QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XI)
RUTH VÀ JOHANNA
I
Sau nhiều năm, Crammon và bà bá tước Brainitz lại gặp nhau trong khách sạn Fratazza trên San Martino di Castrozza [Khu nghỉ mát trên núi trong thung lũng Primiero thuộc tỉnh Trentino ở Ý – ND].
Bà bá tước ngồi thêu tấm khăn choàng cổ kiểu nông dân Xlavơ trên ban công phòng mình, đôi mắt mãn nguyện ngắm nhìn những ngọn núi hiểm trở, những sườn dốc và những lối mòn mọc đầy cây cối. Lúc bà đang ngồi như thế, thì một chiếc ô tô bám đầy bụi dừng lại trước lối vào ở bên dưới, và từ trong nó bước ra hai quý bà và hai quý ông trong những bộ đồ đua xe hợp thời trang. Hai quý ông tháo kính bảo hộ của họ ra, và làm việc với ông giám đốc khách sạn.
“Nhìn kìa, Stohr,” bà bá tước quay sang người bạn đồng hành của mình. “Nhìn người đàn ông hơi béo có khuôn mặt như diễn viên kia kìa. Ông ta dường như quen thuộc với ...” Đúng lúc đó Crammon nhìn lên và cúi chào. Bà bá tước kêu lên một tiếng nhỏ.
Buổi tối hôm đó, trong phòng ăn, Crammon đã không thể né tránh được việc phải sang bàn bà bá tước để hỏi thăm sức khỏe, bà ta sẽ lưu lại đó bao lâu, và những vấn đề tương tự. Bà bá tước thô bạo ngắt ngang những lời nói lịch sự của ông. “Thưa ông von Crammon, có một chuyện tôi phải nói riêng với ông. Tôi mừng vì có được cơ hội này. Tôi đã chờ đợi nó từ rất lâu rồi.”
“Tôi hoàn toàn ở dưới sự phục vụ bà, thưa bà bá tước,” Crammon nói, với vẻ khó chịu bị che giấu tồi. “Ngày mai tôi sẽ nhận lãnh sự tự do của việc được đến thăm bà vào lúc mười một giờ.”
Hôm sau, vào lúc mười một giờ mười phút, ông đến. Và dù cho bà ta đã yêu cầu cuộc nói chuyện này một cách quyết liệt, nhưng ông không cảm thấy tò mò cũng như lo lắng chút nào.
Bà bá tước chỉ vào một cái ghế, ngồi xuống đối diện với ông khách của mình, và khoác lên mình dáng vẻ của một ông quan tòa. “Cô em gái yêu dấu của tôi, người mà, thưa ông von Crammon, ông không thể không nhớ, đã đi từ thế giới này sang một thế giới tốt đẹp hơn sau một trận ốm dài cách đây mười tám tháng. Tôi đã được phép ở bên cạnh cô ấy cho đến tận cùng, và trong những giờ phút cuối cùng của mình, cô ấy đã thú nhận với tôi một chuyện.”
Lòng thương xót mà Crammon phô ra có vẻ hời hợt một cách quá rõ ràng đến mức bà bá tước phải nói thêm bằng giọng sắc lẻm như dao: “Đó là cô em gái Else của tôi, thưa ông von Crammon, mẹ của Letitia. Ông không có gì để nói sao?”
Crammon mơ màng gật đầu. “Thế là cả cô ấy cũng đi rồi,” ông thở dài, “ôi người phụ nữ thân yêu! Và tất cả những chuyện đó đã cách đây hai mươi năm! Đó là một khoảng thời gian huy hoàng, thưa bà bá tước. Ôi tuổi trẻ, tuổi trẻ - thế giới lúc đó mới đầy ý nghĩa làm sao! Xin đừng nhắc lại với tôi, thưa bà bá tước thân mến, xin đừng nhắc lại với tôi!
“‘Ngay cả cái đẹp cũng chết, dù cho có chinh phục được con người và bất tử,
Thần Zeus có trái tim bằng sắt, làm gì biết cảm thấy xót thương.’”
