favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ HAI: RUTH (IX)

CHUYỆN TRÒ TRONG ĐÊM

XXVII

Tàu Dom Pedro lênh đênh trên biển chưa được một tuần, thì Letitia đã buộc phải đi đến cái kết luận đau khổ rằng Friedrich Pestel không phải là người đàn ông thích hợp dành cho mình.

Nàng đã khao khát một người đàn ông có trí tưởng tượng phong phú và một linh hồn nồng cháy. Trước mặt biển khơi vô tận và dưới vòm trời đầy sao, niềm khao khát khôn nguôi đó lại thức dậy trong lòng nàng, và nàng đã nói với Pestel một cách thẳng thắn và thành thật rằng mình không thể hạnh phúc bên anh ta được. Pestel đã vô cùng kinh ngạc. Anh ta không trả lời, mà trở nên u sầu.

Trong số hành khách có một kỹ sư người Áo là người đã xây dựng những tuyến đường sắt ở Peru và đang trên đường trở về nhà. Vẻ ngoài lãng mạn một cách táo bạo và khả năng kể chuyện tài tình của anh ta đã khiến cho Letitia thấy vui thích. Nàng không thể để cho anh ta biết điều đó vì những hành khách khác đã xem nàng là vợ của Pestel. Nhưng anh chàng kỹ sư này, hình như là một kẻ thích phiêu lưu và can đảm, đã có những ý nghĩ của riêng mình.

Dù thực sự đau đớn và thất vọng, nhưng Pestel vẫn tự trách mình vì đã mua vé khoang hạng nhất đắt tiền cho Letitia, cô bảo mẫu, và hai đứa trẻ sinh đôi, và vé khoang hạng nhìn cho thằng bé Anhđiêng bằng tiền túi của mình. Thêm vào đó, ngay trước khi họ lên đường và trong lúc vội vội vàng vàng, anh ta đã mua mấy cái áo dài và một số đồ vải lanh cho người phụ nữ mà mình đã cứu thoát khỏi cảnh bị giam cầm, và là người mà anh ta nghĩ rằng mình sắp gắn bó mãi mãi.

Cậu bé Anhđiêng bị say sóng, và cả nhớ nhà nữa, nên Letitia hứa đến Genoa sẽ gửi cậu ta trở về lại Argentina.

Trong số những hành khách đăm đăm nhìn Letitia bằng con mắt sáng rực, có một nhà báo người Mỹ đã sống vài tháng ở Brazil. Anh ta hóm hỉnh, viết những vần thơ thông minh, tổ chức những bữa tiệc và khiêu vũ, và nhanh chóng được Letitia xem là dường như cũng quyến rũ như anh chàng kỹ sư người Áo. Giữa hai anh chàng này đã xảy ra những cuộc chạm trán nho nhỏ do ghen tuông, và người này xem người kia là một trở ngại.

Một đêm, họ là những vị khách cuối cùng còn ngồi lại trong khoang uống rượu; cả hai đều không muốn về khoang, và đã đồng ý với nhau rằng sẽ chơi ném súc sắc để ăn một chai rượu vang đỏ.

Anh chàng người Áo thua.

Chai rượu được mang ra. Gã người Mỹ rót ra ly; họ uống, tựa người vào lưng ghế và hút tẩu, thỉnh thoảng lại dò xét nhìn nhau, nhưng chẳng nói gì cả.

Bất thình lình gã Mỹ nói, trong khi vẫn cắn cái tẩu của mình giữa hai hàm răng: “Một người đàn bà đẹp.”

“Quyến rũ,” gã người Áo đồng ý.

“Người Đức là hài hước thế thì lạ thật.”

Gã kỹ sư trầm ngâm thổi những vòng khói. “Cô ấy thực sự đáng say mê,” gã nói.

Họ lại im lặng. Rồi gã Mỹ nói: “Chúng ta chả phải là khá ngớ ngẩn sao khi đi phá những cơ hội của nhau? Chúng ta hãy ném súc sắc nào, rồi dựa vào đó mà hành động!”

