QUYỂN THỨ HAI: RUTH (VII)
CHUYỆN TRÒ TRONG ĐÊM
XX
Crammon khát khao muốn có một người bạn. Người đã mất không bao giờ có thể thay thế được. Niềm hy vọng có lại chàng vẫn âm ỉ bên trong, nhưng khoảng trống trong tim ông thật là hoang vắng và lạnh lẽo. Cho một người vào đó trọ dường như là khôn ngoan và hẳn sẽ kích thích.
Franz Lothar von Westernach là người đầu tiên đòi được vào đó. Họ đã đồng ý bằng thư rằng sẽ gặp nhau tại ngôi nhà ở nông thôn của Franz Lothar ở Styria, thế nên đầu mùa Xuân Crammon đã rời khỏi Vienna. Tại Nurnberg ông bỏ rơi một cô Herkinson xinh đẹp nào đó là người đã cho ông đi nhờ xe từ suối nước khoáng.
Ông nói với một người quen mà ông tình cờ gặp trong toa ăn trên xe lửa, “Tôi không còn chịu đựng nổi sự ầm ĩ mà những người trẻ tuổi luôn luôn tạo ra. Bây giờ thì những người dịu dàng và trong sạch mới thu hút được tôi. Thập kỷ thứ năm của cuộc đời chúng ta yêu cầu những lối sống êm ái hơn.”
Crammon gặp Franz Lothar khi anh này đang trong một cuộc vật lộn tâm thần dữ dội nhất. Em gái Clementine của anh ta muốn anh ta kết hôn. Cười cợt nhưng bất lực, anh ta đã giãi bày tình thế này với Crammon. Em gái anh ta đã chọn được một cô gái trong một gia đình danh giá, và chắc chắn rằng cuộc hôn nhân này sẽ tạo được một ảnh hưởng lành mạnh lên sự nghiệp của anh trai mình, cũng như lối sống thiếu chắc chắn và lười biếng của anh ta. Tất cả mọi sự chuẩn bị đã được thu xếp, và cha mẹ cô gái trẻ này đã âm thầm bày tỏ thái độ hoàn toàn tán thành.
Crammon nói: “Đừng để họ đánh lừa con, con trai ta. Chuyện này không thể có kết quả nào khác ngoài hổ thẹn. Ta không đích thân biết cô gái đó. Nhưng cô ta là một con ma cà rồng đấy. Tổ tiên của cô ta là những tên hiệp sĩ ăn cắp khét tiếng nhất trong thời Trung Cổ. Sau đó họ xung đột với đế chế vì tàn bạo với nông nô. Con có thể tưởng tượng tương lai của con sẽ ra sao rồi đấy.”
Franz Lothar thấy rất vui. Nỗi tức giận của Crammon trước cái ý nghĩ lại bị cướp mất người bạn này, cũng bằng cái cách ngu ngốc kia, thật là vô cùng hung dữ và vượt quá tất cả mọi giới hạn của tao nhã. Ông đối xử với Clementine bằng sự im lặng gay gắt. Nếu như có bất cứ cuộc tranh cãi nào nổ ra, thì ông sẽ sủa vào cô như một con chó phẫn nộ.
Chính tính do dự và sợ thay đổi của Franz Lothar đã cứu Crammon thoát khỏi những cuộc xung đột gay gắt hơn. Một hôm, anh ta thông báo cho cô em gái thất vọng của mình biết rằng anh ta hoàn toàn chưa sẵn sàng cho một bước đi quan trọng như thế, và cầu xin cô hãy chấm dứt những sự dàn xếp.
Sự xoay chuyển tình thế này làm cho Crammon thỏa mãn, nhưng không mang lại cho ông sự bình yên trong tâm trí rõ ràng, dứt khoát nào. Ông muốn ngăn chặn khả năng xảy ra một cuộc tấn công tương tự như thế vào sự mãn nguyện của mình. Việc hay nhất có lẽ là gả chồng cho chính Clementine. Việc này sẽ không dễ. Cô ta không còn quá trẻ nữa; cô ta đã có kinh nghiệm và biết cuộc sống rồi; cô ta có con mắt tinh đời và rất khôn ngoan. Cần phải thực sự tập trung thì mới được. Ông suy nghĩ tìm một ứng cử viên, và sự lựa chọn của ông rơi vào người đàn ông có tài sản đáng kể, dòng dõi cao sang và tiếng tăm không chê vào đâu được, Cavaliere [Hiệp sĩ - tiếng Ý – ND] Morini. Nhiều năm trước ông đã làm quen với anh ta qua bạn bè ở Trieste [Thành phố hải cảng ở Đông Bắc nước Ý – ND].