“Xin miễn cho tôi những trích đoạn thơ ca của ông,” bà bá tước tức giận đáp. “Ông sẽ không chiếm được thế thượng phong trước tôi, như ngày xưa đã từng làm được đâu. Trong những ngày đó, mang mặt nạ kín đáo là việc thuận lợi và thoải mái nhất dành cho ông; và tôi không phủ nhận rằng ông đã mang nó một cách vô cùng khéo léo. Nhưng hãy để cho tôi được nói thêm ngay thế này: Người ta có thể kín đáo như một cái xác ướp, tuy vậy, trong đời có những tình thế trong đó người ta buộc phải đi theo tiếng gọi của trái tim, ấy là nếu như người ta được ban tặng cho một thứ như vậy. Một sự khản tiếng nhất thời, một run rẩy của đôi môi, một ngấn nước trong con mắt – chỉ như thế thôi là đủ. Tôi đã không hề nhận thấy điều gì giống như thế ở ông. Thay vào đó ông đứng bên cạnh một cách hoàn toàn bình tĩnh, trong khi cô bé tội nghiệp đó, con gái ông, máu thịt của ông, bị bán cho một thằng điên bẩn thỉu, một con cọp trong hình hài con người.”
Crammon trả lời một cách kiềm chế và đầy phẩm giá. “Có lẽ bà sẽ có lòng tốt, thưa bà bá tước thân mến, nhớ lại lời cảnh báo chân thành và dai dẳng của tôi. Tôi đã đến gặp bà vào lúc đêm hôm khuya khoắt, bị lương tâm hành hạ, và đưa ra với bà những lời trình bày nặng ký và trang trọng nhất.”
“Cảnh báo! Vớ vẩn! Ông kể cho tôi nghe những câu chuyện man rợ. Ông lừa tôi bốn phương tám hướng.”
“Đó là những cách diễn đạt mạnh mẽ, thưa bà bá tước.”
“Tôi muốn chúng như thế đấy!”
“Tệ thật! A, được! Ngấn nước trong con mắt, thưa bà bá tước, là điều mà bà không thể chờ mong ở tôi; tôi không có cái năng khiếu đó. Tôi thấy cô gái bé bỏng đó dễ thương, rất dễ thương, nhưng chỉ như một con người thôi. Bà không thể chờ đợi ở tôi những tình cảm của người cha. Thưa bà bá tước, thẳng thắn và thành thật mà nói, thì tôi cho những tình cảm đó được những con người đa sầu đa cảm đánh giá cao quá đáng. Một bà mẹ - a, đó là tiếng nói của tự nhiên. Nhưng một người cha không ít thì nhiều cũng là một tai nạn không may. Giả sử bà đã lên kế hoạch áp đảo tôi bằng một cảnh có hiệu lực. Chúng ta hãy cùng hình dung nó nào. Cánh cửa ở đằng kia mở ra, và xuất hiện một quý ông hay một quý cô trẻ tuổi được trang bị tất cả những tài liệu hoặc bằng chứng cần thiết. Những tài liệu và bằng chứng thích đáng đó có thể được thu thập như cát trên bờ biển để chống lại bất cứ người đàn ông bình thường bốn mươi ba tuổi nào. Và như thế là chàng trai hay cô gái trẻ tuổi đó tiến lại gần tôi với những lời yêu cầu từ một cậu con trai hay một cô con gái. Ồ, bà thực sự tin rằng tôi sẽ xúc động sâu sắc, và rằng những tình cảm của một người cha sẽ tuôn trào ra từ trái tim tôi như nước tuôn trào ra từ một suối nguồn sao? Ngược lại, tôi sẽ nói: ‘Chàng trai trẻ thân mến của tôi, hoặc cô gái trẻ thân mến của tôi ơi, tôi rất muốn được làm quen với bạn,’ nhưng điều đó làm cạn kiệt toàn bộ những khả năng hiện thời của tình thế. Và nhân tiện, chả phải là vô cùng bất tiện hay sao, khi người ta phải sống trong nỗi chờ mong không ngừng việc gặp những hóa đơn chưa được thanh toán của mình từ hai mươi năm trước trong hình hài một con người? Điều đó sẽ dẫn đến