QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XLIII)
ĐIỀU TRA
XXXIII
Amadeus Voss nói: “Anh ta sẽ không tham gia vào cuộc xung đột này. Anh ta đã được đặt trước sự lựa chọn cuối cùng. Anh nghĩ: ‘Ôi, chỉ có gia đình mới có thể khiến anh ta quy phục và tuân theo.’ Nhưng ngày nay gia đình là yếu tố sức mạnh quyết định trong nước. Nó là viên đá móng và đỉnh vòm của những thớ tầng và lớp kết tinh ngàn năm. Kẻ coi thường nó là sống ngoài vòng pháp luật; hắn không có chỗ nào để đặt đầu. Hắn được đặt ở vị trí tội phạm vĩnh viễn, và điều đó làm nhụt chí ngay cả người mạnh mẽ nhất.”
“Người nhà anh ta dường như đã gây ấn tượng mạnh lên anh,” Lamprecht nhận xét.
“Tôi bàn về một nguyên tắc còn anh thì nói đến những con người,” Voss đáp, khó chịu. “Hãy bác bỏ tôi trên chính lĩnh vực của tôi, nếu anh không phiền. Thực ra, tôi chưa giáp mặt ai ngoài em trai của Wahnschaffe, Wolfgang. Anh ta mời tôi, bề ngoài có vẻ lấy thông tin, nhưng thật ra là để kiểm tra tôi. Một gã đáng chú ý; điển hình đến mức độ cuối cùng. Anh ta bị xâm nhập bởi tính nghiêm túc không thể lay chuyển của những người đếm mọi thanh ngang của cái thang xã hội và đo tất cả những khoảng cách xã hội đến từng millimetre. Sẵn sàng cho bất cứ chuyện gì; vụ lợi tuyệt đối; không chùn chân trước bất cứ việc gì; tàn nhẫn tự bản chất, và nhất quán nhờ thiếu đầu óc. Tôi không phủ nhận tính chất dễ gây ấn tượng của một hạng người đơn thuần đặc biệt như thế. Anh không thể hình dung ra được bài học trực quan nào hay hơn về tất cả những điều cấu thành nên xã hội hiện thời đâu.”
“Và, dĩ nhiên, anh thay mặt anh Christian, tuyên bố rằng mình khó gần và không thể hối lộ cho những sự phục vụ ngoại giao?” Johanna hỏi, bằng giọng phảng phất cẩu thả. “Phải không?” Cô đi đi lại lại để đặt tấm ván cho Christian, người mình đang vô cùng sốt ruột chờ đợi.
Michael nhìn không rời mắt khỏi mặt Amadeus Voss.
“Tôi chưa bao giờ mơ đến một việc điên rồ như thế,” Amadeus trả lời. “Nghề của tôi là nghiên cứu, chứ không phải rao giảng đạo đức. Tôi đã thôi không hiến tế bản thân mình cho những bóng ma nữa rồi. Tôi không còn tin vào tư tưởng hay chiến thắng của tư tưởng nữa. Theo tôi, trận chiến đã được định đoạt, và hòa bình đã được lập lại. Tại sao tôi lại không nên thẳng thắn thừa nhận điều đó? Tôi đã chấp nhận mọi chuyện. Đừng gọi đó là chủ nghĩa yếm thế; đó là lời tự thú thành thật của bản ngã chân thành trong tôi. Đó là kết quả sự sáng suốt mà tôi đã có được với sự hữu dụng, hiệu quả, với tất cả những gì thực sự và hữu hình giúp đỡ con người. Tôi không cần phải trở thành người tử vì đạo trên thế giới rộng lớn này. Những người tử vì đạo làm rối loạn thế giới; họ xé mở toang địa ngục của những nỗi đau đớn cực độ của chúng ta, và làm vậy một cách hoàn toàn vô ích. Khi nào hay ở đâu có bao giờ nỗi đau được làm dịu bớt hay chữa lành bằng nỗi đau? Ngày xưa tôi từng đi trên con đường của những tiếng thở dài và cây thánh giá; tôi biết việc chịu đựng đau khổ vì những giấc mơ và làm đổ máu vì điều không thể đạt được nghĩa là thế nào; ngực kề ngực tôi đã vật lộn với Satan cho đến khi cuối cùng cũng hiểu rõ: ta chỉ có thể thoát khỏi hắn nếu hiến dâng mình hoàn toàn và không cò kè cho thế giới. Ta cũng không được nhìn lại đằng sau, nếu không, giống như vợ của Lot, sẽ bị biến thành cột muối. Tôi đã chiến thắng quỷ, hay, nếu mấy người thích hơn, chính mình như thế đấy.”
