QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XII)
RUTH VÀ JOHANNA
III
Đi đâu Johanna Schontag cũng được đối đãi một cách trìu mến. Ngay cả những người bà con mà cô chung sống cũng đối đãi với cô bằng sự ân cần dịu dàng. Sự chăm nom này hạ thấp thì đúng hơn là nâng cao lòng tự trọng của cô. Cô nhạy cảm nghĩ: “Nếu như những người này hài lòng với mình, thì chung quy mình có thể là gì nhỉ?”
Cô nói: “Thật là vui khi mình đang sống trong cái thành phố của những kẻ ích kỷ này. Mình là kẻ trái ngược hoàn toàn với những con người sang trọng đó.”
Cô thấy dường như chẳng có việc gì đáng để mình làm, ngay cả việc mà trái tim cô ầm ĩ yêu cầu – đó là tìm kiếm Christian. Cô chờ đợi một sự thúc ép nào đó, nhưng chẳng có gì đến cả. Cô đắm mình vào những tưởng tượng vô nghĩa. Cô ngồi một góc nhìn đồ vật và con người bằng đôi mắt thông minh của mình. “Nếu như cái ông để râu kia,” cô nghĩ, “có cái mũi của ông đầu hói bên cạnh ông ta, thì có thể trông ông ta sẽ rất con người.” Hoặc: “Tại sao lại có sáu bông hoa hồng bằng vữa ở trên cửa? Tại sao không phải là năm hay bảy?” Cô tự làm khổ mình bằng những điều đó. Cái mũi đặt sai chỗ và số lượng hoa hồng vữa ngoan cố khuyến khích cô lên kế hoạch cải tạo thế giới. Bất thình lình cô bật cười, rồi đỏ mặt lên nếu có ai trông thấy.
Đêm nào, trước khi ngủ, cô cũng nghĩ, dù không muốn, đến Amadeus Voss và lời hứa sẽ viết thư cho hắn của mình. Rồi cô chạy trốn vào giấc ngủ để không nghĩ gì đến ngày mai. Bức thư dài của hắn đè nặng lên kí ức cô như trải nghiệm đau đớn nhất trong đời. Những chữ nghĩa làm cô bồn chồn hiện lên từ nó trong ý thức cô – ví như câu nói về việc cái bóng thèm muốn thân xác của nó. Bí ẩn của chữ nghĩa đó không ngừng cám dỗ cô. Tất cả những giọng nói ở thế giới bên ngoài đều cảnh báo cô. Lời cảnh báo của chúng chỉ làm cho cú châm đốt của niềm cám dỗ càng thêm nhói buốt. Cô tận hưởng nỗi sợ hãi của mình và để cho nó lớn lên. Hình phản chiếu của những thứ được soi trong gương trong những tấm gương khác của tâm trí làm cô bối rối. Cuối cùng cô viết; mũi tên bay ra từ sợi dây căng thẳng.
Họ gặp nhau ở quảng trường Kurfursten, và đi dạo trên đại lộ trồng cây hạt dẻ về phía Charlottenburg. Để rút ngắn cuộc nói chuyện, Johanna thông báo rằng cô phải có mặt ở nhà sau một giờ. Nhưng con đường họ chọn khiến cô không thể hy vọng sẽ có một cuộc nói chuyện thật ngắn. Cô đành nhượng bộ. Để che giấu nỗi ngượng ngùng của mình, cô đùa cợt nhận xét về cây cối, những ngôi nhà, những đài kỷ niệm, những con thú, và con người. Voss giữ thái độ nghiêm túc lạnh nhạt. Cô nóng nảy quay sang hắn. “Này, thầy giáo, thầy có định nói chuyện một chút với cô học trò nhỏ ngoan ngoãn mà thầy đang đi dạo cùng không đấy?”
Nhưng Voss không hiểu cái ý hài hước căng thẳng trong lời khiển trách hiền lành của cô. Hắn nói: “Tôi là một con mồi dễ tóm; cô chỉ phải giễu cợt, tôi đâu có phòng thủ. Tôi phải tự tập cho mình quen với một sự thoải mái và dịu dàng như thế. Chúng ta nói chuyện như thế thì thật là không hay. Cô cứ dò xét nhìn tôi suốt, như thể tay áo tôi rách hay cổ áo tôi vấy bẩn vậy. Tôi đã định nói chuyện với cô như với một người bạn. Thế mà không thể. Cô là một quý cô trẻ tuổi, còn tôi thì quá hư hỏng không thể làm bạn với cô được.”