“Được thôi, chúng ta hãy làm như thế,” gã kỹ sư đồng ý. Gã cầm hộp đựng súc sắc lên, lắc, rồi đổ. Những khối lập phương bé nhỏ kêu lạch cạch trên mặt đá hoa cương. “Mười tám,” gã kỹ sư thông báo, kinh ngạc trước vận may của mình.

Gã kia thu những con súc sắc về, cũng lắc cái hộp, rồi để cho chúng trượt trên mặt bàn, và bình tĩnh thông báo “Mười tám!” Cả gã cũng không thể - dĩ nhiên là có nhiều lý do hơn – che giấu được nỗi kinh ngạc của mình giống như gã người Áo.

Hai gã đàn ông cảm thấy có phần hơi bất lực. Họ cẩn thận không hỏi lại số mệnh nữa. Họ uống hết rượu, rồi chia tay nhau với tất cả những sự nhã nhặn thích đáng.

Letitia nằm trên giường với đôi mắt mở to lắng tai nghe tiếng động cơ rộn ràng, tiếng những bức tường trên con tàu nhẹ nhàng va vào nhau, và tiếng ngâm nga của Eleutheria đang dỗ dành hai đứa trẻ sinh đôi trong khoang kế bên. Nàng nghĩ về Genoa, cái đích mà con tàu này đang lao nhanh đến; và trí tưởng tượng của nàng mở ra cho nàng thấy những nhà quý tộc phục trang lộng lẫy và những kẻ âm mưu lãng mạn theo kiểu Fiesco thành Genoa, những con hẻm được ánh đuốc soi sáng và những cuộc phiêu lưu của tình yêu và đam mê. Nàng thấy cuộc sống dường như rực rỡ sắc màu, và tương lai là một cánh cổng vàng.

XXVIII

Đứa trẻ đã biến mất.

Christian hỏi nó đâu. Karen nhún vai một cách bướng bỉnh. Thế là Christian đi đến nơi ở của mụ quả phụ Engelschall, mụ ta thông tin cho chàng biết với sự khúc chiết tàn nhẫn thế này: “Tôi đã giao nó vào tay những con người tốt bụng. Anh không có quyền lo lắng. Tại sao anh lại phải lo lắng? Nó đâu phải con anh!”

Christian nói: “Bà không có lý do gì để không nói cho tôi biết nó đang ở đâu.”

Mụ đàn bà kia trả lời một cách láo xược: “Đừng hòng! Chẳng việc gì tôi phải làm thế. Thằng bé đang được chăm sóc tốt, và anh sẽ không từ chối trả một ít tiền cho bà mẹ nuôi của nó, có phải không? Đó là bổn phận của anh, và anh không thể trốn được.”

Christian lặng lẽ chăm chú nhìn bộ mặt béo tròn như mặt trăng trên cái cằm ba ngấn, từ đó giọng nói ầm ầm phát ra như giọng nói của một thủy thủ lão luyện. Rồi chàng nhận ra cái sự thật rằng đống thịt đẫm mồ hôi kia đang vặn vẹo để tỏ ra thân thiện. Vừa chỉ vào cánh cửa kính, nó ngăn cách căn phòng lục giác nơi họ đang hiện diện khỏi những căn phòng khác, mụ ta vừa hỏi bằng thứ tiếng Đức chuẩn ngòn ngọt rằng chàng có muốn vào uống một chút cà phê không. Cà phê và bánh ngon, mụ ta nói, ai mà từ chối được kia chứ? Mụ ta giải thích rằng mình đang chờ một bà nam tước sắp đến từ Kustrin [Thị trấn ở Ba Lan – ND], chủ yếu để xin lời khuyên về những vấn đề quan trọng trong gia đình. Chàng có thể thấy là mụ ta cũng không phải quá tối dạ, cũng có những người bạn thú vị của riêng mình, và biết phải đối đãi với những người có địa vị cao sang như thế nào. Mụ ta lại mời chàng hãy ở lại.

