QUYỂN THỨ HAI: RUTH (VIII)
CHUYỆN TRÒ TRONG ĐÊM
XXIII
Then cửa hẳn phải không được cài. Isolde Schirmacher là người cuối cùng đi ra ngoài. Hoàng hôn vừa buông xuống thì cửa phòng mở ra, và Niels Heinrich bước vào.
Karen không ngồi dậy. Cô ta dò xét nhìn hắn. Cô ta muốn nói, nhưng lời nói dường như tắc nghẹn trong cổ họng khô khốc.
Bộ mặt hắn mang vẻ ghê tởm láo xược như thường lệ. Cái mũi tẹt tọc mạch, lúc nào cũng khụt khịt của hắn có màu vàng. Hắn đội một cái mũ lưỡi trai màu xanh, mặc cái quần dài rộng thùng thình, và quấn một cái khăn choàng màu vàng xung quanh cổ.
Vừa chun mũi như chó hắn vừa nhìn quanh. Rồi hắn nhắm mắt trái lại và nhổ nước bọt.
Cuối cùng Karen cũng lẩm bẩm: “Anh muốn gì?”
Hắn nhún vai, và nhe hai hàm răng bẩn thỉu của mình ra. Hắn có một cái răng vàng lớn, rõ ràng là còn mới, ở cạnh một bên khóe miệng.
“Ồ, cái gì vậy?” Karen lại hỏi. Trong giọng nói của cô ta có nỗi sợ hãi mà giờ đây cô ta rất thường hay cảm thấy.
Hắn lại nhe hai hàm răng cửa hỏng của mình ra. Hình như đó là một nụ cười. Hắn đi lại gần tủ ngăn kéo và kéo một trong những ngăn kéo ra. Hắn thong thả lục lọi những thứ ở trong nó. Hắn lấy ra nào quần áo, khăn quàng cổ, tất dài, áo ngực, và ném chúng xuống sàn. Rồi hắn chuyển sang ngăn kéo thứ hai, thứ ba, và quăng những thứ mình tìm được vương vãi lên sàn nhà. Rồi hắn tiến lại gần tủ quần áo, nhưng nó đã bị khóa. Hắn chìa bàn tay mình về phía cô ta với một cử chỉ ra lệnh biết nói. Karen đã trông thấy cảnh phá hoại và rối tung mà hắn gây ra, nên không đáp lại ngay. Ảo ảnh về cảnh nghèo khổ quay trở lại đã cháy bùng lên trong linh hồn chai sạn của cô ta. Niels Heinrich dường như là sứ giả của nó. Cô ta quá sợ hắn đến mức muốn kêu lên. Hắn nhăn mặt và nhẹ nhàng đu đưa bàn tay mình quanh trục cổ tay. Karen hiểu tính chất ép buộc của cử chỉ đó; cô ta thọc bàn tay vào túi, và đưa chìa khóa cho hắn.
Hắn giật mạnh mở cánh cửa tủ, nhòm vào bên trong, vừa lôi những cái thùng bằng bìa cứng ra vừa lật ngược chúng lại, ném quần áo xuống sàn như đã ném đồ vải lanh, cuối cùng phát hiện ra một hộp gỗ, và cạy nắp hộp bằng con dao của mình. Hắn tìm thấy một cái trâm vàng, cái trâm có đính dòng chữ “Ricordo di Venezia,” và một sợi dây chuyền nhỏ bằng bạc. Hắn nhét ba món đồ này vào trong túi mình. Rồi hắn đi sang căn phòng kế bên, và Karen nghe thấy hắn đi đi lại lại ở trong đó. Không có biểu cảm nào trong đôi mắt nhìn chòng chọc của cô ta. Hắn quay trở lại sau ít phút. Trời đã tối, và trong căn phòng bên kia, ngọn nến mà hắn đã thắp lên vẫn đang cháy. Hắn ném một cái liếc mắt khinh bỉ vào cái nôi lúc đi ra. Hắn không thèm cả đóng cửa ngoài.
