QUYỂN THỨ HAI: RUTH (III)
CHUYỆN TRÒ TRONG ĐÊM
Cô ta chẻ củi bằng cây rìu nhỏ của mình, và, không biết chúng tôi đang ở ngoài ngưỡng cửa, nói một cách chua chát và báng bổ về tình trạng bụng mang dạ chửa của mình: cô ta không muốn có thêm một đứa trẻ hư nữa; cô ta kinh sợ nó; nó nên bị bóp cổ ngay từ hơi thở đầu tiên. Những lời nói của cô ta vô cùng tục tĩu – không thể viết ra đây. Rồi Wahnschaffe vào phòng, nhấc Isolde Schirmacher lên khỏi cái ghế của cô ta, rồi bế cô ta, như thể chẳng còn chút trọng lượng nào, sang căn phòng kế bên, rồi đặt cô ta lên giường. Rồi anh ta quay lại, và nói với người đàn bà kia: ‘Để đấy, Karen,’ và nhận lấy cây rìu nhỏ từ bàn tay cô ta và chất đống số củi đã chẻ. Người đàn bà kia hoảng sợ. Cô ta vâng lời anh ta, và lặng im, như thể lời nói đã chết trong mình. Việc này tôi đã tận mắt chứng kiến, và từ bức tranh đó cô có thể thấy được bản chất của người đàn bà này và mối quan hệ giữa Wahnschaffe và cô ta.
“Trong tôi không còn yên ổn nữa. Máu không ngừng tuôn ra từ một vết thương vô hình trên thân thể của thế giới. Tôi kêu gào một cái bình để chứa đựng nó, nhưng chẳng ai mang đến cho tôi một cái bình như thế. Hay tình trạng đau ốm và vết thương đó nằm ở bên trong tôi? Có điều gì như bóng hình ao ước thân thể của nó không? Có thể hình dung được rằng điều không thể tưởng tượng nổi đã xảy ra, và tuy vậy kẻ đã ước ao, nức nở, vật lộn, và cầu nguyện cho nó xảy ra bây giờ lại không thể nhận ra nó hay không? Có một định mệnh lạ lùng nào đó trong tất cả nó. Bây giờ tôi đã học được cách rút ra trái cây trong thối nát, đắng cay trong ngọt ngào, hương thơm trong hôi hám, có hại trong vô hại. Và tôi cũng đã học được các chi đu đưa trong những cái hốc của chúng như thế nào, đốt sống gắn với đốt sống, cơ bện vào cơ, dây chằng lớn lên trên dây chằng, tĩnh mạch co giãn và bộ não phân tầng như thế nào. Tôi có thể mở cỗ máy đồng hồ ma thuật và thọc bàn tay mình vào cái cơ chế mãi mãi cứng nhắc đó. Có những sự bồi thường; nhưng luôn luôn tại những cánh cổng ảm đạm của sự hiện tồn tôi phải trả khoản phí vào cửa của mình để đến những vùng đất tươi sáng hơn. Hôm trước tôi gặp một cảnh mộng: Cô đứng cùng tôi bên cạnh xác một người trẻ tuổi, và bảo tôi hãy cắt vào trái tim vẫn còn sống thêm chốc nữa sau khi thân thể chứa đựng nó đã chết và phập phồng dưới con dao của tôi.
“Đó là điều mà tôi muốn nói thêm với cô. Cùng với nó tôi xin được chấm hết.”
Johanna ngồi với bức thư đó suốt đêm đến tận sáng. Một cơn bão tháng Ba quét qua ngôi nhà. Căn phòng trinh bạch của cô, với những tấm rèm lụa trắng và đồ đạc tráng men trắng của nó, đối với cô dường như đã trần trụi và bị lục lọi. Vì ngày mai cô sẽ phải rời xa nó mãi mãi.
VII
Người chết và bị thương nằm trên những cái sofa bọc nhung đỏ trong nhà hàng. Họ đã được đưa đến đây một cách vội vã, và người ta đang cố gắng cứu những người còn sống. Những luồng gió băng giá hòa trộn với tuyết thổi vào qua những ô cửa mở. Ngoài phố người ta vẫn đang bắn những phát đạn tùy tiện, lính tráng phi ngựa qua lại hết tốc lực, một đội bộ binh hiện ra rồi biến mất. Khách khứa lảng vảng bên những ô cửa sổ. Một hầu bàn người Đức nói: “Họ đặt những khẩu đại bác bên sông Neva [Sông ở Tây Bắc nước Nga – ND] rồi.” Một quý ông mặc áo bành tô lông thú vội vàng bước vào nói: “Kronstadt [Thành phố cảng biển nằm trên đảo Kotlin ở Nga, cách Saint Petersburg 30 km về phía Tây – ND] cháy rồi.”
Tại một trong những gian sảnh dùng cho những bữa yến tiệc dành riêng cho giới nhà giàu, có một vị khách nổi bật do bá tước Tutchkoff mời đến, một trong những người bạn của đại công tước Cyril. Có huân tước Elmster và phu nhân, bá tước Somerset, bá tước và nữ bá tước Finkenrode, những quý ông thuộc đại sứ quán Đức và Áo, hầu tước du Caille, và các hoàng thân Tolstoi, Trubetzkoi, Szilaghin, và phu nhân của họ.