Johanna mai mỉa trả lời rằng dù sao thì cô cũng thấy được an ủi khi thấy con người và sự hiện diện của mình moi được một sự cân nhắc từ hắn mà không phải bao giờ cô cũng tận hưởng. Voss giật mình. Vẻ khinh bỉ của cô tiết lộ cô có ý nghĩa thế nào với hắn. Hắn cúi đầu, và không nói gì trong một lát. Rồi vẻ cay đắng hiện lên trên mặt hắn. Johanna, chằm chằm nhìn thẳng tới phía trước, cảm thấy mình đang gặp nguy hiểm; cô có thể ngăn chặn mối nguy hiểm này; cô biết rằng một câu nói lịch sự sẽ làm cho hắn không còn đủ can đảm nữa. Nhưng cô khinh bỉ lối thoát đó. Cô muốn không tuân theo hắn, và nói thẳng rằng mình không hề bị tổn thương nếu hắn có thất vọng vì cô, vì chắc chắn là cô không có tham vọng muốn gây ấn tượng với hắn. Voss cũng im lặng chịu đựng chuyện này, nhưng hắn dường như thu mình lấy đà chuẩn bị tấn công. Johanna hỏi với vẻ ngây thơ rằng có phải hắn vẫn ở trong căn hộ của Christian Wahnschaffe, và vẫn phụ trách thư từ riêng tư của bạn hắn hay không.
Câu trả lời của Voss khô khan và khách quan. Hắn nói mình chuyển chỗ ở rồi, vì không đủ tiền để ở xa hoa như thế. Nụ cười chế giễu trên môi Johanna cho hắn thấy rằng cô quen thuộc với tình hình này. Hắn nói thêm rằng hắn nên nói rằng nguồn thu nhập của hắn đã bị phân phát. Hắn đang sống, hắn nói với cô thế, trong khu vực phù hợp với một sinh viên trên phố Ansbacher, và lại làm quen với cảnh nghèo khổ. Tuy nhiên, hắn không nghèo đến mức tự từ chối mình cái lạc thú được tiếp một vị khách; nên hắn mời cô hôm nào đến dùng trà với hắn. Hắn không hiểu cô cười gì. A, phải, cô là một quý cô trẻ tuổi; hắn quên mất. Chà, có lẽ cô sẽ chiếu cố đến cửa hàng của một confiseur [Người làm bánh kẹo - tiếng Pháp – ND].
Những lời nói của hắn đánh thức lòng khinh bỉ và tính nóng nảy trong cô.
Hôm đó là Chủ Nhật, và thời tiết ảm đạm. Màn đêm đang buông xuống. Âm nhạc phát ra từ những căn lều trong những khu vườn công cộng. Họ gặp nhiều người lính, người nào cũng có cô gái của mình. Johanna mở cái ô của cô ra và bước đi một cách mệt mỏi. “Trời sẽ không mưa đâu,” Voss nói. Cô trả lời: “Tôi làm vậy để khỏi phải nghĩ đến mưa.” Lý do thật sự là cái ô nới rộng khoảng cách giữa họ. “Anh gặp Christian khi nào?” bất thình lình cô hỏi bằng giọng cao, và thôi không nhìn hắn nữa mà nhìn sang phía bên kia. “Anh có thường gặp anh ấy không?” Cô ngay lập tức hối tiếc vì đã hỏi như thế. Câu hỏi đó lột trần trái tim cô trước hai con mắt rình mò kia.
Nhưng Voss thậm chí không nghe cô nói. “Cô vẫn bực tức vì lá thư kia. Cô không thể tha thứ cho tôi vì đã do thám bí mật của cô. Cô không biết để đền bù lại tôi đã tặng cho cô điều gì. Cô không bận tâm việc tôi tiết lộ toàn bộ linh hồn tôi với cô. Có lẽ cô thậm chí không thấy rõ rằng tất cả những điều tôi viết cho cô về Wahnschaffe là một lời thú tội mà người ta hiếm khi nói với nhau. Tôi thì ám chỉ, còn cô thì rõ ràng là không hiểu phương pháp đó. Có lẽ tôi đã đánh giá quá cao cả sự sáng suốt lẫn thiện ý của cô.”
“Có thể,” Johanna đáp; “và cả bản chất tốt của tôi cũng thế, bởi vì ở đây anh lại thô lỗ hết sức rồi. Anh sẽ rất đúng, nếu như anh không quên một điều rất quan trọng: đầu tiên phải có một lòng cảm thông căn bản giữa hai người trước khi anh có thể mong những yêu cầu như thế được tôn trọng.”