đâu? Đứa con ở đây, dù là trai hay gái, nếu như có chút tế nhị nào, sẽ cân nhắc thấu đáo về một bước đi như thế, và dừng lại trước khi dùng đến sự xâm phạm không đúng lúc để chất gánh nặng lên vai một người đàn ông đang bận khuấy lớp cặn trong cái tách của cuộc đời để tìm kiếm những thứ còn sót lại ngon ngọt nào đó. Ý niệm về việc Letitia xinh đẹp của chúng ta, quý cô thân mến đó của tôi, bị thêu vào một mạng lưới hoàn cảnh kỳ lạ đến thế, và do sự can thiệp của những sức mạnh cao hơn một cách rõ ràng đến thế, đến mức sự phục vụ của tôi trong vấn đề này thành ra vô nghĩa. Khi tôi gặp cô gái thân mến đó, tôi đã có cái cảm giác của một kẻ lang thang từng chôn một hạt anh đào bên bờ đường một cách thiếu suy nghĩ. Nhiều năm sau hắn quay lại chỗ đó, và đã phải ngạc nhiên khi trông thấy cây anh đào. Đáng say mê mà hoàn toàn tự nhiên. Nhưng bà chờ mong gã đàn ông đó sẽ hét lên một tiếng đắc thắng hay sao? Hắn sẽ ám nơi đó, và nói: ‘Nhìn cây anh đào của tôi này! Tôi chả phải là một gã xuất sắc hay sao?’ Hay bà chờ mong hắn sẽ đến gặp ông chủ mảnh đất đó, đòi cái cây và nhổ nó lên, hay thậm chí nhổ trộm nó vào ban đêm, để mang đi trồng lại ở một nơi khác mà hắn cũng chẳng biết là đâu? Một gã đàn ông như thế là một thằng ngốc, bà bá tước ạ, hoặc là một thằng điên.”
“Tôi đã không nghi ngờ rằng ông có nhiều tinh thần, thưa ông von Crammon,” bà bá tước gay gắt đáp, “nhưng tôi đã nghĩ rằng mình có thể tìm được chút ít. Thú thật là tôi đã chết lặng. Làm ơn hãy cho tôi biết điều này: Có phải mọi đàn ông đều có chung quan điểm với ông, hay ông là người duy nhất? Tôi sẽ yên tâm nếu như được tin vào vế sau, bởi vì nếu không thì nhân loại quả thực quá đáng buồn.”
“Chúa cấm, thưa bà bá tước thân mến nhất đời, không cho tôi phạm tội quấy rầy trạng thái cân bằng đáng khâm phục của tâm trí và linh hồn bà,” Crammon hăm hở đáp trả. “Chúa cấm! Xin hãy xem tôi là một ngoại lệ. Phần lớn những người tôi biết rất tự hào về tác phẩm của họ, dù nó có hình hài thơ ca, hay một kiểu may áo ghi lê mới, hay một cách chế biến gan ngỗng thực sự độc đáo. Lòng tham danh tiếng tác giả của họ thật là không thể thỏa mãn nổi. Khi bà trông thấy họ từ xa, bà sẽ thầm cảm thấy mình buộc phải sáng tác ra những lời khen ngợi; và không có lời nói dối nào mà họ sẽ không nuốt bằng lòng tham lam nó khiến cho bà thấy xấu hổ thay cho họ. Và không có đầu bếp, thi sĩ, phó may nào căng phồng tính tự đắc sáng tạo bằng bậc tư sản tổ tiên chung của các bà. So với ông ta những con tê giác vẫn còn là sinh vật thanh nhã và nhạy cảm chán. Câu chuyện minh họa cho quan điểm của tôi sau đây càng làm cho mối ghét bỏ thể chế gia đình của tôi tăng thêm. Có lần tôi hỏi một người đàn ông, một ông chồng bị cắm sừng nổi tiếng, rằng làm sao mà tóc hai cậu con trai của ông ta lại sáng màu một cách khác thường đến thế, trong khi tóc ông ta và vợ ông ta đều rất sẫm màu. Ông ta đáp với vẻ vô cùng xấc xược rằng tổ tiên của ông ta là những hiệp sĩ Normandy. Những hiệp sĩ xứ Normandy chứ không phải ai khác! Thế mà ông ta lại là một người Do Thái đến từ Prague. Những hiệp sĩ xứ Normandy kia đấy!”