Trong ánh sáng lờ mờ phát ra từ căn phòng kế bên, Karen nhìn đống của cải bừa bộn của mình ở trên sàn nhà. Bất thình lình cô ta thọc tay vào trong ngực, lôi ra tấm hình chụp bà Wahnschaffe, và đắm mình trầm tư nhìn nó một cách u ám.
Cô ta trông thấy những viên ngọc trai, chỉ những viên ngọc trai mà thôi.
XXIV
Dưới chân cầu thang bên cạnh cửa ra phố, Niels Heinrich trông thấy hình bóng Ruth Hofmann. Cô đang chờ em trai, cậu này đã đi sang bên kia phố để mua bánh mì. Cậu bé này hơi khập khiễng một chút, và Ruth chưa bao giờ chiến thắng được nỗi sợ hãi rằng cậu ta sẽ bị xe chẹt.
Cô nhìn xuống vỉa hè, sáng lấp lóa dưới những ngọn đèn đường, nhìn ánh sáng phát ra từ những ngọn đèn khác trong những ô cửa sổ, và cuối cùng là nhìn lên cao hơn nữa, nơi cô đã quen với việc trông thấy những vì sao, nhưng giờ đây chỉ có ánh sáng rối loạn màu đỏ nhạt của những đám mây.
Niels Heinrich dừng chân. Ruth nhìn lên hắn bằng đôi mắt lớn màu xám của cô. Hắn ghi nhớ tất cả mọi chi tiết của cái dáng người bé nhỏ kia – mái tóc dày uốn quăn ở phía dưới, chiếc váy tồi tàn bằng vải flannel, đôi giày vấy bẩn, mòn hỏng, và cuối cùng là gương mặt trong sáng, xanh xao, tràn đầy đời sống tinh thần xa lạ. Hắn dán mắt nhìn cô một cách hoang dại, như thể muốn xé toạc quần áo khỏi cơ thể cô. Cô gái, chưa bao giờ rùng mình và ớn lạnh đến tận xương tủy vì một sức mạnh chưa được biết đến như thế, đã quay người đi về phía cầu thang, và bắt đầu ngần ngại bước lên.
Niels Heinrich nhìn theo cô. “Con đĩ Do Thái!” hắn lẩm bẩm từ hai hàm răng nghiến chặt. Một lời chào từ Gisevius đang đi về nhà đã đánh thức hắn dậy khỏi những ý nghĩ của mình. Hắn châm một điếu xì gà, ấn cái mũ lưỡi trai màu xanh xuống gáy, rồi lừ đừ đi xuôi phố.
XXV
Gần cuối tháng Năm, Letitia sinh đôi – cả hai đều là con gái. Stephen có cảm giác rằng việc này có phần hơi quá đáng; tuy vậy, người ta vẫn sửa những bữa yến tiệc. Ngôi nhà và khu vườn được treo những ngọn đèn lồng tươi vui, hàng xóm được mời, và những người bình dân được cho ăn uống. Có âm nhạc, khiêu vũ và những tiếng la hét. Những người anh em của anh ta say rượu và cãi nhau ầm ĩ, và có những cách xử sự hoang dã.