“Lòng cảm thông!” Voss cười nhạo. “Một cách diễn đạt - một công thức truyền thống! Điều cô gọi là lòng cảm thông là phương kế đầu tiên của người Philistine – nhạt nhẽo, vô duyên, không màu sắc. Lòng cảm thông thực sự đòi hỏi một sự sáng suốt tế nhị của linh hồn đến mức người cảm thấy nó sẽ khinh bỉ không dùng đến những chữ cũ rích, thô tục đó. Tôi không tin vào lòng cảm thông. Một cái khe nứt, như khe nứt giữa cô và tôi, không thể được bắc cầu bằng những cái bẫy rẻ tiền. Cô nghĩ tôi không biết bằng bản năng rằng cô lạnh lùng, xa cách, châm biếm tôi sao? Cô xem tôi là loài động vật da dày nhảy vào giậu hoa hồng vì biết rằng gai sẽ không thể làm nó tổn thương được hay sao? Ồ, không! Từng cái gai đều đâm xuyên qua da tôi. Tôi nói với cô điều này để từ nay về sau cô có thể biết cô đang làm gì. Từng cái gai đâm vào tôi cho đến khi tôi chảy máu. Tôi đã thấy rõ điều đó ngay từ đầu, tuy vậy tôi vẫn đánh liều. Tôi đã đặt cược tất con người tôi vào trò chơi này; tôi đã thu gom toàn bộ bản chất của tôi lại rồi ném nó xuống dưới hai bàn chân cô, không màng đến kết quả. Có lần tôi đã muốn phó mặc mình vào hai bàn tay của số mệnh.”
“Tôi phải về,” Johanna nói, và đóng cái ô của cô lại. “Tôi phải đón một chiếc tắc xi. Chúng ta đang ở đâu vậy?”
“Tôi sống trên phố Ansbacher, góc giao với phố Augsburger, tầng ba ngôi nhà thứ ba. Xin hãy đến một giờ; hãy để điều đó làm dấu hiệu rằng tôi là người ngang hàng trong mắt cô. Cô không thể tưởng tượng nổi tôi phụ thuộc vào điều đó như thế nào đâu. Đó là một cái lỗ khốn khổ và tiều tụy. Nếu như có bao giờ cô bước chân qua ngưỡng cửa, thì đó sẽ là nơi mà trong đó tôi có thể thở được. Tôi không có thói quen cầu xin, nhưng tôi xin cô cái ơn huệ này. Nỗi nghi ngờ mà tôi thấy trong đôi mắt cô là hoàn toàn chính đáng. Tôi đã lên kế hoạch cầu xin cô việc này, đã lên kế hoạch khiến cho nó xảy ra. Nhưng kế hoạch này của tôi không xuất hiện hôm nay hay hôm qua. Nó có cách đây nhiều tuần rồi; nó lâu hơn tôi biết. Nhưng đó là tất cả. Bất cứ mối hoài nghi nào khác mà cô cảm thấy đều phi lý cả.”
Hắn lắp bắp những lời nói trên và hổn hển thốt chúng ra. Johanna bất lực nhìn đi nơi khác. Cô quá yếu ớt không thể chống lại nổi những lời nói hùng biện nồng cháy của gã đàn ông kia, ghê tởm và đáng sợ như chính hắn vậy. Trong sự táo bạo đó, trong sự hiện diện của ngọn lửa đó, trong việc thổi bùng nó lên, trong nguy hiểm, trong việc xem chuyện gì sẽ xảy ra cũng có một niềm quyến rũ đáng sợ. Cuộc đời cô trống rỗng. Cô cần điều gì đó để chờ mong, tán tỉnh và sợ hãi. Cô cần một bờ vực, một làn khói cay, một tính siêu việt của những ranh giới tầm thường nào đó. Nhưng ngay lúc này cô chỉ cần có thời gian. “Không phải hôm nay,” cô nói, với vẻ che giấu, “một lúc nào đó khác. Tuần sau. Không, đừng thúc giục tôi. Nhưng có lẽ vào khoảng cuối tuần; có lẽ thứ Sáu. Tôi không hiểu mục đích của anh là gì, nhưng nếu anh muốn, tôi sẽ đến vào thứ Sáu.”
“Vậy là đồng ý nhé. Thứ Sáu cũng vào giờ này.” Hắn chìa bàn tay mình ra. Cô ngập ngừng đặt bàn tay mình vào trong nó. Cô cảm thấy bị cầm tù trong nỗi ác cảm của chính mình, nhưng ánh mắt cô vẫn kiên quyết và hầu như thách thức.