Bà bá tước lắc đầu. “Ông lại đang kể cho tôi nghe những giai thoại của ông,” bà ta nói, “mà tôi thì không thích chúng, đó là điều mà tôi không thích nhất trong con người ông. Thế là ông giũ bỏ tất cả mọi trách nhiệm? Ông xem Letitia là người dưng, và phủ nhận đứa trẻ đáng yêu đó? Nói tóm lại, đó có phải là ý nghĩa của tất cả bài thuyết trình này của ông hay không?”
“Không hề, thưa bà bá tước. Tôi sẵn sàng cho bất cứ sự nối lại quan hệ thân ái nào; tôi chỉ từ chối việc bị đóng đinh xuống một chỗ, và bị áp đặt một trách nhiệm đạo đức đa sầu đa cảm thôi. Nếu như việc đó bất thành, nhiều khả năng tôi sẽ chạy trốn, dù bản chất tôi bình tĩnh và thận trọng. Nhưng chúng ta đừng phí thời gian tranh cãi những lý thuyết nữa. Hãy cho tôi biết bản chất chính xác của những bất hạnh đã rơi xuống đầu Letitia bé bỏng đi nào.”
Vừa chế ngự nỗi khiếp sợ mà Crammon gây ra nơi mình, bà bá tước vừa kể lại việc một tháng trước mình đã nhận được một bức điện tín từ Genoa như thế nào. Bức điện tín đó như sau: “Gửi tiền hoặc đến ngay lập tức.” Bà ta vội vàng đi Genoa, và tìm thấy cô bé tội nghiệp đó đang ở trong tình trạng đáng thương. Letitia có quá ít tiền đến mức phải cầm cố nữ trang của mình để thanh toán hóa đơn khách sạn; nàng bị ả bảo mẫu người Argentina mà mình mang theo cùng đàn áp và lừa gạt; một trong hai đứa trẻ sinh đôi bị tiêu chảy, đứa kia thì bị đau mắt ...”
“Sinh đôi ư? Bà nói sinh đôi ư?” Crammon sửng sốt ngắt lời bà ta.
“Sinh đôi. Đúng chính xác là tôi nói như thế đấy. Ông là ông ngoại của hai đứa trẻ sinh đôi đó.” Lời đáp của bà bá tước sặc mùi thỏa mãn hiểm độc.
“Những cách thức của Thượng Đế thật quả tuyệt vời,” Crammon lẩm bẩm, và đôi mắt ông hơi đờ đẫn một chút, “ông ngoại của hai đứa trẻ sinh đôi ... Thú thật là tôi thấy lạ thường đấy. Tôi phải nói là chuyện này trông không có vẻ khôi hài. Tại sao nó lại bỏ chồng? Tại sao bà không ở với nó?”