Trong căn phòng mờ tối này có những cái bàn phủ đầy những tờ báo khôi hài xuất bản theo định kỳ sờn cũ. Trông nó giống như phòng tiếp tân của một nha sĩ. Những ngón tay béo của mụ đàn bà đeo đầy những chiếc nhẫn có những viên đá quý màu sắc sặc sỡ. Mụ ta mặc một cái áo lót bằng lụa đỏ và một cái váy đen, thắt lưng của nó được giữ bởi một cái khóa kềnh càng như quả đấm cửa.

Buổi tối hôm đó, khi Christian đến gặp Karen, thì cô ta đang ngồi tựa đầu lên bàn tay bên cạnh lò. Christian mang đến cho cô ta ít cam, chàng đặt chúng vào lòng cô ta. Cô ta không động đậy; cô ta không cảm ơn chàng. Chàng nghĩ có lẽ cô ta đang nhớ con, nên không làm phiền.

Bất thình lình cô ta nói: “Đến hôm nay thì Adam Larsen đã chết được bảy năm rồi.”

“Tôi chưa bao giờ nghe nói đến Adam Larsen,” Christian nói. Vì cô ta không nói gì, nên chàng nhắc lại: “Tôi chưa bao giờ nghe nói đến Adam Larsen. Chị nói cho tôi nghe về anh ta được không?”

Cô ta lắc đầu. Cô ta dường như lấy đà chuẩn bị nhảy vào tường dưới cái nhìn của chàng. Christian mang một cái ghế lại gần Karen. Chàng ngồi xuống bên cạnh cô ta, và thúc giục cô ta nói: “Chuyện về Adam Larsen là thế nào?”

Cô ta hít thở một hơi thật sâu. “Đó chỉ là một khoảng thời gian tươi đẹp trong cuộc đời tôi, khoảng thời gian mà tôi đã có với anh ấy, khoảng thời gian tươi đẹp duy nhất – năm tháng rưỡi.”

Cô ta bới móc sâu, sâu vào bên trong ý thức của mình. Mọi chuyện trong đó đã khát khao ánh sáng. “Đó là khoảng thời gian khi tôi đang mang thai đứa con thứ hai,” cô ta nói. “Chúng tôi đang trên đường đi từ Memel đến Konigsberg, tôi, Mathilde Sorge và chồng sắp cưới của cô ấy. Ôi, chồng sắp cưới là cái danh xưng mà họ gọi. Trên đường đi, tôi nhận thấy rằng mình sắp sinh đến nơi. Họ khuyên tôi nên xuống tàu. Tôi đã xuống tàu tại một nhà ga trước khi vào Konigsberg. Mathilde ở lại với tôi, dù cấm cảu; chồng sắp cưới của cô ta đi tiếp vào thành phố. Đó là một buổi tối tháng Ba, lạnh lẽo và ẩm ướt. Cạnh ga có một quán trọ quen với Mathilde. Cô ta nghĩ chúng tôi có thể vào trọ trong đó, và phải nhanh nhanh lên; nhưng ở đó đang có một phiên chợ, và tất cả các phòng đều đã có người ở. Chúng tôi cầu xin một gian gác xép áp mái hay thứ gì đại loại như thế; nhưng người chủ quán trọ nhìn tôi, và đã thấy vấn đề là gì. Tôi đang tựa vào tường và run rẩy. Lão rống lên, bảo chúng tôi hãy xéo đi; lão không muốn dính dáng vào những chuyện như thế này. Tôi nằm lên một cỗ xe ngựa thấp ở trong sân. Tôi không thể đi tiếp được, họ có suỵt chó ra đuổi thì cũng thế thôi. Người nông dân chủ nhân của cỗ xe ngựa đó đến, và anh ta thấy không hài lòng; nhưng Mathilde, cô ta nói chuyện với anh ta một lát, thế là anh ta tiếp tục đánh xe chầm chậm đi vào thành phố. Mathilde đi bộ bên cạnh cỗ xe ngựa. Tôi cảm thấy không biết phải làm sao; tôi nghĩ giá mình chết quách đi cho rồi - chết hẳn đi! Bánh xe xóc nảy trên những hòn đá, còn tôi thì gào rú. Người nông dân nói anh ta hết chịu nổi rồi. Lúc đó chúng tôi đã vào ngoại ô thành phố, thế nên họ lôi tôi xuống khỏi xe, và đỡ tôi đứng. Có một người đàn ông trẻ tuổi trông thấy chúng tôi, và cũng vào giúp một tay. Trời mưa như trút nước, còn tôi thì cảm thấy quá đau đớn. Tôi xin họ hãy vì Chúa mà đưa tôi vào một nơi nào đó, một cái lỗ hay xuống hầm cũng được. Ở góc phố có một nhà hát ca múa nhạc rẻ tiền dành cho dân lao động. Họ kéo tôi qua cửa vào trong một căn phòng nhỏ, ghép hai cái ghế dài lại với nhau, rồi đặt tôi nằm lên đó. Căn phòng đầy những chiếc váy sặc sỡ của diễn viên nữ; một bên là quầy rượu, một bên là thính phòng. Anh có thể nghe thấy tiếng nhạc, tiếng vỗ tay hoan hô và những tiếng cười rống lên. Có vài người đàn bà, mặc những bộ quần áo lụa đính trang kim bẩn thỉu, đi vào và đứng xung quanh tôi, cãi nhau và la hét vì một chuyện gì đó. Ồ, kể tiếp đoạn này cũng chẳng để làm gì. Đứa trẻ đã được sinh ra ở đó, và nó đã chết. Họ cho người đi gọi một viên cảnh sát, cả một ông bác sĩ nữa; nhưng chỉ có người đàn ông trẻ tuổi mà chúng tôi gặp ngoài phố là thực sự tốt bụng và không bỏ mặc tôi trong cơn nguy khốn. Và đó là Adam Larsen.”