Ông bắt đầu vun trồng cho cuộc sống của Clementine. Những giai thoại nhỏ xinh về hạnh phúc hôn nhân, nỗi khát khao xao xuyến và mái ấm gia đình tuôn ra từ đôi môi ông. Ông thấy cô ta rất nhanh lĩnh hội. Ông buột miệng thốt ra, như thể tình cờ, những lời gợi ý nhắc đến tình bạn giữa mình với một quý ông người Ý lỗi lạc khác thường và đầy tài năng. Ông xây dựng nhân vật này bằng sự tỉ mẩn của một người nghệ sĩ, và biến ông cavaliere ưu tú đó thành một hình tượng nổi bật. Sau đó ông viết thư cho Morini, làm như cực kỳ quan tâm đến sức khỏe của ông này, nhắc lại những giờ phút họ đã trải qua cùng nhau, giả vờ vô cùng khát khao mong đợi được gặp lại ông ta, và hỏi thăm về những kế hoạch của ông ta. Không khó để đề cập đến Clementine và ngợi ca những phẩm chất đáng ngưỡng mộ nơi cô ta ngay khi mối quan hệ thư từ này phát triển một cách mạnh mẽ.
Morini đớp mồi. Ông ta viết thư báo sẽ có mặt ở Vienna vào tháng Năm, và háo hức muốn được gặp Crammon ở đó. Ông ta viết thêm rằng hầu như không dám hy vọng sẽ được gặp nữ nam tước von Westernach cũng vào lúc đó. Crammon nghĩ, “Lão ngốc già!” nhưng ông vẫn thuyết phục Franz Lothar và Clementine hứa sẽ đến gặp mình ở Vienna. Kế hoạch đã thành công; Morini và Clementine thích nhau ngay lập tức. Crammon nói với cô ta, “Cô đã quyến rũ được ông ta hoàn toàn rồi.” Và nói với ông ta: “Ông đã gây được ấn tượng không thể xóa nhòa lên cô ấy.” Hai tuần sau đó việc hứa hôn đã diễn ra. Clementine như thể hồi sinh và tràn đầy biết ơn đối với Crammon. Cái việc ông đã lên kế hoạch thực hiện, khó lòng mà nói là với những ý định trong sáng nhất, lại trở nên một phúc lành thuần khiết đối với cô ta.
Crammon tự ban tặng cho mình sự thừa nhận mà ông cố gắng biến thành quyền lợi. Ông đã hành động cũng hữu ích như bất cứ người nào khác. Ông nói: “Cứ sinh nhiều con vào! Tôi sẽ làm cha đỡ đầu cho đứa con đầu lòng của hai bạn. Dĩ nhiên tôi sẽ kỷ niệm sự kiện đó bằng một bữa tiệc trang trọng.”
Ông còn nói thêm: “Trong những hồ sơ lịch sử tôi sẽ được biết đến như là Bernard Người Sáng Lập. Có lẽ tôi là con cháu nhiều đời của một dòng dõi được trời định cho phải vinh quang – dòng dõi của những ông vua. Ai mà biết được? Nếu như thế thì những bậc tổ tiên xa xôi của tôi, những người được Chúa bảo vệ, sẽ có mọi lý do để phải tôn trọng tôi.”
Nhưng tất cả những việc này chỉ là ánh chớp dối trá của niềm phấn khích thoảng qua thôi. Con sâu nghi ngờ vẫn đào bới tâm trí ông. Ông thấy tương lai dường như đen tối. Ông nhìn thấy trước chiến tranh và cách mạng. Ông không thấy vui vẻ gì với chính mình và với những việc làm của mình. Khi nằm trên giường trong bóng tối, ông cảm thấy những đạo quân xấu xa vây quanh mình; và những đạo quân xấu xa này đánh nhau để giành cơ hội được xé xác ông trước. Rồi ông nhắm mắt lại, và thở dài thườn thượt.
Cô Aglaia, biết được tâm trạng chán nản của ông, rầy la bắt ông phải cầu nguyện chăm chỉ hơn. Ông cảm ơn cô về lời khuyên bảo này, và hứa sẽ nghe theo.
XXI
Điệu waltz mê hoặc nổi lên. Amadeus Voss gọi champagne. “Uống đi, Lucile,” hắn nói, “uống đi, Ingeborg! Đời ngắn lắm, mà xác thịt thì đòi hỏi niềm vui; và tiếp theo sau đó là nỗi hãi hùng của địa ngục.”
Hắn tựa người vào ghế và mím môi lại. Hai cô gái, ăn mặc ngông cuồng đúng kiểu gái làng chơi Berlin, cười khúc khích. “Ông bác sĩ nhỏ xinh lại điên rồi,” một trong hai cô nói. “Anh ta lại nói cái quái gì thế nhỉ? Điều đó có nghĩa là khiếm nhã hay kinh khủng vậy? Em không bao giờ biết được đâu.”