“Ông sẽ được nghe tất cả. Gã đàn ông đó ngược đãi nó - ngược đãi thực sự về thể chất. Nó rơi vào tay những gã nát rượu, ăn cướp, đầu độc, ăn trộm ngựa, giả mạo, và vu khống. Nó là tù nhân trong ngôi nhà đó; nó phải nhịn đói; bọn chúng hành hạ thể xác và linh hồn nó, và đưa ra những lời đe dọa tàn nhẫn; nó sợ hãi cuộc sống của nó; bọn chúng huấn luyện những con vật hoang dã để làm nó khiếp sợ, và thuê những phạm nhân trốn tù để canh gác nó. Sợ hãi và khiếp đảm đưa nó đến bờ vực của nấm mồ. Thật là không thể nào tả nổi. Nếu như không có sự can thiệp và giúp đỡ hào hiệp của một đại úy người Đức, người đã rủ nó về châu Âu, thì hẳn là nó đã chết một cách khốn khổ rồi. Đáng buồn làm sao mà tôi thậm chí không thể cảm ơn anh bạn rộng lượng đó của nó được; anh ta đã rời khỏi Genoa khi tôi đến. Nhưng Letitia đã trao cho tôi địa chỉ của anh ta, và tôi sẽ viết thư cho anh ta.”
“Tất cả những điều đó thật quá đáng tiếc,” Crammon nói, “tuy vậy, đó là điều mà tôi chờ đợi. Tôi đã có một linh tính, và dự cảm của tôi từ đó mà ra. Từ đầu tôi đã thấy cái gã Stephen Gunderam này đáng ghê tởm rồi. Gã giống như một tên bầu gánh xiếc rẻ tiền đang thổi một cây kèn trumpet bằng thiếc. Một cái ô cũ tôi cũng không giao phó cho gã, chứ đừng nói đến một cô gái trẻ có những phẩm chất tinh tế là hình mẫu cho toàn bộ thế giới. Tuy vậy, tôi không đồng tình với việc bỏ trốn của nó. Nếu như tình hình không thể chịu đựng nổi một cách hiển nhiên, thì nó nên tìm tự do bằng những cách thức hợp pháp chứ. Hôn nhân là một việc thiêng liêng. Đầu tiên nó nhảy xổ vào, như thể đó rõ ràng là thiên đường thứ bảy. Sau đó, sau khi đã nếm mùi những điều khó chịu mà ngay cả kẻ rất khờ khạo cũng dự đoán trước được trong những hoàn cảnh như thế, nó xin nghỉ phép kiểu Pháp [Nghĩa là bỏ trốn – ND], rồi bay hơi sang châu Âu với hai đứa trẻ bất lực và không được che chở. Việc đó vừa không phải lẽ vừa thiếu khôn ngoan, và tôi phải công khai không đồng ý.”
Bà bá tước nổi điên lên. “Thế ý ông là con bé tội nghiệp nên để cho bọn chúng hành hạ mình đến chết hay sao?”
“Xin bà thứ lỗi cho. Tôi chỉ trình bày cách tìm kiếm sự bồi thường không may của nó mà thôi; hơn thế thì tôi không dám phán xét. Tôi nghĩ phá vỡ mối kết hợp được Nhà Thờ làm cho thiêng liêng, và rời bỏ cả mái ấm lẫn đất nước mình là một bước đi sai lầm. Đó là một việc làm trái đạo lý, sẽ dẫn đến chỗ diệt vong. Và chuyện gì đã xảy ra trong khi bà ở bên cạnh nó? Nó định làm gì? Bây giờ nó đang ở đâu?”
“Ở Paris.”
“Paris! Thế ư? Nó định làm gì ở đó?”
“Nó muốn phục hồi sức khỏe. Tôi không ngăn cản nó. Nó cần điều đó.”
“Tôi không nghi ngờ điều đó, thưa bà bá tước. Nhưng Paris dường như là nơi khác thường cho một mục đích như thế. Và nó đã ngay lập tức từ chối niềm vui được nói chuyện với bà, hay chỉ là bà đã thất bại trong việc chia sẻ sở thích phục hồi sức khỏe ở Paris với nó?”