“Đó là, đây là nói giảm nhẹ nhất, một sự biến đổi rất nặng ký và đầy ý nghĩa,” Johanna nói, cắt những chiếc bánh bao nhân nho ra làm đôi rồi phết bơ lên chúng. Những cử chỉ của cô được tính toán kỹ lưỡng sao cho thanh nhàn và quyến rũ.
“Và cuối cùng anh đã nói gì với Wolfgang Wahnschaffe?” Botho von Thungen hỏi. Anh ta ngồi bên cạnh cửa sổ, và cứ chốc chốc lại nhìn ra sân, vì trong lòng anh ta cũng có nỗi khát khao sâu sắc muốn thấy sự hiện diện của Christian. Trong lòng mỗi người họ là cảm xúc tối tăm về sự gần gũi của chàng.
“Tôi chỉ nói với anh ta điều mình nghĩ thôi,” Voss trả lời. “Tôi nói: ‘Việc hay nhất mà anh có thể làm là để cho mọi chuyện đi theo tiến trình tự nhiên của chúng. Anh ta sẽ mắc bẫy của chính mình. Sự chống cự đưa đến sự ủng hộ, sự khủng bố tạo ra ánh hào quang. Tại sao anh lại muốn đặt ánh hào quang lên đầu anh ta? Một cấu trúc nghịch lý phải được phép sụp đổ vì chính trọng lượng của nó. Tất cả những cảnh mộng của thánh Anthony không có sức mạnh biến đổi của một chốc lát tri thức thực sự duy nhất. Không được có bức tường nào quanh anh ta và không có cây cầu nào cho hai bàn chân của anh ta; lúc đó anh ta sẽ muốn dựng những bức tường và xây những cây cầu. Hãy kiên nhẫn,’ tôi nói, ‘hãy kiên nhẫn. Tôi bà đỡ của linh hồn anh ta trên đường cải tà quy chính có thể đảm nhận việc tiên tri; và tôi tiên đoán rằng cái ngày anh ta thèm muốn đôi môi của một người đàn bà không còn xa nữa đâu.’ Vì thú thật tôi dừng lại chủ yếu là vì điều này – cuộc sống không có thần Eros này. Và đó không phải là sự chán chê, không, không phải, mà là một sự từ bỏ thực sự và triệt để. Nhưng hãy để cho thần Eros thức dậy thêm một lần nữa, và thần ấy sẽ tìm được đường trở lại. Ngày đó cũng không còn xa nữa đâu.” Mặt hắn có vẻ tin chắc cuồng tín.
“Sẽ là thần Eros khác, không phải vị thần mà anh nêu tên,” Thungen nói.
Đoạn Michael đứng lên, nhìn Voss bằng đôi mắt nảy lửa, và hét lên với hắn: “Đồ phản bội!”
Amadeus Voss giật mình. “Ê, con sâu nhỏ, mày làm sao thế?” hắn khinh bỉ nói rì rầm.
“Đồ phản bội!” Michael nói.
Voss hăm dọa sấn lại gần nó.
“Michael! Amadeus!” Johanna quở mắng, một cách khẩn khoản, và đặt bàn tay mình lên cánh tay Voss.
Và trong khi cô đang làm thế, thì cửa từ từ mở ra, và cô bé nhỏ Stubbe lặng lẽ lách vào phòng. Váy áo nó vẫn gọn gàng như luôn luôn vẫn thế. Hai bím tóc vàng hoe quấn quanh đầu và làm cho khuôn mặt trẻ thơ đã biết mùi đau khổ của nó trông thậm chí còn già và giống đức mẹ hơn. Nó nhìn quanh, và khi thấy Michael thì tiến lại gần thằng này rồi chìa cho nó một bức thư. Ngay sau đó nó lại ra khỏi phòng.
Michael mở bức thư ra đọc, rồi tất cả màu sắc rời khỏi mặt nó. Bức thư rơi khỏi bàn tay nó. Lamprecht nhặt nó lên. “Cũng dính líu đến bọn anh chứ?” anh ta hỏi, với một linh cảm rõ rệt. “Từ anh ấy phải không?”