IV
Khi Christian bước vào, thì bà Wahnschaffe đang đồ sộ đứng ở giữa phòng. Hai cánh tay bà nhẹ nhàng gập lại ở dưới ngực. Một làn sóng xanh xao tràn qua người bà, và bà cảm thấy ớn lạnh. Christian tiến lại gần. Bà quay mặt đi, và nhìn chàng bằng khóe mắt. Bà muốn nói, nhưng đôi môi chỉ giần giật một cách căng thẳng. Christian đột nhiên đánh mất niềm tin chắc sinh ra hành động vội vã và thiếu suy nghĩ này của chàng. Đột nhiên chàng nhận ra tính chất kỳ quái trong công việc mình đang làm, nên đứng im thin thít.
“Con sẽ ở lại với chúng ta một thời gian chứ?” Bà Wahnschaffe hỏi bằng giọng khàn khàn. “Chắc chắn là như thế rồi. Mẹ đã bảo dọn phòng cho con rồi; con sẽ thấy mọi thứ đều ngăn nắp. Con sẽ thật là ý tứ một cách không cần thiết nếu như qua đêm trong một khách sạn. Con không hiểu mẹ con đến mức chắc chắn rằng ngôi nhà này không phải lúc nào cũng luôn luôn sẵn sàng đón nhận con hay sao?”
“Con xin lỗi, thưa mẹ,” Christian trả lời, “nhưng con chỉ có thể ở lại ít giờ thôi. Con không được phép và không dám trì hoãn. Con phải trở lại Berlin trên chuyến tàu lúc năm giờ. Con xin lỗi.”
Bà Wahnschaffe bây giờ quay hẳn khuôn mặt mình về phía Christian một cách chậm chạp đến mức động tác đó giống như của một con rối vậy. “Con xin lỗi,” bà lẩm bẩm. “A, phải. Mẹ thậm chí hầu như không mong đợi nhiều đến thế. Nhưng mọi thứ đã sẵn sàng dành cho con, Christian à, cái giường của con và những tủ quần áo của con. Con đã không ở đây lâu quá rồi, và lâu quá rồi mẹ không được gặp con. Để mẹ xem nào: phải đến mười tám tháng rồi đấy. Mục sư Verner có nói với mẹ một số chuyện về con; chúng thật chẳng dễ chịu gì. Ông ta đã đến đây vài lần. Mẹ dường như không thể hiểu nổi những điều ông ấy nói ngoại trừ một số rất ít. Mẹ thấy ông ta như thể đã gặp ảo giác, tuy vậy nhưng ông ta đã trình bày rất tỉ mỉ. Mẹ nói với ông ta: ‘Vớ vẩn, mục sư thân mến của tôi ơi, người ta không làm những việc như thế.’ Christian à, con cũng biết là có những điều mẹ thấy khó mà hiểu nổi ... Nhưng trông con lạ lắm, Christian à ... Trông con khác lắm, con trai của mẹ à. Con mặc đồ khác. Con không mặc như trước nữa sao? Thật là lạ lùng. Con không còn giao thiệp với xã hội thượng lưu nữa sao? Và những điều tưởng tượng của ông mục sư liên quan đến cảnh nghèo khổ và những sự từ bỏ tự nguyện mà con khao khát được chịu đựng ... mẹ không nhớ là gì – nói cho mẹ biết đi: có nền tảng sự thật nào trong tất cả những chuyện đó không? Bởi vì mẹ không hiểu.”
Christian nói: “Mẹ ngồi xuống bên cạnh con một lát được không, mẹ? Chúng ta không thể nói chuyện thoải mái trong khi mẹ cứ đứng như thế được.”
“Rất vui lòng, Christian à, chúng ta hãy ngồi xuống và nói chuyện nào. Con thật tốt khi nói điều đó như thế.”
Họ ngồi xuống bên cạnh nhau trên sofa, và Christian nói: “Con biết rằng con đã phạm tội thiếu quan tâm đến mẹ, mẹ ạ. Đáng lý ra con không nên chờ người lạ thông tin cho mẹ biết về những quyết định và hành động của con. Bây giờ thì con đã thấy rằng điều đó làm cho việc thấu hiểu lẫn nhau trở nên khó khăn hơn; chỉ có điều nói về bản thân mình thật là việc khó chịu và phiền phức. Tuy vậy con cho rằng vẫn phải làm việc đó, bởi vì những điều người khác nói thường là sai hoàn toàn. Thỉnh thoảng con vẫn định rằng sẽ viết thư cho mẹ, nhưng không thể; thậm chí ngay trong lúc con đang nghĩ về những từ sẽ viết, thì chúng cũng đã sai lạc và không thật rồi. Tuy vậy con lại không muốn đến gặp mẹ mà không có động cơ nào khác hơn là giải thích cho mẹ hiểu. Con thấy dường như trong trái tim mẹ có đủ niềm tin dành cho con để khiến cho một sự tự biện minh chi tiết trở nên không cần thiết. Và con đã nghĩ rằng thà đánh liều một mối bất hòa và ghẻ lạnh do im lặng mà có, còn hơn nhượng bộ một cuộc chuyện trò không đúng lúc, mà có vậy cũng không tránh được cả bất hòa lẫn ghẻ lạnh, bởi vì người ta không hiểu con.”