Cô kia nhận xét với vẻ không tán thành: “Anh ta đã có một bữa chiều tuyệt hảo, anh ta đang hút một điếu Henry Clay, anh ta đang có những người bạn xinh đẹp, thế mà lại nói về nỗi hãi hùng của địa ngục. Anh không cần bọn em hay Esplanade cho điều đó đâu! Em không thích những lời nói như thế. Tại sao anh không bình tĩnh lại, thử tỏ ra bình thường, đôn hậu và uống một ít rượu đi nhỉ?”
Cả hai cùng cười. Voss chớp mắt một cách chán chường. Điệu waltz mê hoặc kết thúc bằng tiếng đổ vỡ bất ngờ. Những cánh tay và đôi vai trần, những bộ mặt héo úa của bọn đàn ông trẻ tuổi, vẻ đồi trụy nhăn nheo trên mặt những gã lớn tuổi hơn - tất cả hòa trộn lại trong khói thuốc lá để tạo thành một thứ ánh sáng lập lòe như ngọc trai. Khách du lịch từ ngoài phố bước vào. Họ chòng chọc nhìn vào trong căn phòng chói lọi đó một cách nửa thèm thuồng nửa lúng túng. Sau tất cả, một cô gái trẻ bước vào và đứng ở ngoài cửa. Amadeus Voss nhảy bật dậy. Hắn đã nhận ra Johanna Schontag.
Hắn đi đến gặp cô và cúi chào. Nỗi ngạc nhiên thúc đẩy cô mỉm cười với niềm háo hức mà ngay sau đó cô đã hối tiếc. Hắn hỏi han cô. Cô giật mình, như thể có con gì đó táp vào gan ruột mình, rồi hướng về phía hắn một đôi mắt lạnh lùng. Cô rùng mình trước hắn như đã từng rùng mình. Khuôn mặt cô xấu xí hơn bao giờ hết, nhưng vẻ quyến rũ của toàn bộ con người cô lại càng hấp dẫn hơn.
Cô cho hắn biết rằng mình đến đã được hai ngày. Hiện tại cô đang ở trong một khách sạn, nhưng hôm sau sẽ đến nhà một người bà con ở gần Tiergarten.
“Thế ra cô có những người bà con giàu có?” Voss sống sượng hỏi. Hắn mỉm cười trịch thượng, và hỏi cô định lưu lại trong cái thành phố căng thẳng thần kinh này bao lâu.
Cô nói với hắn rằng có lẽ hết mùa Thu và mùa Đông. Cô nói thêm rằng cô không thấy Berlin căng thẳng thần kinh, chỉ mệt mỏi và tầm thường thôi.
Hắn hỏi liệu mình có thể sớm có cái niềm vui là được gặp lại cô không, và nói rằng nếu Wahnschaffe biết cô đang ở đây, thì thể nào anh ta cũng sẽ đi tìm.
Hắn nói với vẻ lịch sự không cho phép chối từ và vẻ điềm tĩnh thạo đời hình như gần đây mới có. Linh hồn Johanna chùn bước trước hắn. Cô tái mặt khi hắn nêu họ Christian, và nhìn về phía cầu thang như tìm kiếm sự trợ giúp. Những vần thơ ru con nho nhỏ vẫn thường là nơi trú ẩn của cô trong những lúc khó khăn đã đến với cô trong khi lo lắng: “Giá có ai đó tốt bụng và mạnh mẽ đến đây đưa tôi đi.” Rồi cô mỉm cười. “Đúng, tôi muốn gặp Christian,” cô nói bất thình lình; “đó là lý do vì sao tôi đến đây.”
“Thế còn tôi thì sao?” Voss hỏi. “Cô sẽ làm gì với tôi? Tôi sẽ bị vứt bỏ sao? Tôi không thể giúp gì cho cô sao? Chúng ta không thể đi dạo với nhau một lúc sao? Có rất nhiều chuyện phải bàn bạc.”
“Chẳng có gì phải bàn bạc cả,” Johanna đáp. Cô nhăn trán như người đã bất lực và bị dồn vào chân tường. Để thoát khỏi những lời nài nỉ của hắn một cách lịch sự, cô hứa sẽ viết thư cho hắn; nhưng vừa mới thốt ra những lời trên, là cô liền cảm thấy rất khổ sở ngay. Đó là lời hứa khiến cho cô khó chịu vô cùng. Nó làm cô cảm thấy mình giống như thể một nạn nhân; và trạng thái căng thẳng huyền bí mà gã đàn ông này đã gây ra nơi cô làm tê liệt ý chí của cô, tuy nó vẫn có một sự lôi cuốn bệnh hoạn đối với cô.