Michael gật và Lamprecht đọc lớn bức thư: “Michael thân mến: - anh chọn cách này để nói lời giã từ với em, và xin em hãy chào những người bạn của chúng ta. Bây giờ anh phải đi khỏi đây, và em sẽ không nhận được bất cứ tin tức nào về anh nữa đâu. Đừng để ai cố gắng tìm anh nhé. Anh thấy việc ra đi bằng cách này dường như đơn giản và hữu ích hơn trì hoãn và làm rối loạn điều không thể tránh khỏi bằng những lời giải thích và câu hỏi. Anh mang theo mình ít đồ của anh trong căn hộ của Karen. Có thể cho tất cả vào một chiếc túi du lịch nhỏ. Em có thể cho những thứ còn lại vào chiếc hộp nhỏ trong phòng khác; có ít đồ thiết yếu – vài món đồ vải lanh và một bộ quần áo. Có lẽ anh sẽ thấy có thể bảo gửi những món đồ này theo sau mình, nhưng không chắc. Cho em, Michael, anh sẽ gửi một ngàn mark cho Lamprecht, để em có thể được học thêm một thời gian nữa; cũng có thể dùng khi cần. Ngày mai, khi anh đã gửi, Johanna sẽ tìm được chiếc phong bì đựng hai trăm năm mươi mark được người nhân viên tòa nhà giữ. Có lẽ cô ấy sẽ đủ tốt bụng để dùng số tiền này làm thỏa mãn ít nghĩa vụ mà anh để lại đằng sau. Thêm một lần nữa: Hãy chào những người bạn của chúng ta. Bám vào họ nhé. Giã từ. Hãy can đảm lên. Hãy nghĩ đến chị Ruth. Anh Christian Wahnschaffe của em.”
Tất cả bọn họ đã đứng lên xúm quanh Lamprecht. Lung lay đến tận linh hồn, Lamprecht nói: “Tôi là của anh ấy, bây giờ và trong tương lai, trong tim và tâm trí.”
“Ý nghĩa của chuyện này là sao, và lý do là gì?” Thungen hỏi, trong tính tĩnh lặng rụt rè.
“Đúng là Wahnschaffe,” nghe giọng Voss vang lên. “Dứt khoát và khô khan như điều lệ của cảnh sát.”
“Im đi,” Johanna thở vào hắn, trong nỗi đau của linh hồn cô. “Im đi, Judas [Tông đồ phản Chúa – ND]!”
Không ai nói lời nào nữa. Mọi người đứng quanh bàn, nhưng chỗ đã được đặt cho Christian vẫn trống không. Chạng vạng bắt đầu buông xuống, và họ bỏ đi người này sau người khác. Amadeus Voss tiến lại gần Johanna, và nói: “Mấy chữ cô đã nói với tôi, noi gương thằng nhóc kia, rồi sẽ đốt cháy linh hồn cô, tôi hứa với cô đấy.”
Michael, mê mải vì những thứ ở xung quanh mình, nhìn lên trời bằng đôi mắt xa vắng, sáng rực.
Johanna nói một mình trong nỗi u sầu chán ngán: “Thực hiện lời chỉ đạo trên sân khấu trong những vở hài kịch cũ thế nào nhỉ? Ra. Phải, ra. Ngắn gọn và đáng yêu. Johanna ra. Đi đường mình.” Cô nhìn quanh căn phòng tối lờ mờ lần cuối, rồi, gầy gò và mờ ảo, là người cuối cùng lách qua cửa.
XXXIV
Hai ngày sau, khi Letitia và Crammon đến phố Stolpische, thì họ được cho biết rằng Christian Wahnschaffe đã không còn ở đó nữa. Cả hai căn hộ đều đã bị dọn đồ đạc và rao cho thuê. Cũng không ai có thể cho họ chút ánh sáng nào về việc chàng đã đi đâu hay đang ở đâu. Người nhân viên tòa nhà nói chàng đã cho những người quen của mình biết rằng mình sắp rời khỏi thành phố này. Trước sự không thoải mái của Crammon, một đám đông người nhỏ đã xúm quanh chiếc ô tô, và nghe vang lên những lời nhận xét chế nhạo.
“Quá muộn rồi,” Letitia nói. “Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho chính mình.”
“Ồ không, con sẽ chứ, con ta, con sẽ tha thứ chứ,” Crammon cam đoan với nàng; rồi họ quay trở về với những vương quốc của niềm vui sướng.