Letitia nằm trên cái giường xinh đẹp của nàng dưới vòm màu xanh da trời. Thỉnh thoảng nàng lại đòi được nhìn hai đứa trẻ sinh đôi. Mỗi đứa được đưa ra ngon lành đang nằm ngủ trên gối. Chúng giống nhau một cách kỳ lạ. Cô bảo mẫu, người có cái tên dịu ngọt là Eleutheria, mang chúng vào - một đứa trên cánh tay phải, một đứa trên cánh tay trái. Một đứa có dải ruy băng đỏ buộc vào vai, đứa kia lại có dải màu xanh lá cây; việc đó là để nhận dạng. Đứa có dải ruy băng màu đỏ được đặt tên thánh là Georgette, đứa kia là Christina. Đó là mong ước của Letitia. Stephen muốn mỗi đứa có thêm một chuỗi những cái tên phong phú và tráng lệ hơn. Anh ta không mệt mỏi lật giờ những trang giấy trong tất cả các cuốn tiểu thuyết và sử biên niên mà mình vớ được, và cuối cùng thì mang lại cho vợ mình một hợp tuyển những cái tên: Honorata, Friedegunda, Reinilda, Roswitha, Portiuncula, Symphorosa, Sigolina, Amalberga. Letitia cười đến chảy nước mắt. Nàng chỉ vào cô bảo mẫu xấu xí và nói: “Chẳng ai có một cái tên đẹp như Eleutheria. Em giữ nguyên ý kiến là Georgette và Christina đấy.” Và nàng đã biết rằng Christina sẽ là đứa con được yêu thương nhất của mình.
Nàng nằm đó trông đẹp quá đến mức mọi người đến ngắm như ngắm tranh. Tất cả những con người này đều thất học và ngu ngốc, thế nên Letitia thấy chán. Thỉnh thoảng nàng chơi cờ với Esmeralda, và cô gái này, sôi lên vì tò mò, hỏi nàng hàng ngàn câu. Lúc Letitia đau đẻ, cô gái này nằm một đống ở ngoài hiên, và trí tưởng tượng thô lậu và dâm dục của cô ta đã tràn đầy những hình ảnh nó vừa cám dỗ vừa làm cho cô ta khiếp sợ. Letitia đã cảm thấy được điều đó nên nói: “Đi đi! Hôm nay tôi không thích cô.”
Nàng tự thấy mình dường như được Chúa thương yêu và được những thiên thần của Người ban phước. Nàng tự hào vì bản thân mình - một con người khác thường được lựa chọn để dành cho một số phận khác thường. Nàng thấy mình dường như đã đổi mới ở tất cả mọi mặt. Nàng yêu bản thân, nhưng trong tình yêu này không hề có tính ích kỷ sống sượng hay nỗi khâm phục vô căn cứ. Nó là điều gì đó giống như lòng biết ơn và niềm vui của người được xem là xứng đáng được nhận những món quà lớn.
Việc nàng có hai đứa con, hai đứa con thật sự với hai bàn tay và hai bàn chân bé bỏng, hai đứa bé có thể vẫy vùng và khóc lóc, có thể được mặc và cởi quần áo, có thể được cho ăn và mơn trớn – không, không phải việc này đã làm nàng ngập tràn hạnh phúc đến thế đâu. Điều làm nàng hạnh phúc là kỳ vọng lớn lên từ hai đứa bé này, là bí ẩn của hai nhân cách còn chưa được định hình, mà sự tồn tại và ra đời bắt nguồn từ chính nàng. Và thế là nàng nằm ở đó, đáng yêu, xinh xắn, thanh thản, buông mình vào những giấc chiêm bao.
Trong khi đó, Stephen và ông già Gunderam lại tiếp tục chiến đấu để giành giật Escurial. “Bản hợp đồng chỉ là một mảnh giấy,” ông già chế nhạo. “Hai đứa con gái không làm thành một thằng con trai. Ta không tìm kiếm số lượng. Hai con gà mái không làm thành một con gà trống.” Stephen gào lên rằng anh ta sẽ không để cho người ta lừa mất quyền thừa kế chính đáng của mình, rằng anh ta sẽ đưa chuyện này ra tòa, và sẽ biến nó thành một chuyện tai tiếng công khai. Ông già, hai tay chống nạnh, không đáp lại mà chỉ cười khùng khục một cách hiểm độc. Cuộc cãi vã cứ thế tiếp diễn, buổi sáng, buổi trưa, và buổi tối. Ông già khóa cửa phòng mình lại, và khiến cho những cái thùng đã được xếp hành lý từ hai mươi năm nay sẵn sàng một lần cuối cùng. Stephen đập vỡ tan tành những cái đĩa và những cái ly, ném những cái ghế, nguyền rủa và hăm dọa, cưỡi ngựa đến gần chết, bản thân cũng bị chấn động, nên đã cho gọi một ông bác sĩ, và được tiêm morphine để được an thần.