“Và anh ta vẫn tiếp tục giúp chị? Và chị đã ở lại với anh ta?” Christian bồn chồn hỏi.

Karen kể tiếp: “Anh ấy là họa sĩ, họa sĩ thật sự, một nghệ sĩ. Gia đình anh ấy ở Jutland; anh ấy gầy và rất đẹp. Vào những ngày đó, tóc tôi có màu giống như tóc anh ấy. Anh ấy có một bà dì sống ở Konigsberg, và anh ấy rất vui lòng sống với bà ta một thời gian, bởi vì anh ấy rất nghèo. Nhưng khi tôi đang nằm trong nhà từ thiện là nơi họ đã đưa tôi đến, thì anh ấy nhận được tin tức từ Copenhagen thông báo rằng anh ấy được nhà nước trả một khoản lương hai ngàn taler trong vòng hai năm. Anh ấy hỏi tôi có thích đi với anh ấy không. Anh ấy định đến nhà một họa sĩ nổi tiếng đang sống đâu đó trên đường biên giới giữa Bỉ và Pháp. Anh ấy muốn học hỏi ông ta, như những người khác đã ở đó. Ôi, anh ấy nói rằng anh ấy thích tôi, và tôi nói rằng tất cả những chuyện này thật tuyệt, và hỏi anh ấy có biết tôi là hạng đàn bà nào hay không. Anh ấy nói anh ấy không muốn biết chuyện gì cả, và tất cả những gì tôi phải làm là tin vào anh ấy. Thế là tôi thầm nhủ, ‘Đây là người có trái tim,’ và dần dần cũng bắt đầu thích anh ấy. Trước đó tôi chưa từng quan tâm đến người đàn ông nào; anh ấy là người đầu tiên, và anh ấy cũng là người cuối cùng. Thế là tôi đi với anh ấy. Ông họa sĩ lớn kia sống trong một ngôi làng ở Pháp, và chúng tôi đã đi đến một thị trấn nhỏ tên gọi là Wassigny cách đó không xa. Larsen thuê một ngôi nhà nhỏ xinh. Sáng nào anh ấy cũng cưỡi xe đạp vào làng; nếu thời tiết xấu thì anh ấy sẽ đi bộ. Ngôi làng đó cách chỗ chúng tôi ở nửa giờ đi bộ. Đến tối thì anh ấy trở về, và chúng tôi sẽ có một bữa ăn nhỏ ngon lành, sau đó là uống trà và tán gẫu. Anh ấy thực sự hăng say, anh ấy nói cho tôi biết anh ấy yêu việc được vẽ tranh ở đó như thế nào – nào cây cối và ruộng đồng, nào nông dân và thợ mỏ, nào dòng sông và bầu trời, và những gì gì nữa tôi không biết. Dĩ nhiên tôi không hiểu; nhưng tôi hiểu rằng trong đời mình chưa từng cảm thấy giống như thế. Tôi không thể tin nổi khi thức giấc vào buổi sáng; tôi không thể tin nổi khi hàng xóm mỉm cười với tôi. Cạnh làng có một cái ao mọc đầy hoa huệ nước, và tôi rất thường hay ra đó thưởng cảnh. Trước đó tôi chưa từng trông thấy thứ gì giống như thế, nên quả thực đã không thể tin nổi. Tôi biết điều đó sẽ không thể kéo dài; nó không thể kéo dài được lâu. Chắc chắn rồi, một hôm vào tháng Tám, Adam nằm liệt giường. Anh ấy đã gặp phải một cơn sốt, nó càng ngày càng tệ hơn; và sáu ngày sau đó thì anh ấy chết. Đó là kết thúc của tất cả mọi chuyện. Đó là kết thúc của tất cả mọi chuyện.”