Voss về nhà bằng ô tô. Tâm trí hắn tràn đầy một ý nghĩ day dứt, bùng cháy: Cô ta đã là người tình của Christian chưa? Từ khoảnh khắc gặp lại Johanna, câu hỏi này đã mang một tầm quan trọng vượt trội trong tâm trí hắn. Nó bao gồm sở hữu và từ bỏ, tính chân thực tối thượng và dối trá; nó bao gồm những kết luận đốt cháy giác quan, và những khả năng đe dọa sẽ trở thành quyết định trong cuộc đời hắn. Những ý nghĩ của hắn chỉ xoay quanh hình ảnh khuôn mặt Johanna, và hắn nghiên cứu nó như một tài liệu bí hiểm. Hắn biện luận, phân tích và mổ xẻ những động cơ và những hành động như một gã thầy cò. Bởi vì người gây ra những tình huống khó khăn, những sự thu hút lạ lùng và tập trung tất cả mọi quyết định về một điểm đó lại bước chân vào cuộc đời đen tối của hắn. Hắn linh cảm thấy những cơn giông tố mà mình chưa từng biết đến.
Sáng hôm sau, khi hắn đã tắm rửa xong và sắp sửa ngồi xuống để ăn sáng, thì quản gia của hắn nói với hắn: “Cô Engelschall đã đến và muốn gặp anh. Cô ấy đang ở trong phòng khách.”
Hắn nuốt vội sôcôla rồi vào phòng khách. Karen đang ngồi bên một cái bàn tròn, nhìn những tấm hình nằm trên đó. Tất cả chúng đều của Christian, đó là những tấm hình chụp bạn bè, phong cảnh và những ngôi nhà, chó và ngựa.
Karen mặc bộ quần áo màu xanh da trời rất đơn giản. Mái tóc vàng của cô ta nằm dưới một cái mũ nỉ xám có dải ruy băng lụa trang trí. Khuôn mặt cô ta gầy rộc, da tái, vẻ mặt u ám.
Cô ta không thèm dùng những lời rào đón mà nói luôn: “Tôi đến để hỏi xem anh có biết mọi chuyện hay không. Anh ta có thể đã nói với anh trước; phải đến hôm qua anh ta mới nói với tôi. Thế anh không biết ư? Thôi được, anh cũng chẳng thể làm được gì. Anh ta đã cho hết tất cả tiền của anh ta đi rồi. Tất cả số tiền mà anh ta có, anh ta đã trả lại cho cha anh ta. Cả phần còn lại nữa, nó đến hàng năm, tôi không biết là mấy trăm ngàn – anh ta cũng từ chối. Anh ta chỉ xin một ít, - chỉ đủ để khỏi chết đói, và, từ điều anh ta đã nói với tôi, thì anh ta không thể tiêu số tiền đó theo cách mình muốn. Và anh biết anh ta là như thế nào rồi đấy; anh ta sẽ không thay đổi. Việc này giống như khi gã kéo chuông đã rung chuông nhà thờ; anh không thể thu tiếng chuông về lại được. Nó làm cho tôi cảm thấy như thể đang gào lên, như thể đang nằm xuống và gào lên. Tôi nói với anh ta: ‘Chúa ơi, anh đã đi đâu và làm gì vậy?’ Thế là vẻ mặt anh ta trông như thể ngạc nhiên khi thấy có người khích động vì một việc nhỏ mọn như thế. Và bây giờ xin hỏi anh: Anh ta có thể làm thế không? Việc đó có thể xảy ra được không? Luật pháp có cho phép như thế không?”
Amadeus nín lặng hoàn toàn. Mặt hắn xám ngoét. Những ánh chớp lóe màu vàng nhảy nhót đằng sau hai mắt kính của hắn. Hắn gạt bàn tay qua miệng hai lần.
Karen đứng dậy đi đi lại lại. “Mọi chuyện là như thế đấy,” cô ta lẩm bẩm, và với vẻ thỏa mãn hung tợn, đôi mắt cô ta nhìn một lượt khắp gian phòng thanh lịch. “Đầu tiên trên ghế đánh xe, sau đó lại lăn trong bụi. Thế đấy. Bây giờ thì tôi có thể mặc cả được rồi – mong rằng chưa quá muộn. Cũng có thể đã muộn rồi, có thể là tôi đã chờ quá lâu. Để xem. Dù sao, tiền thì ích gì với tôi kia chứ? Có lẽ tôi nên đợi thêm một thời gian nữa.” Cô ta bước sang phía bên kia cái bàn, và trông thấy một tấm hình mà mình chưa xem. Đó là tấm hình chụp bà Wahnschaffe trong bộ váy dạ hội đầy đủ lệ bộ, mang vòng ngọc trai nổi tiếng, cái vòng này, dù đã đeo làm hai vòng, vẫn dài đến tận ngực bà ta.