“Con nói đến bất hòa và ghẻ lạnh,” bà Wahnschaffe đáp, “như thể chỉ đến bây giờ chúng mới đe dọa chúng ta vậy. Và con nói một cách bình tĩnh như thể đó là hình phạt dành cho trẻ con, và con hoàn toàn nhất trí. Được thôi, Christian à, bất hòa và ghẻ lạnh có thể đến. Con sẽ thấy rằng mẹ quá kiêu hãnh không thèm chiến đấu chống lại tâm trí và quyết định của con đâu. Mẹ không phải là một bà mẹ muốn lòng tận tụy của con trai mình như một của bố thí, cũng không phải người đàn bà ngăn trở cuộc sống của con, cũng không phải là người cúi mình phấn đấu vì một cái quyền mà người ta đã từ chối không cho mình được hưởng. Con không cần phải dừng lại vì điều làm tan nát trái tim mẹ đâu. Nhưng ít nhất hãy trao cho mẹ một lời mà mẹ có thể bám vào trong những ngày cô đơn nghiền ngẫm và băn khoăn của mình. Không khí không trao câu trả lời cho những câu hỏi của mẹ, cả tâm trí mẹ lẫn tâm trí của bất cứ ai khác cũng thế thôi. Hãy giải thích cho mẹ hiểu con thực sự đang làm gì, và tại sao lại làm thế. Cuối cùng, cuối cùng thì con cũng đã về; mẹ có thể trông thấy con và được nghe con nói rồi. Nói đi!”
Những lời nói của bà, được nói bằng giọng đều đều và trống rỗng, làm cho Christian xúc động sâu sắc, do ý nghĩa của chúng thì ít mà do điệu bộ, cử chỉ của mẹ chàng – ánh mắt nghiêm nghị, lạc thần, nỗi đau mà bà cảm thấy, và thái độ giả vờ lạnh lùng của bà – thì nhiều. Bà đã tìm được đường chui vào tận cùng cõi lòng chàng, và đã phá vỡ được sự im lặng vĩ đại của chàng. Chàng nói: “Không dễ để giải thích cuộc đời mình hay những sự việc mà sự cần thiết đã bén rễ một cách không chắc chắn trong quá khứ. Nếu có lần ngược trở về quá khứ, thì con cũng không thể nói những chuyện này đã bắt đầu từ đâu, hay khi nào, hay như thế nào. Nhưng hãy để con trình bày nó thế này: Người đã bị ánh sáng chói lọi làm cho lóa mắt, sẽ khát khao bóng tối; người đã chán chê sẽ thấy thức ăn là khó nuốt; người chưa bao giờ cống hiến bản thân cho một chính nghĩa nào đó sẽ thấy xấu hổ và khát khao muốn được chứng tỏ bản thân. Tuy vậy, ngay cả điều đó cũng không giải thích được điều mà con thấy dường như là cốt yếu. Mẹ thấy đấy, thưa mẹ, thế giới như con dần dần được biết, những thể chế của con người, chứa chấp một điều sai trái rất vĩ đại và khó tiếp cận đối với suy nghĩ thông thường của chúng ta. Con không biết chính xác điều sai trái vĩ đại này nằm ở đâu. Chưa ai từng biết, cả người sung sướng lẫn người khốn khổ, cả kẻ có học thức lẫn kẻ thất học. Nhưng nó có tồn tại, và gặp mẹ ở mỗi khúc quành. Suy nghĩ về nó cũng chẳng ích gì. Nhưng cũng giống như người đi bơi phải cởi quần áo trước khi nhảy xuống nước, người ta phải lặn xuống đáy cuộc đời mới tìm thấy được gốc rễ và căn nguyên của điều sai trái vĩ đại này. Và người ta có thể thèm muốn cuộc tìm kiếm đó, nó quét tất cả những mối bận tâm và tham vọng khác đi, và chế ngự người ta hoàn toàn. Đó là cảm giác mà con không thể miêu tả cho mẹ hiểu được, mẹ ạ, dù có nói từ giờ cho đến tối cũng vậy thôi. Nó đâm xuyên qua người ta, đâm xuyên qua tất cả linh hồn và tất cả cuộc đời của người ta; và nếu như người ta cố gắng thoát ra, thì nó lại càng trở nên sắc bén hơn.”