Tinh thần đảng phái lên cao. Ông già giành được sự ủng hộ của vợ, nhưng Stephen lại giành được sự ủng hộ của những người anh em mình. Anh ta khích động đám người hầu nổi loạn, và Dona Barbara phải rít lên chửi bới chúng. Những cuộc cãi vã ngày càng gay gắt hơn; ban đêm tràn đầy những tin đồn kinh khủng. Có lần tiếng nổ của một khẩu súng lục đã vang lên, và tất cả mọi người đều lao ra khỏi nhà. Không thấy Stephen đâu. Anh ta nằm trên giường rên rỉ với một khẩu súng lục ổ xoay bốc khói. Anh ta đã nhằm vào trái tim mình thế mà lại bắn trúng một lọ thuốc. Những mảnh vỡ của nó nằm trong một vũng chất lỏng màu vàng ở trên sàn. Ông già nói: “Tao không bất ngờ với việc một thằng luật sư thậm ngu ngốc không thể bắn thẳng được. Nhưng bắn trật lất như rứa thì chỉ có thể là cố tình.” Thế là Dona Barbara không thể không nhận xét: “Chỉ có một gã Gunderam mới có thể nói được một điều ghê tởm đến thế!” Và hai ông bà già này đã cãi nhau đến tận bình minh.
Stephen càng ngày càng lệ thuộc vào việc sử dụng morphine nhiều hơn. Khi không ở dưới tầm ảnh hưởng của nó, anh ta hành hạ cả con người lẫn con vật. Những người anh em của anh ta cuối cùng cũng phải kháng cự lại những lời lăng mạ mà anh ta chất đống lên đầu họ. Họ bày ra một âm mưu, nhảy xổ vào anh ta rồi nện cho một trận đến mức đã khiến cho anh ta phải rống lên như con trâu. Letitia lao đến giúp anh ta, và gọi những người hầu nam đến. Tiếp theo sau đó là một trận đánh nhau như thường lệ. “Đừng bỏ rơi anh,” Stephen rên rỉ, và nàng phải ngồi xuống bên cạnh anh ta, nói với anh ta những lời an ủi xuất phát từ đáy sâu nỗi khinh bỉ của mình. Anh ta nhờ nàng đọc thơ cho mình nghe, và nàng đồng ý. Nàng không đọc những bài thơ mình thích, mà những vần thơ dễ dãi, sướt mướt của những nhà thơ hạng hai. Trong số mười lăm hay mười sáu cuốn sách làm thành thư viện của cái gia đình này, có một cuốn tuyển tập thơ Đức nhờn mỡ và cổ lỗ sĩ. Nàng đọc nó, và Stephen nói: “Ôi ngôn từ mới đẹp làm sao!” Và anh ta khóc.
Nhưng vào những khi khác, anh ta lại đối xử với nàng bằng tính lạnh lùng và khinh miệt; bởi vì, suy cho cùng, anh ta thấy nàng dường như mang tội về tất cả những thất bại và rắc rối của mình. Letitia hoàn toàn không quan tâm; nàng đã quyết định rồi. Ý chí nàng được tiếp thêm sức mạnh nhờ chính nỗi khiếp sợ mà ngôi nhà này và những cư dân của nó, gia đình này và cuộc sống của nó, mảnh đất này và toàn bộ bầu không khí của nó đã khiến cho nàng phải cảm thấy. Mỗi khi Stephen muốn hôn mình, là nàng liền tái mét mặt mày, và nhìn anh ta như thể anh ta đã mất trí. Sau đó anh ta sẽ tức giận, và đe dọa nàng bằng cái roi da bò. Nhưng nàng đã học được cách mỉm cười nó thuần hóa được anh ta và giành được niềm tin tưởng trong lòng anh ta.