Hai bàn tay cô ta không ngừng nắm chặt lấy mái tóc, và lần thứ ba cô ta nói: “Đó là kết thúc của tất cả mọi chuyện.”

“Rồi sao?” Christian thì thầm.

Cô ta nhìn chàng, và mọi thớ thịt trên mặt cô ta đều run rẩy: “Sao ư? Ôi, những chuyện xảy ra lúc đó ... lúc đó ...!”

“Chị không thể cách này hay cách khác tìm được đường sống mà không ... mà không ...” Christian lắp bắp, hoảng sợ trước vẻ tức giận mù quáng, trắng dã trên mặt cô ta. Cô ta nắm chặt hai bàn tay và hét lên to đến mức những lời nói dội lại từ những bức tường: “Ôi, lúc đó! Những việc đã xảy ra vào lúc đó!”

Toàn bộ cơ thể cô ta run lên. “Đừng chạm vào tôi,” cô ta nói với một cái giật mình lo sợ.

Christian không hề chạm vào cô ta.

“Đi đi,” cô ta nói. “Tôi mệt. Tôi phải ngủ.” Cô ta đứng dậy.

Chàng đứng ở cửa này, còn Karen thì đứng ở cửa đối diện. Cô ta cúi đầu, và nói bằng giọng thiếu sinh khí: “Thật điên rồ - tôi mà lại nói chuyện với anh như thế - thân mật như thế và tất cả.” Và trên mặt cô ta vừa có vẻ căm thù vừa có vẻ sợ hãi.

Khi chỉ còn lại một mình ở bên cạnh giường, cô ta đắm mình vào trầm tư nhìn tấm hình chụp người đàn bà đeo những viên ngọc trai. Có một lần cô ta quay lại, hoang dại nhìn sang căn phòng bên kia, vào chỗ Christian đã đứng.

Còn Christian thì không thể nào quên được những lời nói của cô ta và cách cô ta nói: “Ôi, lúc đó ...”

XXIX

Weikhardt đã vẽ bức Xuống Khỏi Thập Giá trong hai năm, thế mà vẫn chưa thể hoàn thành xong bức tranh này. Không nỗ lực, không miệt mài, không trầm mặc cô đơn, không tìm kiếm tinh thần nào có thể mang lại cho anh ta cách thể hiện vẻ mặt Chúa Giêsu.