Chàng đứng dậy dưới tác động của niềm phấn khích không quen thuộc mà mình đã cảm thấy, và tiếp tục nói nhanh hơn. “Điều sai trái đó không chỉ nằm trong sự trái ngược giữa người nghèo và người giàu, giữa sự cho phép chuyên quyền trên bàn tay này và sự chịu đựng bị ép buộc trên bàn tay kia. Không, không. Mẹ hãy nghe đây, tất cả chúng ta đều lớn lên với quan điểm rằng tội ác phải bị trừng trị, tội lỗi phải bị trừng phạt, rằng mọi hành vi của con người đều mang sự đền bù ở bên trong nó, và nói tóm lại là có một công lý trị vì nó bồi thường, ra lệnh, báo oán, nếu như không phải trước mắt chúng ta, thì cũng trên một vùng đất cao hơn nào đó. Nhưng điều đó không đúng. Con không tin vào một công lý như thế; nó không tồn tại. Một công lý như thế không thể tồn tại trong vũ trụ được, bởi vì nếu như nó tồn tại, thì cuộc sống của con người không thể như thế này được. Và nếu như thứ công lý siêu phàm mà con người nói đến và tin tưởng này không tồn tại, thì điểm khởi nguồn của điều sai trái vĩ đại có mặt trên thế giới đó hẳn phải nằm trong chính cuộc sống của con người, và chúng ta phải tìm cho ra điểm khởi nguồn đó và phải biết được bản chất của nó. Nhưng mẹ không thể tìm được nó bằng cách quan sát cuộc sống từ bên ngoài; mẹ phải ở bên trong nó, mẹ phải ở bên trong nó cho đến tận những vực thẳm sâu nhất kia. Nó là như thế đấy, mẹ ạ, nó là như thế đấy. Bây giờ có lẽ mẹ đã hiểu rồi.”
Nỗi kinh ngạc vô hạn độ hiện lên trên mặt bà Wahnschaffe. Bà chưa từng nghe nói đến những điều như thế, bà chưa từng chuẩn bị tâm trí để nghe chúng, đặc biệt là nghe từ chàng, con người xinh đẹp, suốt đời tiệc tùng, không thể bị bất cứ vẻ xấu xí nào xâm phạm. Bởi vì bà vẫn ấp ủ hình ảnh đó của chàng trong lòng mình. Bà định trả lời, bà hầu như nghĩ rằng lời nói đã trốn thoát khỏi mình: “Cuộc tìm kiếm đó không phải là chức năng của con trên đời, của con lại càng ít hơn của bất cứ ai khác!” Những lời nói tuyệt vọng đó phủ bóng đen lên mặt bà, khi bà nhìn lên chàng, và trông thấy rằng chàng đang thoát ly, không phải khỏi thế giới bà ghét bỏ, xa lánh, và sợ cho chàng, mà khỏi chính bà, thế giới của bà, thế giới và bản ngã trước đó của chàng. Bà trông thấy một con người hầu như không quen biết trong làn ánh sáng lờ mờ ma quái, và một linh cảm khuấy động trong linh hồn băng giá của bà; và trong điều linh cảm đó là niềm khao khát mà chàng đã nói đến, dù cho chính cái tên của nó cũng xa lạ đối với bà. Thêm nữa, nỗi sợ đánh mất hết tình yêu của chàng khiến cho tất cả những năm tháng ở phía sau bà thành ra dường như chỉ là những năm tháng bỏ đi, và bà rụt rè nói: “Không phải con ngụ ý rằng con về đây là vì có mục đích đặc biệt đấy chứ? Có chuyện gì vậy?”
Christian lại ngồi xuống. “Đây là vấn đề vô cùng nan giải và tế nhị,” chàng trả lời. “Con đến mà không nhận ra bản chất chính xác của nó, cái bản chất mà hình như đến tận bây giờ con mới hiểu rõ. Người phụ nữ mà con đang chăm sóc, Karen Engelschall - mẹ đã được nghe nói về cô ấy rồi đấy, thưa mẹ - khao khát những viên ngọc trai của mẹ; và con, con đã hứa rằng sẽ mang chúng về cho cô ấy. Niềm khao khát của cô ấy cũng lạ lùng như lời thỉnh cầu của con vậy. Toàn bộ chuyện này, được nói một cách thẳng thừng, nghe có vẻ điên rồ.” Chàng mỉm cười, chàng thậm chí đã bật cười, tuy vậy, gương mặt chàng vẫn tái nhợt.
Bà Wahnschaffe chỉ thốt lên tên chàng: “Christian.” Tất cả chỉ có thế. Bà nói chữ đó bằng giọng mỏng manh, yếu ớt, hầu như rít âm s lên.