Lúc đó, Friedrich Pestel đã ở Buenos Ayres được sáu tuần lễ. Nàng đã bí mật liên lạc thư từ với anh ta. Cậu bé Anhđiêng từng hộ tống nàng đến đài thiên văn là người đưa tin trung thành và cẩn trọng của nàng. Nàng đã hứa sẽ đưa cậu ta sang châu Âu, bởi vì đây là giấc mơ to lớn của cậu ta. Eleutheria cũng mong muốn như thế, và đã thề sẽ mãi mãi tận tụy, khi Letitia, cẩn thận và dần dần từng bước, trao cho chị ta niềm tin tưởng của nàng. Tất cả mọi chi tiết về cuộc bỏ trốn đã được bàn bạc với Friedrich Pestel. Letitia sẽ phải có mặt ở Buenos Ayres vào cái ngày khi con tàu hơi nước Dom Pedro của Bồ Đào Nha giong buồm ra khơi. Một âm mưu rối rắm cần phải được tiến hành để đưa hai đứa trẻ sinh đôi vào thành phố. Letitia nghĩ ra được một kế hoạch rất thông minh; nó giống như cốt truyện của một cuốn tiểu thuyết trinh thám vậy.
Sống ở kinh đô có hai vợ chồng già không con, Senor và Senora Herzales. Ông già này là một người anh em trai của Dona Barbara, và sự giàu có của ông ta, sau khi ông ta chết, sẽ rơi xuống đầu những đứa trẻ nhà Gunderam. Nhưng vì cả lão ta lẫn bà vợ của lão đều là những kẻ hà tiện thuộc loại bẩn thỉu nhất, thế nên người ta vẫn luôn lo rằng có thể do một ý thích bất chợt hoặc trong một cơn thịnh nộ nào đó mà họ sẽ lập di chúc bất lợi cho những người bà con của họ. Trong nhiều năm, họ đã không viết thư cho nhà Gunderam. Không có mối liên hệ cá nhân nào cả ngoại trừ việc Stephen và những người anh em của anh ta thỉnh thoảng vẫn đến thăm họ theo nghi lễ. Dĩ nhiên, Letitia biết rõ tất cả những điều trên. Nàng viết giả mạo một lá thư, làm như nó được gửi tới từ Senora Herzales, trong đó bà già này bày tỏ nguyện vọng muốn được gặp gỡ người vợ trẻ của Stephen và những đứa con của nàng, và, để hai vợ chồng ông bác có thể làm quen được với nàng tốt hơn, lá thư yêu cầu Letitia phải đến một mình, dù không phản đối việc một tuần sau đó Stephen sẽ đến đón nàng về.
Lá thư này, được Letitia viết một cách thông minh bằng nét chữ không phải của mình, đã đến với dấu bưu điện Buenos Ayres chính cống, và gây ra một cơn xáo động to lớn trong đại gia đình nhà Gunderam. Một cuộc họp gia đình long trọng đã được tổ chức; lòng tham và nỗi sợ hãi đè bẹp mọi do dự. Dona Barbara đọc cho Letitia viết một bức thư đồng ý khiêm nhường và biết ơn, trong đó nàng được cho phép định ngày giờ mình sẽ đến. Letitia đã thành công trong việc ngăn chặn không cho bức thư này được gửi đi.