Anh ta không thể sáng tạo ra được vẻ mặt đó - vẻ mặt xót thương và đau đớn.

Anh ta cạo khuôn mặt ra khỏi tấm vải bạt đến hàng trăm lần; anh ta thử nhiều người mẫu; anh ta trải qua nhiều giờ và nhiều ngày nghiên cứu những bậc thầy ngày xưa; anh ta vẽ hàng trăm và hàng trăm bức phác họa; anh ta cố gắng và cố gắng. Tất cả đều vô ích; anh ta không thể sáng tạo ra được nó.

Trong mùa Xuân anh ta đã cưới Helen Falkenhaus, cô gái mà anh ta từng một lần nói chuyện với Imhof. Cuộc sống hôn nhân của họ là một cuộc sống lặng lẽ. Họ nghèo, nên phải hài lòng với cuộc sống rất đạm bạc. Helen chịu đựng mọi thiếu thốn với tính dịu dàng cao cả. Lòng mộ đạo của cô, nó thường khi có một vẻ nồng nàn mong đợi, đã giúp cho cô an ủi được chồng trước ý thức về những gánh nặng và trách nhiệm của anh ta.

Cô hiểu nghệ thuật, cô có một nhận thức cao đẹp về những phẩm chất của nó. Anh ta cho cô xem những bức phác họa của mình, và cô nghĩ nhiều trong số chúng rất đẹp. Thỉnh thoảng cô thấy anh ta dường như đã đến gần hình ảnh mà cả cô cũng thoáng nhìn thấy; nhưng cô buộc phải thừa nhận rằng anh ta chưa bao giờ thực sự thể hiện được nó. Anh ta đạt được vẻ xót thương và đau đớn, nhưng không phải vẻ xót thương và đau đớn của Chúa Giêsu.

Đúng lúc đó, bà bá tước người Ba Lan mà anh ta đã sao chép cho một loạt tranh cùng chủ đề của Luini [Họa sĩ Phục Hưng người Bắc Ý sống vào thế kỷ 15, 16 – ND] đã đến Munich. Một buổi tối, bà ta tổ chức buổi tiêu khiển mà Weikhardt được mời, và anh ta đã trông thấy Sybil Scharnitzer giữa đám đông. Nhiều năm trước anh ta đã trông thấy cô ta trong xưởng họa của một họa sĩ thời thượng. Người hâm mộ và tán dương vây quanh cô ta, nên anh ta chỉ có được một ấn tượng chung chung về nhan sắc của cô ta thôi.

Lần này, cô ta đã thổi vào anh ta một nỗi phấn khích lạ lùng và kỳ diệu. Anh ta biết ngay lập tức rằng mình cần cô ta, rằng giữa cô ta và tác phẩm của mình có một mối ràng buộc huyền bí nào đó. Anh ta tiến lại gần cô ta và thu hút cô ta bằng những lời hùng biện sinh động. Anh ta thận trọng để lộ mục đích của mình. Sau khi mê mải ngắm nhìn dung nhan, điệu bộ, và cái nhìn soi thấu vào tận linh hồn của cô ta, anh ta thấy rõ mình chờ mong gì ở cô ta và cô ta có thể mang lại cho mình những gì. Trong con mắt này, khi nó mở to, anh ta trông thấy cái nhìn quyết định cho đến lúc đó vẫn chỉ lờ mờ trong tâm trí anh ta nhiều hơn. Anh ta cầu xin cô ta hãy ngồi làm mẫu cho mình. Cô ta suy nghĩ một lát rồi nhận lời.