Christian nói tiếp: “Con đã nói rằng con đang chăm sóc người đàn bà đó ... đó là cách diễn đạt không đúng. Khoảnh khắc con tìm thấy cô ấy là khoảnh khắc quyết định trong đời con. Nhiều người ngạc nhiên vì con không bao bọc cô ấy trong lộng lẫy và xa hoa, khi vẫn còn có thể. Nhưng điều đó cũng chẳng ích gì. Con hẳn sẽ hoàn toàn bỏ lỡ mất mục tiêu của mình bằng một cách như thế; còn cô ấy thì không hề nghĩ đến việc đòi hỏi điều đó. Nếu như không có gia đình, là những con người thường xuyên thúc giục cô ấy nổi loạn và thèm muốn, thì cô ấy hẳn đã được hoàn toàn hài lòng. Người ta nói huyên thuyên với cô ấy quá nhiều. Dĩ nhiên, cô ấy không hiểu mục đích của con; thường khi cô ấy xem con như kẻ thù. Nhưng điều đó có chi lạ với một cuộc đời như đời cô ấy? Mẹ ạ, mẹ có thể tin con khi con đảm bảo với mẹ rằng tất cả ngọc trai trên đời cũng không thể khiến cho người ta quên được một cuộc đời như thế.”
Chàng nói một cách rời rạc và căng thẳng. Những ngón tay chàng co giật, hai hàng lông mày hết nhíu lại giãn ra. Những lời chàng đã nói và phải nói khiến chàng đau đớn; tính chất kỳ quái trong lời yêu cầu của chàng, mà đến tận bây giờ chàng mới nhận ra đầy đủ, và khả năng lời thỉnh cầu của chàng có thể bị từ chối - những điều này khiến máu dồn đến tim chàng. Mẹ chàng không động đậy cũng chẳng nói gì. Chỉ trong ít phút mà những nét mặt của bà dường như đã co rúm lại thành cái mặt nạ nhăn nheo già sọm đi.
Nỗi sợ hãi khiến cho Christian nói tiếp. “Cô ấy là một người bị xã hội ruồng bỏ, một người bị khinh bỉ và chối từ. Đó là sự thật; hay đúng hơn, cô ấy là như thế. Nhưng chúng ta không được phép phán xét. Một sự tình cờ đã giúp cho cô ấy có được một tấm hình của mẹ, đang đeo những viên ngọc trai kia; và có lẽ cô ấy đã cảm thấy như thể đích thân mẹ đang đứng trước mặt mình, và ý thức đột ngột về việc là một người bị xã hội ruồng bỏ và khinh bỉ đã đến với cô ấy. Mẹ và cô ấy – có lẽ cuộc đời không nên có những sự trái ngược nhau đến thế; và đối với trí tưởng tượng rối loạn, nửa phần điên loạn của cô ấy thì những viên ngọc trai kia đã trở thành biểu tượng của sự đền bù, của trạng thái cân bằng về đạo đức. Nhân tiện, cô ấy sẽ không giữ luôn những viên ngọc trai đó, mà con cũng sẽ không cho phép cô ấy làm như thế. Con mang chính bản thân mình ra để cam đoan với mẹ rằng chúng sẽ được hoàn trả lại, nếu như mẹ chấp nhận lời nói của con như vật thế chấp. Con sẽ mang trả lại những viên ngọc trai đó, và mẹ có thể định ngày phải trả lại. Chỉ mong mẹ không làm con thất vọng trong cái tình thế tiến thoái lưỡng nan này của con mà thôi.”
Bà Wahnschaffe hít một hơi sâu, và giọng bà khàn khàn: “Đồ ngu ngốc.”
Christian cụp mắt nhìn xuống.
“Đồ ngu ngốc,” bà Wahnschaffe nhắc lại, và đôi môi bà run rẩy.
“Tại sao mẹ lại nói thế ạ?” Christian dịu dàng hỏi.