Karen nắm chặt tấm hình, và chăm chú xem nó với hai hàng lông mày nhướng cao. “Ai đây? Giống anh ta. Mẹ anh ta phải không?” Câu trả lời duy nhất của Voss là một cái gật đầu. Cô ta nói tiếp trong nỗi kinh ngạc tham lam: “Xem những viên ngọc trai kìa! Chúng có thể có thật sao? Có thể sao? Ôi trời, chúng hẳn phải to bằng nắm tay của một đứa trẻ!” Có ánh sáng sôi nổi trong đôi mắt vàng vọt của cô ta; hàm răng dưới bé nhỏ xấu xí của cô ta cắn vào môi: “Tôi giữ tấm hình này được không?” cô ta hỏi. Voss không trả lời. Cô ta vội vàng nhìn quanh, rồi bọc tấm hình vào trong một mảnh giấy báo, và cho nó vào dưới áo khoác của mình. “Chúa ơi, sao anh chẳng nói gì cả vậy?” Cô ta ném câu hỏi đó vào Voss một cách thô bạo. “Trông anh như thể địa ngục ấy. Nhưng anh không nghĩ rằng tôi cũng cảm thấy như thế sao? Có lẽ còn nhiều hơn cả anh nữa. Anh cũng có chân để đứng như tất cả chúng tôi mà!” Cô ta bật lên một tiếng cười cay độc, liếc mắt nhìn Voss và căn phòng thêm một lần nữa, rồi đi ra.
Voss ngồi bất động một lúc. Hắn gạt bàn tay qua miệng hết lần này đến lần khác; rồi nhảy bật dậy và hấp tấp vào phòng ngủ. Hắn đi đến bàn trang điểm, trên đó có những món đồ trang điểm quý giá mà Christian đã để lại cho hắn - lược và bàn chải gáy vàng, chai lọ nắp vàng, những chiếc hộp vàng đựng sáp và phấn cạo râu. Voss vội vàng gom những thứ này thành một đống, rồi cho vào một cái túi da, mà hắn khóa cất trong tủ. Rồi hắn quay trở ra phòng khách, và đi tới đi lui với hai cánh tay khoanh lại. Khuôn mặt hắn càng lúc càng co rúm vào như mặt người chết.
Rồi hắn đứng yên, làm dấu thánh giá, và nói: “Đừng dẫn chúng con đến chỗ cám dỗ, mà hãy giải phóng chúng con khỏi điều xấu xa.”
XXII
Một cỗ xe ngựa bốn bánh kiểu cũ đang chờ ở ga. Botho von Thungen leo lên nó. Anh ta lấy mền phủ lên hai bàn chân, vì đêm se lạnh và chuyến đi đến ngôi nhà đó sẽ kéo dài. Con đường băng thẳng qua cánh đồng Brandenburg bằng phẳng.
Botho ngồi thẳng đờ trong xe và nghĩ đến cuộc chuyện trò sắp đến với lão nam tước, ông của anh ta và là người đã cho gọi anh ta đến. Ngài von Grunow-Reckenhausen xứ Reckenhausen là ông chủ gia đình, vị quan tòa sau chót của tất cả mọi tranh cãi và tòa án kháng cáo cuối cùng. Những bản án và mệnh lệnh của ông ta cũng không thể bàn cãi thêm như những bản án và mệnh lệnh của nhà vua vậy. Con trai, con rể và cháu trai của ông ta run sợ trước ông ta.
Những chi nhánh của gia đình này trải xa và rộng. Những thành viên của nó ở trong chính phủ và quốc hội; họ là tướng trong quân đội, những ông địa chủ, những trùm công nghiệp, nữ tu cao cấp giữ chức trợ tế trong nhà thờ quốc giáo, thủ hiến các tỉnh, và quan tòa trong những tòa án tối cao. Sau khi Bismarck chết, lão nam tước già đã rút lui khỏi đời sống công vụ.
Ngôi nhà nằm giữa khuôn viên không được chăm nom của nó, đen tối và sắp điêu tàn. Hai con chó giống Đan Mạch vĩ đại gầm gừ khi chúng hiện ra từ sảnh đón tiếp, nó được chiếu sáng bởi những ngọn nến. Gian sảnh có phần hoang vắng trong đó Botho ngồi đối mặt với ông của anh ta trong bữa ăn tối cũng được chiếu sáng bởi những ngọn nến. Mọi thứ trong ngôi nhà này đều có vẻ ma quái - những tấm thảm treo tường sờn cũ, lớp vữa trát trần nứt nẻ và bụi bặm, những bông hoa khô héo ở trên bàn, đồ sứ thế kỷ mười tám, hai con chó nằm dưới chân lão nam tước, cả chính con người lão nam tước già này cũng không hề kém cạnh, cái đầu nhỏ và bộ mặt hình chữ điền gầy hẹp, hiểm độc của lão ta có những nét tương đồng với Frederick Đại Đế trong những bức họa gần đây.