Ngay tối hôm đó Letitia đã tự tha thứ cho chính mình rồi. Nàng có thể làm gì với một gánh nặng trái luân lý như thế trên lương tâm? Đó chỉ là một tội lỗi dễ tha thứ. Tiếng leng keng đầu tiên của chiếc cốc, tiếng tưng tưng đầu tiên của cây vĩ cầm, hương thơm đầu tiên của một bông hoa thôi cũng xóa được nó đi rồi.
Nhưng sự lơ là và muộn màng đó gặm nhấm Crammon ngày càng sâu hơn chứ chả chơi. Trong sự dốt nát ngây thơ ông tưởng tượng rằng mình đã có thể ngăn chặn được bước đi tột cùng đó, nếu đến sớm hơn hai hôm. Bây giờ mất mát của ông đã được định đoạt và không thể cứu vãn được nữa. Ông tưởng tượng rằng mình đã có thể đặt bàn tay lên vai Christian và tặng cho chàng ánh mắt nghiêm chỉnh và khiển trách, và Christian, xấu hổ, có thể đã nói: “Phải, Bernard, ông đúng. Đó hoàn toàn là một sai lầm. Chúng ta hãy bảo đi mua một chai rượu vang, rồi cân nhắc làm thế nào để sống vui vẻ nhất trong tương lai thôi nào.”
Như nhà sưu tập kiểm tra những kho báu được thèm muốn canh giữ của mình, cứ mỗi khi Crammon lật giở lại những kỷ niệm trong đời, là hình bóng Christian lại hiện lên trước mắt ông trong một kiểu thoát tục. Đó là Christian của ngày xưa, và chỉ chàng thôi - giữa những con chó trong khuôn viên, trong những đêm sáng trăng dưới cây mã đề, trong những gian sảnh tuyệt mỹ của cô vũ nữ, Christian cười, cười đẹp hơn chàng dắt la ở Cordova, Christian người quyến rũ, người ngông cuồng, chúa tể của cuộc sống – Eidolon.
Ông thấy chàng như thế đó. Ông mang hình ảnh chàng đi xuyên qua thời gian như thế đó.
Và những tin đồn ông không tin đến tai ông. Có những người nghe nói rằng người ta đã trông thấy Christian Wahnschaffe trong khi đang xảy ra thảm họa lớn trong các mỏ ở Hamm. Chàng đã xuống hầm giúp đưa xác người chết lên. Có những người khác đến khẳng định rằng chàng đang sống ở đầu phía Đông London, cùng với những hạng người thấp kém và suy đồi nhất; cũng có những người khác làm ra vẻ như biết rằng người ta đã thấy chàng trong khu người Hoa ở New York.
Crammon nói: “Vớ vẩn, đó không phải là Christian. Diễn viên đóng thế của anh ấy đấy.”
Ông sợ những năm tháng xám xịt đang đến gần như sương mù trên mặt nước.
“Con nghĩ sao về ngôi nhà nhỏ trong một thung lũng nào đó ở Carinthian Alps [Dãy núi ở phía Đông dãy Alps ở Áo – ND]?” một hôm ông hỏi Letitia. “Một ngôi nhà nhỏ xinh xắn và khiêm nhường. Con sẽ trồng rau và chăm sóc những bông hoa hồng và đọc những cuốn sách mình yêu thích nhất, nói tóm lại, con sẽ được an toàn và bình yên.”
“Tuyệt,” Letitia trả lời, “thỉnh thoảng tôi sẽ thích đến thăm ông đấy.”
“Tại sao lại thỉnh thoảng? Tại sao không biến nó thành nơi ở suốt đời của con?”
“Nhưng ông sẽ mang theo cả hai đứa bé sinh đôi, người hầu và bác gái nữa chứ?”
“Ta e rằng cần phải có một chiếc cánh đặc biệt thì mới làm được việc đó đấy. Không thể nào.”
“Và thêm nữa ... tôi phải thú thật với ông rằng Egon Rochlitz và tôi đã đi đến một thỏa thuận. Chúng tôi sẽ kết hôn với nhau. Vì thế nên sẽ có thêm một người nữa đấy.”
Crammon im lặng một lát. Rồi ông khó chịu nói:
“Ta tặng con lời nguyền rủa của ta. Con không biếu ta thứ thay thế nào cả.”
Letitia mỉm cười biếu ông bờ má mình.
Ông hôn nàng với vẻ dè dặt của người cha, và nói: “Da con mượt như vỏ quả mơ vậy.”