Bà đứng dậy, và ra hiệu cho chàng bằng một cử chỉ mệt mỏi. Chàng đi theo vào buồng ngủ của bà. Bà lấy chìa khóa ra khỏi hộp bọc da, rồi mở cánh cửa thép của một chiếc két sắt xây lút trong tường. Trong đó là nữ trang của bà – vương miện và móc cài, vòng xuyến, trâm, ghim, nhẫn và lavallières [Cà vạt lớn buộc dưới cằm - tiếng Pháp – ND] nạm đá quý. Bà nắm lấy chuỗi ngọc trai, và, khi bà lôi nó ra, đầu mút của nó kéo lê trên sàn nhà. Những viên ngọc trai này ngang bằng nhau về độ lộng lẫy và kích thước khác thường. Bà Wahnschaffe nói: “Những viên ngọc trai này, Christian à, có ý nghĩa với mẹ nhiều hơn những thứ như thế này có ý nghĩa với một người phụ nữ. Cha con đã tặng chúng cho mẹ lúc con ra đời. Mẹ luôn mang chúng với tinh thần biết ơn Chúa vì đã tặng con cho mẹ. Mẹ không xấu hổ mà thú nhận điều đó. Mẹ thấy nó dường như vẽ nên một hình tròn trong đó chỉ có mẹ và con thôi. Mẹ không chạm vào cũng không nhìn chúng từ khi con bắt đầu những chuyến lang thang lạ lùng của con, và mẹ tin rằng chính những viên ngọc trai này cũng đã phát ốm. Chúng quá vàng vọt, một số đã đánh mất đi vẻ rực rỡ của mình. Con nghiêm túc nghĩ rằng mẹ có thể từ chối con điều gì sao, bất kể đó là điều gì sao? Đúng là bây giờ mẹ thấy lối sống của con quá lạ lùng. Đầu óc mẹ dường như lẫn lộn khi mẹ cố gắng hiểu tất cả những điều đó, và mẹ cảm thấy đui mù và chẳng đâu vào đâu cả. Tuy vậy hôm nay một giọng nói nào đó đã nói giúp cho con, và mẹ sẽ không để mất giọng nói đó. Cho đến nay mẹ chỉ toàn nghe thấy những lời than van vô nghĩa. Toàn bộ linh hồn mẹ rùng mình, nhưng mẹ bắt đầu lại được trông thấy con, và con xin bất cứ cái gì thì mẹ cũng phải cho thôi. Con biết điều đó, và quả thực là biết rồi, nếu không thì đã không về đây. Hãy nhận lấy chúng!” Bà quay đi để che giấu nỗi đau đớn trên mặt mình, và dang tay ra đưa chuỗi ngọc trai cho chàng. “Nhưng cha con không được biết đấy nhé,” bà lẩm bẩm. “Nếu như con muốn trả lại chuỗi ngọc trai này, thì hãy tự mang nó về nếu có thể. Mẹ sẽ không tìm hiểu xem nó là để dành cho ai. Cứ xem như nó là tài sản của con.”
Tài sản ư! Christian nghe thấy hai từ đó nhưng chúng không xâm nhập được vào ý thức của chàng. Nó rơi xuống và biến mất như hòn đá rơi xuống nước; đối với chàng chúng đã đánh mất tất cả mọi ý nghĩa. Chàng nhìn những viên ngọc trai với nỗi ngạc nhiên và lãnh đạm, như thể chúng là một món đồ chơi, và nói chuyện và bận tâm nhiều về chúng đến thế thì thật là lạ lùng. Sự quý giá của chúng, giá trị lên đến hàng triệu, đối với chàng không còn là điều có thể ý thức được nữa, mà giống như ký ức mơ hồ về một điều gì đó đã được nghe nói đến từ lâu. Thế nên chàng không cảm thấy gánh nặng lòng tin cậy của mẹ và sự sở hữu của mình. Cách chàng nhét những viên ngọc trai vào chiếc hộp mẹ đưa cho có vẻ gì đó quá thờ ơ bất cẩn, và lời cảm ơn của chàng hình thức một cách quá hiển nhiên đến mức rõ ràng là chàng đã quên những chướng ngại cho công việc của mình mà chỉ ít phút trước đó chàng đã cảm thấy một cách sâu sắc đến thế.
Chàng ở lại với mẹ thêm một giờ nữa. Nhưng chàng nói ít, và môi trường, vẻ tráng lệ của căn phòng, không khí của ngôi nhà, vẻ nghiêm trang và lười biếng, sự trống trải và xa cách, tất cả những điều này dường như khiến chàng bất an. Bà Wahnschaffe không nhận thấy điều đó. Bà nói chuyện rồi im lặng, và trong đôi mắt bà lấp lánh ánh sợ hãi giờ khắc đang trôi đi. Khi Christian đứng dậy để giã từ, thì mặt bà tái nhợt đi, và bà tự điều khiển mình một cách vô cùng khó khăn. Bà hơi lảo đảo một chút khi chỉ còn lại một mình, và phải ôm chặt một trong những cây cột giường chạm khắc và kêu lên một tiếng. Rồi bất thình lình bà mỉm cười.
Có lẽ một ảo giác đã khiến bà mỉm cười; có lẽ đó là tia sáng suốt giống như ánh chớp trên bầu trời đêm vậy.