Họ ở lại trong sảnh. Lão nam tước ngồi xuống một cái ghế bành bên cạnh ngọn lửa. Một lão nô bộc lặng lẽ, tóc bạc ném những khúc gỗ vào lò sưởi, dọn dẹp bàn ăn, rồi đi ra.
“Ngày một cháu sẽ đi Stockholm,” lão quý tộc già tuyên bố, và với một tiếng rên rỉ, quấn tấm áo choàng len chặt hơn xung quanh mình. “Ta đã viết thư cho đại sứ của chúng ta ở đó; cha anh ta là bạn cũ và anh em cùng hội cùng thuyền với ta, chắc chắn anh ta sẽ đối xử tốt với con. Sau khi về Berlin, hãy đến gặp ông bộ trưởng ngoại giao ngay tức khắc. Gửi lời hỏi thăm của ta đến ông ấy. Ông ta biết rõ ta; chúng ta đã cùng nhau ở trên chiến trường vào năm bảy mươi.”
Botho hắng giọng. Nhưng lão nam tước già không mong cũng chẳng đợi một câu ngắt lời. Lão nói tiếp: “Mẹ con và ta đã đồng ý với nhau rằng việc hứa hôn của con sẽ chính thức được thông báo trong vòng ít ngày tới. Mọi chuyện bị kéo rê đủ lâu rồi. Mùa Đông tới hai con phải cưới nhau. Con gặp may đấy, con trai ta. Sophie Aurore không chỉ có một điền trang huy hoàng và một triệu tiền mặt, mà cô ấy còn là một con người xinh đẹp nhất hạng và rất đặc sắc nữa. Trời ơi, thưa ngài, ngài khó mà xứng đáng với điều đó, thế mà ngài hình như lại chẳng đánh giá cao.”
“Con cảm thấy rất gần gũi với Sophie Aurore, và yêu cô ấy vô cùng tha thiết,” Botho rụt rè đáp.
“Con nói vậy, nhưng trông con căng thẳng như con mèo khi trời sấm.” Lão quý tộc già đã nổi giận. “Kiểu nói lăng nhăng như đàn bà và đa sầu đa cảm đó thật là làm phát ốm. Chúng ta không bàn cãi xem anh có yêu cô ấy hay không, mà tôi cũng không hỏi anh điều đó. Hỏi anh về tư cách đạo đức gần đây của anh hẳn sẽ đúng chỗ hơn nhiều. Và nếu như tôi làm thế, thì việc hay nhất mà anh có thể làm là im lặng trong bảy thứ ngôn ngữ, như Schleiermacher quá cố đáng tiếc thương đã từng nói. Anh chạy theo một ả vũ nữ, phí phạm cả gia tài, và hầu như bỏ lỡ thời cơ bước chân vào sự nghiệp. Ồ, tôi hiểu điều đó. Điên rồ, dĩ nhiên. Nhưng tôi cũng đã từng trẻ trung. Trác táng. Nhưng tôi nghe nói rằng anh giao du với những thằng vô sản bẩn thỉu, qua đêm trong những hang ổ nào chỉ có Chúa mới biết, và hay lui tới những cuộc hội họp của Đạo Quân Cứu Rỗi - điều đó vượt quá cả lòng tin lẫn phép tắc lễ nghi. Tôi đã nghĩ rằng tôi sẽ mặc kệ những trò đó, nhưng anh có cái tài chọc tức người khác đấy. Việc tôi muốn làm là thế này: chỉ cho anh những hướng đi rõ ràng và nhận một câu trả lời dứt khoát.”
“Được thôi ạ. Câu trả lời của con là con sẽ không đi Stockholm cũng không cưới Sophie Aurore.”
Lão nam tước già gần như nhảy chồm dậy khỏi cái ghế mình đang ngồi. “Cái gì .....? Anh ..... ? Tôi không .....!” Lão ú ớ.
“Con đã kết hôn rồi.”
“Anh đã ... đã ... cái gì!” Lão già, mặt tái xanh, nhìn chòng chọc anh cháu của mình, rồi đổ sụp xuống cái ghế.