Vào cái buổi sáng định mệnh đó trái tim nàng đã đập như một cái đồng hồ báo thức. Cỗ xe ngựa bốn bánh ọp ẹp chạy ra; Eleutheria leo lên ngồi vào trong nó; hai đứa trẻ sinh đôi đang ngủ được trao cho chị ta. Stephen xem xét cỗ xe, kiểm tra yên cương, và ân cần vỗ nhẹ lên mấy con ngựa. Cậu bé Anhđiêng mang hành lý xách tay ra, xếp lên xe một cách gọn ghẽ, rồi bình tĩnh leo lên ghế đánh xe. Don Gottfried, Dona Barbara, Esmeralda và những người anh em của cô ta long trọng chờ đợi Letitia. Năm phút trôi qua, rồi mười phút rồi hai mươi phút, thế mà vẫn chẳng thấy Letitia đâu. Stephen càu nhàu, Don Gottfried bật lên một tiếng cười chế nhạo, còn Dona Barbara thì dữ dội liếc mắt nhìn lên những ô cửa sổ phòng Letitia. Cuối cùng nàng cũng xuất hiện.
Vào giây phút cuối cùng, nàng đã không tìm thấy cái túi nhỏ đựng nữ trang của mình. Chúng là tài sản duy nhất của nàng. Nàng không có một đồng tiền nào cả.
Với một nụ cười rạng rỡ, nàng lần lượt bắt tay từng người một, cho phép anh chồng hôn lên chóp cằm mình, và kêu lên bằng giọng có phần hơi khàn khàn, kéo dài và ai oán: “Xin đừng quên tôi, và hãy nhắc cha Theodore nhớ đến tôi!” Ông này là một thầy tu Capuchin, thỉnh thoảng vẫn đến trang trại này để ăn xin. Nàng nhắc đến ông ta vào khoảnh khắc đó chỉ là do một ý thích vui nhộn bất chợt nảy ra mà thôi.
Mặt trời mùa Đông biến mất trong sương mù. Letitia nghĩ: “Nơi mình sắp đến đương mùa Hạ.”
Hai mươi bốn giờ sau đó nàng đã đứng với Friedrich Pestel trên boong tàu Dom Pedro, đôi mắt hạnh phúc nhìn lại dải bờ biển đang dần khuất.
XXVI
Gã xà ích rống lên, nhưng đã quá muộn. Một cạnh của cỗ xe ngựa lạch cạch chất nặng những thanh thép đã va vào cậu bé khập khiễng và hất ngã cậu ta. Một đám đông hình thành, và một viên cảnh sát đội mũ sắt gạt đường đi xuyên qua nó.
Christian vừa mới rẽ ngoặt ở góc phố thì trông thấy cậu bé đang nằm đó. Chàng tiến lại gần, và những người đàn bà tránh đường cho chàng đi. Lúc cúi xuống nhìn cậu bé, chàng thấy cậu ta chỉ bất tỉnh mà thôi; cậu ta đang động đậy và đã mở mắt ra. Cậu ta dường như cũng không chấn thương gì. Cậu ta lo lắng nhìn quanh, rồi hỏi về món tiền mà mình đã nắm trong bàn tay trước khi ngã. Nó gồm hai mươi hoặc ba mươi đồng kền, giờ đây đang nằm rải rác trong bùn.
Christian giúp cậu bé đứng dậy, rồi lau khuôn mặt vấy bùn của cậu ta bằng chiếc khăn tay trắng của chàng. Nhưng với cậu bé, việc lấy lại số tiền kia quan trọng hơn, dù cho cậu ta không thể cúi xuống và hầu như không thể đứng nổi. “Hãy kiên nhẫn cho đến khi cỗ xe đi,” Christian nói với cậu ta, và ra hiệu cho gã xà ích đánh xe đi. Gã này đang cãi nhau kịch liệt với viên cảnh sát. Nhưng khi viên cảnh sát thấy không có gì nghiêm trọng, thì ông ta cũng bảo gã xà ích hãy đi đi, và chỉ ghi lại tên gã cũng như tên cậu bé. Cậu bé là Michael Hofmann, em trai Ruth.
Christian cúi xuống, và nhặt những đồng tiền ra khỏi vũng bùn. Những người đứng xem kinh ngạc trước cảnh một quý ông quần áo bảnh bao cúi xuống nhặt những đồng kền ở trên phố. Một số đã nhận ra chàng. Họ nói: “Anh ta sống với Gisevius ở đằng kia.”