Bà bá tước lúng túng thấy rõ. Bà ta nhíu mày, đôi má hồng xinh xắn đỏ bừng lên. “Trong khách sạn nó đã làm quen với một tử tước Seignan-Castreul nào đó, người đang ở đó với em gái anh ta,” bà ngập ngừng nói. “Họ đã mời Letitia đến làm khách của họ ở Paris, rồi sau đó là đến làm khách trong tòa lâu đài ở Brittany của họ. Con bé đã khóc, và nói với tôi: ‘Dì ơi, cháu muốn đi, nhưng cháu không thể, bởi vì cháu không có một xu.’ Trái tim tôi đau nhói, và tôi gom tất cả những gì mình có thể - năm ngàn franc cả thảy. Con bé nồng nhiệt cảm ơn tôi, rồi ra đi với hai anh em anh chàng tử tước kia, hứa sẽ gặp tôi ở Baden-Baden vào tháng Mười.”
“Trong lúc đó thì hai đứa trẻ sinh đôi sẽ ở đâu?”
“Dĩ nhiên là nó mang chúng theo cùng rồi – hai đứa trẻ sinh đôi và ả bảo mẫu của chúng, một cô hầu người Anh, và cô hầu của riêng nó.”
“Tôi trân trọng tính hào phóng của bà, thưa bà bá tước, nhưng tôi có phần không thích cả anh chàng tử tước lẫn cô nàng tử tước của bà.”
Đột nhiên, bà bá tước bật khóc nức nở, ầm ĩ. “Tôi cũng thế!” bà kêu lên, áp hai bàn tay lên mặt. “Tôi cũng thế. Mong sao nó không gặp những bất hạnh mới! Nhưng tôi biết làm sao? Người ta có thể cưỡng lại những lời khẩn khoản của nó không? Tôi đã quá hạnh phúc khi có lại nó; tôi đã cảm thấy như thể nó đã đội mồ sống lại. Không, gã tử tước đó chẳng thông cảm với tôi chút nào. Hắn có một tính cách quỷ quái.”
“Những người có tính cách quỷ quái luôn luôn là những kẻ bịp bợm, thưa bà bá tước,” Crammon nói một cách khô khan. “Một người đàng hoàng không bao giờ như thế cả. Bản thân cái từ đó cũng có một sự bịp bợm ở trong nó rồi.”
“Thưa ông von Crammon,” bà bá tước thông báo với vẻ quả quyết, “bây giờ tôi mong ông sẽ phô diễn mặt tốt đẹp của cái từ đó, tôi mong ông sẽ đến Baden-Baden sau khi Letitia đã đến rồi, quan tâm đến nó là người gần gũi với ông hơn bất cứ ai khác trên đời này, và bù đắp lại những sai trái và lơ là của ông.”
“Vì tình yêu của tất cả các thánh, không!” Crammon kinh hoàng kêu lên. “Sự thừa nhận, tình cảm sâu sắc, cha và con gái ngã vào vòng tay nhau, nỗi ân hận và những chiếc khăn tay đẫm nước mắt! Không! Bất cứ điều gì bà muốn, nhưng không phải là những trò đó.”
“Không lý do lý trấu, thưa ông von Crammon, đó là bổn phận của ông!” Bà bá tước đã đứng dậy, và đôi mắt bà tráng lệ. Crammon quằn quại, van xin và cầu khẩn bà ta. Vô ích. Bà bá tước không để cho ông đi cho đến khi ông thề danh dự với bà ta rằng sẽ có mặt ở Baden-Baden vào cuối tháng Mười, hay muộn nhất là vào đầu tháng Mười Một.
Khi còn lại một mình, bà bá tước đi đi lại lại một chút, vẫn còn nóng nảy và thở hổn hển. Rồi bà gọi bà bạn đồng hành của mình. “Đi gọi hầu bàn cho tôi, Stohr,” bà rên rỉ, “tôi đói lả người rồi.”
Cô nương Stohr làm như được bảo.
