm chỉ hơn nếu đời tôi được xây dựng lại.” Đôi mắt ông ta căng thẳng ngước lên nhìn mặt Christian.
Christian cúi đầu, và trả lời sau một lát suy nghĩ: “Lời thỉnh cầu của ông rất tâng bốc. Rất vui được phục vụ ông; hy vọng rằng tôi có thể. Nhưng để không làm ông phân tâm bằng những câu vô nghĩa, tôi muốn nói cho ông biết rằng tôi sẽ rất bận tâm đến tương lai ngay trước mắt – không phải chỉ trong lòng, tôi luôn luôn như thế, mà còn ở bên ngoài nữa. Tôi đang phải đương đầu với một nhiệm vụ khó khăn – một nhiệm vụ rất khó khăn.”
Giật mình vì thái độ nghiêm túc ghê gớm của Christian, bác sĩ Voltolini nói: “Tôi không định tọc mạch. Nhưng có thể hỏi nhiệm vụ đó là gì được không?”
“Tìm ra kẻ đã giết Ruth Hofmann.”
“Bằng cách nào?” Ông bác sĩ vô cùng kinh ngạc. “Nhưng tôi nghĩ tên ... sát nhân đó bị bắt rồi kia mà.”
Christian lắc đầu. “Không phải người đó,” chàng nói, nhẹ nhàng nhưng đoan chắc. “Tôi đã thấy anh ta. Tôi đã thấy anh ta khi anh ta xuất hiện trước ông thẩm phán điều tra. Tôi cũng đã biết anh ta trước khi xảy ra tội ác này. Anh ta không phải là tên sát nhân đó.”
“Điều đó nghe có vẻ lạ lùng,” bác sĩ Voltolini nói. “Đó chỉ là quan điểm cá nhân của anh, hay những nhà chức trách cũng ...?”
“Đó không phải là một quan điểm,” Christian trầm ngâm nói. “Có lẽ hơn, cũng có lẽ chưa phải – hoàn toàn do mình lựa chọn thôi. Tôi không biết những nhà chức trách nghi ngờ gì. Rõ ràng họ xem Joachim Heinzen là tên sát nhân. Anh ta đã nhận tội, nhưng tôi xem lời nhận tội của anh ta là không đúng sự thật.”
“Anh có nói lên quan điểm này trước ông thẩm phán không?”
“Không. Làm sao tôi làm thế được? Tôi thậm chí không có cả một mối nghi ngờ hợp pháp. Tôi chỉ biết rằng người bây giờ đang bị bắt giữ không phải là tên sát nhân đó.”
“Nhưng anh kì vọng sẽ tìm ra tên tội phạm thực sự bằng cách nào, khi thậm chí không có dù chỉ một mối nghi ngờ?”
“Tôi không biết, nhưng tôi phải làm việc đó.”
“Anh ... anh phải làm ư? Điều đó có nghĩa là gì?”
Christian không trả lời. Chàng ngước mắt nhìn lên và thân thiện chìa bàn tay ra cho bác sĩ Voltolini. “Vì thế nên, nếu ông đến mà không gặp, thì xin đừng tức giận tôi. Rồi chúng ta sẽ còn gặp lại nhau.”
Ông bác sĩ lặng lẽ siết chặt bàn tay chàng.
Christian vào tòa nhà đó rồi đi lên căn hộ của Karen. Mười lăm phút sau Niels Heinrich cũng đi lên chính cái cầu thang này.
XI
Ánh sáng mặt trời lốm đốm run rẩy trên bức tường đối diện sân trong. Ánh phản chiếu rọi sáng tấm gương soi trên sofa. Một ngọn lửa yếu ớt đang cháy trong lò. Trước khi đến đám tang, Johanna Schontag đã hắt vào ít xẻng than nhỏ. Ngọn lửa lách tách khe khẽ, nhưng căn phòng càng lúc càng rét hơn.
Michael Hofmann ngồi trước bàn cờ. Chàng sinh viên Lamprecht đã đưa nó vào một thế khó, và Michael chăm chú nhìn bàn cờ và những quân cờ. Thỉnh thoảng nó cũng nghĩ ra được đường thoát thế cờ bí, nhưng rồi lại nghĩ lan man tận đẩu tận đâu. Bây giờ nó đã hướng tâm trí mình ra ngoài đủ để nhớ được những quân cờ và vị trí của chúng. Thậm chí ban đêm, mà nó hiếm khi ngủ, nó cũng thấy hình dáng của hai quân vua.
Ánh nắng mặt trời lốm đốm đã hạ xuống thấp hơn trên tường, lấp lóa tuyết ngoài vỉa hè. Michael nhìn ra ngoài cửa sổ nhưng bị tuyết làm lóa mắt nên phải nhìn đi nơi khác. Màu trắng đó - tại sao nó lại làm cho thằng bé này đau đớn? Michael muốn lau, thổi, hay che phủ nó đi. Màu trắng là một lời dối trá.
Nó đứng lên đi xuyên qua căn phòng. Ánh sáng mặt trời lấp lánh láo xược phát ra từ màu trắng đó, căn phòng tràn ngập ánh lung linh giả dối của nó. Michael ghét nó.
Nó dừng lại lắng nghe và mi mắt giần giật. Có thứ gì đó trôi giạt đến gõ cửa tâm trí Michael – bị quên lãng không nhiều bằng bị đàn áp và bóp nghẹt. Nó lấy từ trong túi quần dài của mình ra một vật màu nâu đen đen, tròn, cuộn chặt. Michael nhìn nó và bắt đầu rùng mình. Một lúc đôi mắt nó cũng có ánh đăm chiêu như khi nhìn những quân cờ. Rồi các ngón tay nó trở nên bồn chồn, và, càng lúc càng tái mặt hơn, nó tìm cách mở vật trong bàn tay mình ra. Đó là một tấm vải, một chiếc khăn tay. Nó từng có màu trắng; nhưng giờ đây đã dính đầy máu.
Nó từng có màu trắng, nhưng bây giờ đã đen vì máu; và máu đông lại đến mức tấm vải dai như da thuộc và khó mở ra. Cuối cùng bề mặt cũng xuất hiện, trong góc thêu hai chữ R. H.
“Màu trắng thật xấu xa và màu đỏ cũng thật xấu xa,” Michael thì thầm một mình, với vẻ con chó bị đánh đập. Nó đang phải chiến đấu với cám dỗ, săn tìm lối thoát, và tất cả con người nó nói lên nỗi tuyệt vọng. Nó nhìn quanh, vội vàng đi đến bên lò, mở cánh cửa sắt nhỏ, rồi ném chiếc khăn tay đẫm máu vào đó. Nó thở phào nhẹ nhõm rồi đứng im run rẩy khi ngọn lửa cháy bùng lên trong chốc lát.