Bây giờ, cuối cùng thì Ruth cũng vội vàng chạy đến. Cô đã bị Niels Heinrich Engelschall làm cho khiếp đảm ở chỗ của mình. Cô đã chờ trên cầu thang cho đến khi hắn biến mất. Rồi cô đi xuống và nghe thấy tiếng huyên náo ở trên phố, và nghĩ chắc có liên quan đến gã đã chòng chọc nhìn mình với vẻ láo xược hoang dã đến thế. Cô lại do dự rồi không biết linh tính thế nào mà tiến lên phía trước.
Cô đã không quá hoảng loạn, cô che giấu nỗi khiếp sợ của mình. Cô hỏi han em trai bằng giọng vui mừng. Tiếng Đức của cô rất trong sáng và hoàn hảo, và cô nói rất nhanh, líu lo trong cổ họng như chim.
Sau khi nhặt những đồng xu lên, Christian nói: “Bây giờ đếm xem đã đủ chưa nào.” Nắm lấy cánh tay cậu bé, chàng dẫn cậu ta đi qua đường vào nhà. Ruth nắm lấy cánh tay kia của em trai mình, và cứ như thế họ đi lên cầu thang. Họ đi vào một căn phòng có vẻ trống trải vì quá lớn, dù có hai giường, một bàn, và một tủ quần áo. Đó là căn phòng duy nhất của nơi ở này. Có một căn bếp ở sát vách.
Michael ngồi xuống giường, vẫn còn hơi choáng váng sau cú ngã. Cậu ta khoảng mười bốn tuổi, nhưng những nét mặt căng thẳng và đôi mắt nồng nhiệt trông có vẻ già hơn tuổi nhiều.
Christian đặt những đồng tiền lên bàn. Chúng không phát ra âm thanh nào, do dính đầy bùn. Ruth nhìn Christian, lắc đầu thương xót, rồi vội vàng vào bếp lấy một mảnh vải ướt để lau bộ quần áo vấy bùn của chàng. Cô quỳ xuống trước mặt chàng. Chàng lùi lại, nhưng cô không hiểu vì sao, nên bò theo bằng hai đầu gối. Thế là chàng không cưỡng lại nữa, và cảm thấy mình có vẻ hơi ngu ngốc một chút lúc cô hăm hở và khéo léo lau quần dài cho mình.
Bất thình lình cô ngước mặt lên nhìn chàng. Cái nhìn của chàng đang đậu trên bàn, nó rải rác đầy những cuốn sách. “Những cuốn sách kia là của em sao?” chàng hỏi.
Cô trả lời: “Tất nhiên rồi.” Và cô nhìn chàng bằng đôi mắt sáng ngời ánh công nhận ngay thẳng về mặt tinh thần sự tương đồng nội tâm giữa họ một cách đáng ngỡ ngàng. Vẻ kiêu căng mà trước đó Christian vẫn quen lấy để che giấu linh hồn mình biến mất khỏi mặt chàng. Nhưng ngay cả như thế thì chàng vẫn nhận thấy có điều gì đó nó khiến cho chàng tức giận với chính bản thân mình, chàng thấy nó dường như thiếu tự nhiên và ngớ ngẩn, và làm mình tràn đầy nỗi sợ hãi một điều gì đó xấu xa và ghê tởm với chính đôi mắt mình. Bởi vì chàng thấy mình dường như đã trông thấy một vết đẫm máu trên trán cô gái kia.
Chàng nhìn sang hướng khác trong cơn kinh hãi, và cưỡng lại được niềm thôi thúc muốn nhìn lại. Nhưng khi đã lấy lại được tự chủ và nhìn xuống cô, thì chàng chẳng trông thấy gì nữa. Chàng thở phào nhẹ nhõm, nhưng nhíu mày tức giận với chính mình.