Cô ta đã đến. Anh ta bảo cô ta để trần cổ và đôi vai, và quấn chiếc khăn choàng đen bằng đăngten Venice quanh ngực. Anh ta đứng cạnh giá vẽ của mình, và trong mười phút đã chăm chú nhìn không rời mắt khỏi cô ta. Đôi mi mắt của anh ta hầu như không động đậy. Rồi anh ta cầm lên một mẩu chì than, và vẽ đường bao quanh mái đầu Chúa Giêsu. Sybil kinh ngạc. Một giờ sau đó anh ta cảm ơn cô ta, và đó là những lời nói đầu tiên của anh ta. Anh ta cầu xin cô ta hãy quay trở lại. Đầu tiên cũng kinh ngạc hoàn toàn giống như trước, cô ta chỉ vào tấm vải bạt. Nhưng anh ta chỉ mỉm cười bí ẩn, nói với cô ta rằng mình tiếp cận bằng kỹ thuật quanh co, và xin cô ta hãy kiên nhẫn.

Helen vào khi cô ta đã đi rồi. Anh ta nói cho cô biết về kế hoạch của mình, và lòng tin tưởng của anh ta đã chiến thắng những hoài nghi của cô. Cô đã biết quá khứ của Sybil Scharnitzer, và buổi tối hôm đó đã quan sát cô ta bằng sự soi mói lạnh lùng mà phụ nữ thường có với nhau ở nhà bà bá tước. Cô nhìn bức phác họa được vẽ bằng chì than, rồi im lặng trong nhiều phút. Cuối cùng, dưới cái nhìn dò hỏi của anh ta, cô cụp mắt nhìn xuống, và hỏi: “Có bao giờ một người mẫu lại được che đậy như vậy hay không?”

Weikhardt đã lấy lại vẻ thản nhiên thường lệ của mình. “Sẽ có rất ít người hiểu được chuyến du ngoạn đằng sau những quang cảnh của anh - những họa sĩ thì lại càng không. Anh có thể trông thấy họ đang làm dấu thánh giá và nói ra những lời bình luận mang nọc độc.”

“Điều đó không quan trọng,” Helen nói. “Nhưng khi nói chuyến du ngoạn đằng sau những quang cảnh là anh có ý gì vậy?”

“Ý anh là những quang cảnh được xếp đặt bởi Chúa.”

Helen cân nhắc về điều này, nhưng những lời nói của anh ta đã làm cô tổn thương. Cô nói: “Em có thể hiểu được điều đó nếu như khuôn mặt Sybil thành thật; nhưng chính anh đã nói cho em biết rằng cô ấy là ai và là cái gì. Anh biết rằng đó là một bức bình phong xinh đẹp, với sự trống rỗng ở đằng sau. Và trong sự giả dối hão huyền này, anh nghĩ rằng anh sẽ tìm thấy được điều sâu sắc nhất trên đời - đấng Cứu Thế, đó là mường tượng của anh về đấng Cứu Thế sao? Nó chả phải giống như anh đã tự giao mình cho quyền năng của đích thân sự giả dối sao?”

“Không,” Weikhardt trả lời, “không phải thế. Em không nhìn thấy đủ xa. Mọi thứ gắn bó với nhau chặt chẽ hơn em nghĩ nhiều. Một cơ thể, một yếu tố, một dòng suối ... mỗi thứ đều hòa quyện với tất cả những thứ khác nhiều hơn em nhận thấy. Sự trống rỗng vô hồn trong ngực Sybil Scharnitzer là ánh phản chiếu của một luồng ánh sáng nào đó, và đối với cá nhân anh thì đó là điều cụ thể. Nếu như một hình hài lừa dối anh, thì anh vẫn sẽ biết ơn nó, vì nó ép buộc anh phải sáng tạo ra nội dung từ những điều có trong chính bản thân anh; và giấc mơ sáng tạo là điều lớn lao hơn. Một cọng cỏ có thể là một lời nói dối không? Hay một cái vỏ sò bên bờ biển? Và nếu đủ mạnh mẽ, vô tội và mộ đạo, thì anh sẽ tìm thấy lòng xót thương và nỗi đau đớn của Chúa Giêsu trong từng cọng cỏ và từng chiếc vỏ sò. Có một yếu tố may rủi trong những thứ này, nếu không thì cũng là một hệ thống tôn giáo nào đó.”

Helen không cãi lại anh ta.

Thêm vào giỏ hàng thành công