“Cháu đã cưới cô gái mà cháu đã quyến rũ từ ba năm trước. Cô ấy là con gái bà chủ nhà của cháu. Ông biết cuộc sống là như thế nào rồi đấy. Cháu đã về nhà có phần say sưa và mất cảm giác về mặt đạo đức sau một đêm chè chén. Cô gái đó là thợ may trong một nhà may thời thượng. Lúc đó là sáng sớm và cô ấy đã sắp sửa đi làm. Cháu lôi cô ấy vào phòng. Khi cô ấy sinh đứa con của cháu, thì cháu đang ở xa, và quên sự việc trên từ lâu rồi. Cha mẹ cô ấy đã từ cô ấy; đứa trẻ được gửi ra ngoài nuôi và đã chết; bản thân cô gái đó thì càng ngày càng chìm sâu hơn. Đó là một câu chuyện khá thường gặp. Do một sự phân phối không thể tránh khỏi của số phận mà hai tháng trước cháu đã gặp lại cô ấy, và được biết tất cả những sự khốn khổ mà cô ấy đã phải trải qua. Trong khi đó những quan niệm về cuộc sống của cháu đã trải qua một thay đổi cơ bản, chủ yếu là do việc cháu đã gặp gỡ một ... nhân cách kỳ lạ. Cháu đã thực hiện bổn phận của mình. Cháu biết rằng cháu đã mất tất cả - tương lai, hạnh phúc, tình yêu của mẹ và vị hôn thê, những lợi thế do nguồn gốc, và lòng tôn trọng của những con người có cùng địa vị. Nhưng cháu không thể làm khác được.”
Những lời nói âm thầm và kiên định đó của chàng trai trẻ dường như đã biến lão nam tước thành đá. Hai hàng lông mày rậm rịt gần như che khuất đôi mắt ở bên dưới; cái miệng cay nghiệt chỉ còn là một cái hang ở giữa cằm và mũi. “Thế ư?” một lát sau lão nói bằng tiếng khò khè của tuổi già. “Thế ư? Anh đến gặp tôi với một fait accompli [Sự đã rồi - tiếng Pháp – ND] và bằng một cách ghê tởm đặc biệt. Được, được. Tôi không có bất cứ ham muốn tán dóc nào với một thằng ngốc đáng nguyền rủa. Những bước đi cần thiết sẽ được tiến hành. Sẽ không còn trợ cấp nào cho anh nữa, và anh sẽ bị nhốt ở nơi anh thuộc về. May sao ở Phổ có những nhà thương điên, và tôi không phải là hoàn toàn không có ảnh hưởng. Đó hẳn phải là một cảnh tượng đẹp đẽ, chả phải sao, một Botho Thungen công khai đầm mình trong cống rãnh? Một thắng lợi mới dành cho đám Do Thái! Phải, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi không cần phải dừng lại để thông báo rằng từ nay trở đi chúng ta sẽ là người dưng. Dù sao chăng nữa thì anh cũng không cần phải chờ đợi bất cứ một sự suy xét nào. Không may sao mà đêm nay tôi phải chịu đựng sự hiện diện của anh trong ngôi nhà này. Những con ngựa đã quá mệt mỏi không thể quay trở lại nhà ga.”
Botho đứng lên. Anh ta vuốt hai bàn tay vài lần qua mái tóc màu vàng đỏ nhạt của mình. Khuôn mặt tàn nhang của anh ta mang vẻ tái nhợt như chớm ốm. “Cháu có thể đi bộ,” anh ta nói. Nhưng anh ta lắng tai và nghe thấy tiếng mưa rơi như trút nước, và ý nghĩ về một chuyến đi dài lặn lội làm anh ta hoảng sợ. Rồi anh ta nói: “Ông có chắc về sự đúng đắn của mình không? Ông có cảm thấy tuyệt đối chắc chắn về tất cả những điều ông có, làm, và nói không? Cháu không phủ nhận rằng những lời đe dọa của ông đã làm cháu hoảng sợ. Cháu biết rằng ông sẽ cố gắng thực hiện chúng. Nhưng việc đó không thể thay đổi được lòng tin chắc của cháu đâu.”
Câu trả lời duy nhất của lão nam tước là một cử chỉ ra lệnh hướng về phía cánh cửa.
Trong căn phòng đã được chuẩn bị cho mình, Botho ngồi xuống bên một cái bàn, và nhờ ánh sáng từ một ngọn nến, đã viết bức thư dưới đây với cảm xúc mãnh liệt sốt nóng:
“Wahnschaffe thân mến: - Nhiệm vụ khó khăn của tôi đã được hoàn thành. Ông tôi đã ngồi trước mặt tôi vững chãi như một vách đá; tôi đã đón nhận lời tuyên án của ông như một kẻ hèn nhát run sợ. Những tình cảm nồng nhiệt nhất đã bị biến thành lời dối trá trước những con người không thể lay chuyển nổi này, mà thành kiến là luật pháp và đẳng cấp là định mệnh. A, dũng khí của họ trong việc sống như ý muốn! Linh hồn và cái trán sắt đá của họ! Thế mà tôi, tôi là reductio ad absurdum [Phương pháp chứng minh một giả thuyết là sai bằng cách chỉ ra rằng kết quả lô gích của nó là vô lý hoặc mâu thuẫn – ND] của dòng họ nhà tôi; tôi là một đứa con hoang toàng từ đầu xuống chân. Tôi đã đọc được ở đâu đó về một người đàn ông đã chiến thắng Chúa nhờ sức mạnh của sự yếu đuối cùng tận. Phong cảnh ảm đạm này, cuộc sống phương Bắc khắt khe này – nó có thể sản sinh ra điều gì trong vai trò đối thủ của ông Torquemada già đó ngoài một tên cách mạng điên khùng như tôi đây?