II
Bà Wahnschaffe đang thực hiện một trong những chuyến đi chơi hiếm hoi của mình. Bà ta đang đi ô tô về hướng Schwanheim thì trông thấy một nhóm những chàng trai trẻ ở lối vào sân chơi polo. Trong số họ có một người khiến cho bà nhớ Christian mãnh liệt. Dáng người mảnh khảnh và điệu bộ duyên dáng một cách quý phái của anh ta làm bà liên tưởng đến Christian nhiều tới mức ra lệnh cho tài xế dừng lại và bảo người bạn đồng hành của mình đến chỗ cánh cổng đó hỏi thăm xem chàng trai trẻ đó là ai.
Người bạn đồng hành tuân lệnh, và bà Wahnschaffe im lặng đợi chờ, trong lúc vẫn nhìn nhóm người kia. Người bạn đồng hành không khó khăn để có được thông tin, và báo cáo lại rằng chàng trai trẻ đó là một người Anh tên là Anthony Potter.
“A, phải, phải.” Đó là tất cả những gì bà Wahnschaffe nói, và mối quan tâm của bà đã lụi tắt.
Ngay tối hôm đó, bà ta nhận được một lá thư đặc biệt. Bà ta nhận ra nét chữ của Christian, và tất cả mọi thứ đã nhảy múa trước mắt bà ta. Những chữ đầu tiên bà ta có thể trông thấy là tên một khách sạn nhỏ, hạng ba ở Frankfort. Dần dần, thị lực của bà ta trở nên vững chắc hơn, và bà ta đọc lá thư: “Mẹ thân mến: Con xin mẹ hãy tặng cho con một buổi nói chuyện vào buổi sáng ngày mai. Hôm nay con không thể đến được vì đã quá muộn rồi; con đi đường suốt ngày nên hơi mệt. Nếu như không nghe thấy lời phản đối từ mẹ, thì con sẽ ở bên mẹ vào lúc mười giờ. Con tin chắc rằng mẹ sẽ tốt bụng mà gặp con một mình.”
Ý nghĩ duy nhất của bà ta là: “Cuối cùng thì nó cũng đã về!” Và bà ta nói to những lời nói đó lên một mình: “Cuối cùng thì nó cũng đã về!”
Bà ta nhìn cái đồng hồ của mình. Mười giờ. Điều đó có nghĩa là còn mười hai tiếng nữa. Bà ta phải qua mười hai tiếng đó như thế nào đây? Bà ta thấy dường như tất cả cuộc đời dài lâu của mình còn ngắn hơn khoảng thời gian đang trôi qua đó.
Bà ta đi xuống cầu thang qua những căn phòng tối tăm, trống trải, qua gian sảnh đá hoa cương có những cây cột to lớn, qua phòng ăn khổng lồ có gắn gương soi trong đó vùng ánh sáng cuối cùng, yếu ớt của một ngày dài mùa Hạ đang lụi tắt. Bà đi ra vườn, và nghe thấy những lời than vãn của một con chim sơn ca. Những vì sao lấp lánh, một đài phun nước bì bõm, và tiếng nhạc ở nơi xa vẳng đến tai bà. Bà ta vào nhà, và thấy rằng mới trôi qua được mười lăm phút. Một vẻ tức giận làm méo mó khuôn mặt lạnh lùng, cứng rắn của bà ta. Bà ta cân nhắc việc không biết mình có nên vào thành phố đến ngôi nhà trọ bé nhỏ, tồi tàn đó hay không. Bà ta gạt kế hoạch này đi ngay lập tức. Nó đang ngủ; nó đã rất mệt vì đi đường. Nhưng tại sao nó lại ở một nơi như thế, bà ta tự hỏi, trong một ngôi nhà xoàng xĩnh, giữa những con người xa lạ, thấp kém?
Bà ta ngồi xuống một cái ghế bành, và bước vào cuộc chiến đấu ác liệt với tính lười biếng của thời gian, từ mười một giờ đến nửa đêm, từ nửa đêm đến khi xuất hiện tia sáng lờ mờ đầu tiên của bình minh, từ tia sáng đầu tiên đó đến ráng hồng sớm sủa của buổi sáng trẻ trung, rồi đến lúc mặt trời mọc tròn đầy, và tiếp theo đến giờ đã hẹn.