“Thời thơ ấu của tôi, tuổi thơ của tôi, tuổi trẻ của tôi, đó chỉ là những đoạn văn trong bài tiểu luận vô tâm về nghệ thuật làm ra vẻ con người không phải là mình, nghệ thuật phấn đấu vì điều chẳng có chút giá trị nào cả. Tôi biết về bản thân tôi cũng ít như nhân quả hạch biết về quả hạch. Tôi lười biếng, chè chén và đánh bạc, biến thời gian thành con điếm, nó phải mua vui cho tôi hoặc phải chịu đựng sự ghét bỏ của tôi. Tất cả chúng ta đều đã mù, điếc và vô cảm. Nhưng có thị lực, thính lực và trái tim là một tội ác. Tôi đã gặp Sophie Aurore và đã yêu cô ấy. Nhưng tôi đã yêu cô ấy một cách không hoàn hảo, bởi vì tôi là một gã đàn ông có những giác quan què quặt. Người ta có quyền chơi bời trác táng, như anh biết đấy; nhưng người ta chỉ có cái quyền đó trước khi gắn bó cuộc đời mình với một con người mà hình ảnh và ký ức quá thiêng liêng không thể bị lôi kéo qua trụy lạc và bùn nhơ. Nhưng một thứ định mệnh nào đó trong cái thế giới điên rồ này đã khiến cho tôi phải chịu ảnh hưởng của Eva Sorel. Lần đầu tiên tôi hiểu một phụ nữ thực sự là gì và tầm quan trọng của cô ấy có thể là như thế nào. Điều đó giúp cho tôi hiểu Sophie và cảm thấy tôi hẳn phải là như thế nào với cô ấy.
“Rồi tôi trông thấy anh, Christian ạ. Anh có nhớ cái ngày khi anh đọc những vần thơ Pháp đó cho Eva và những người khác nghe không? Cái cách anh làm việc đó đã buộc tôi phải nghĩ về anh hết ngày này sang ngày khác. Và anh còn nhớ lúc ở Hamburg anh đã bẻ gãy cái cán bạc của cây roi mà Eva đã dùng để vụt vào mặt bạn anh như thế nào hay không? Tôi đã được mở mắt. Tôi đã lần theo dấu vết của anh; tôi đã tìm kiếm mọi cơ hội để được ở gần anh. Anh không biết điều đó. Tôi tìm kiếm anh khi anh biến mất. Họ bảo tôi anh ở Berlin, và tôi đã tìm và cuối cùng đã tìm được anh, nhưng dưới những hoàn cảnh nào kia chứ? Linh hồn tôi tràn đầy kinh khủng đến mức cả lúc bấy giờ lẫn sau đó tôi đều không thể giải thích cho anh hiểu nổi điều bí ẩn không thể cắt nghĩa được và lực hút lạ lùng nó lôi kéo tôi đến với anh. Hôm nay tôi phải nói hết với anh, và những lời tôi nói với anh mang lại cho tôi sức mạnh.
“Tôi cần được an ủi. Tôi yêu Sophie Aurore và tôi sẽ yêu cô nàng cho đến chết. Lá thư chia tay mà tôi đã phải viết cho nàng là việc cay đắng nhất trong tất cả cuộc đời vô dụng và lầm lạc của tôi. Nàng đã không hồi âm. Tôi đã làm tan nát cuộc đời nàng và chà đạp lên trái tim nàng, nhưng tôi đã cứu sống một cuộc đời khác và giữ cho một trái tim khác khỏi tuyệt vọng. Có phải tôi đã làm đúng không? Trước đây, khi nghe người ta nói về việc hy sinh bản thân mình vì một lý tưởng hay vì một người khác, tôi vẫn luôn thấy rằng việc đó dường như là lắm lời một cách rỗng tuếch. Từ khi tôi biết anh, ý nghĩ đó đã giành được một ý nghĩa vô cùng nghiêm túc. Tất cả những điều này nghe có thể lạ lùng, thậm chí là chối tai đối với anh. Anh không ủ ê suy nghĩ, cũng không tự khiển trách mình về mặt tinh thần; và đó là điều không thể hiểu nổi về anh. Tuy vậy, tôi không biết ai ngoài anh có thể làm người phân xử lương tâm tôi và là người mà tôi có thể hỏi: Có phải tôi đã làm đúng không?”