Đại công tước và Eva Sorel đến muộn. Bữa ăn chiều kết thúc rồi, và cuộc chuyện trò chung đã ngừng lại. Những cặp đôi thì thầm. Công tước, ngồi giữa công nương Elmster và hoàng thân phu nhân Trubetzkoi, đã ngủ gục. Dù cho khách khứa có sôi nổi thế nào, việc này thỉnh thoảng vẫn xảy ra; mọi người đều biết, và đã quen với nó.
Dù đã ngủ, tư thế của ông ta vẫn thẳng thớm và cẩn thận. Thỉnh thoảng mi mắt ông ta giần giật; nếp nhăn trên trán hằn sâu đến mức dường như có màu đen; bộ râu không màu của ông ta như dương xỉ trên vỏ cây. Người ta có thể nghi ngờ rằng ông ta giả vờ ngủ để lắng nghe; nhưng trên những nét mặt của ông ta là một sự lỏng lẻo nó phô ra những bắp thịt không bị điều khiển của giấc ngủ, và cho bộ mặt ông ta mượn dung mạo của một con vượn cáo. Một viên kim cương duy nhất, to bằng quả phỉ, lấp lánh trên bàn tay gầy guộc, quá dài, đang nằm nghỉ ngơi trên khăn trải bàn, và, cũng giống như mi mắt ông ta, đôi khi lại giần giật.
Tâm trạng bồn chồn đã len lỏi vào giữa đám người này. Khi những khẩu súng trường ở bên ngoài lại bắt đầu bắn cành cạch, thì nữ bá tước Finkenrode trẻ tuổi đứng dậy và hướng ánh mắt hoảng sợ về phía cánh cửa. Szilaghin tiến lại gần bà ta, và động viên bằng một nụ cười. Một sĩ quan trong đội bảo vệ bước vào, và thì thầm báo cáo với Tutchkoff.
Eva và Wiguniewski ngồi hơi tách ra một chút, ở trước tấm gương cao phản chiếu hình ảnh tái nhợt của họ và một phần căn phòng.
Wiguniewski nói với cô ta: “Không may sao mà tin đồn đã được xác thực. Không ai nghĩ chuyện này có thể xảy ra.”
“Tôi nghe nói ông ta đang ở Petrograd [Tên cũ của Saint Petersburg – ND],” Eva trả lời. “Thêm nữa, tôi còn đọc được trong một tờ báo Đức cái tin rằng ông ta đã bị bắt ở Moscow. Và chứng cớ của anh đâu? Dựa vào tin đồn mà kết tội Ivan Becker là việc làm hầu như cũng kinh khủng như chính tội ác mà người ta đã tố cáo ông ta vậy.”
Wiguniewski lấy từ trong túi mình ra một lá thư, cẩn thận nhìn quanh, rồi mở nó ra, và nói: “Ông ta viết bức thư này cho một người bạn của mình, cũng là bạn tôi, từ Nice [Tỉnh lị của tỉnh Alpes Maritimes thuộc miền Đông Nam nước Pháp – ND]. Tôi e rằng nó sẽ đặt dấu chấm hết cho mọi nghi ngờ.” Đầy khó nhọc, và với nhiều do dự, anh ta dịch những chữ tiếng Nga đó sang tiếng Pháp. “Tôi không còn là mình của ngày xưa nữa. Những giả thiết của anh không phải là không có cơ sở, và những lời đồn đã không nói dối. Hãy thông báo và xác nhận như thế với tất cả những người đã đặt hy vọng vào tôi và đã trao cho tôi lòng tin cậy dựa trên những điều kiện chắc chắn. Tôi đã trải qua một khoảng thời gian kinh khủng. Tôi không thể đi xa hơn trên con đường cũ và được lựa chọn của mình. Anh đã lầm tin tôi, ngay cả khi một bóng ma đã dẫn tôi đi lầm đường lạc lối. Trường hợp như của tôi đòi hỏi nhiều can đảm và sức mạnh để thú tội một cách thành thực, và để làm tổn thương những người đã đặt lòng tin vào tôi, hơn để leo lên đoạn đầu đài và từ bỏ cuộc sống của mình. Tôi sẵn lòng chịu chết vì những tư tưởng mà tất cả suy nghĩ và cảm xúc của tôi cho đến nay vẫn tận tụy. Tất cả các bạn đều biết điều đó. Bởi vì tôi đã hy sinh cho chúng tài sản của tôi, sự bình yên của tôi, tuổi trẻ của tôi, và tự do của tôi. Nhưng giờ đây khi đã nhận ra rằng những tư tưởng này là những sai lầm mang tính chất phá hoại, thì tôi không được phục vụ chúng thêm một giờ nào nữa. Tôi không sợ cả những lời buộc tội cũng như lòng khinh bỉ của anh. Tôi đi theo ánh sáng bên trong và vị Chúa của lương tâm mình. Có ba chân lý đã dẫn đường cho tôi trong cuộc tìm kiếm của linh hồn mình nó đã dẫn đến sự cải tà quy chính trong tôi: Kháng cự là tội lỗi; thuyết phục người khác kháng cự là tội lỗi; làm đổ máu người là tội lỗi. Tôi biết tất cả những điều hăm dọa mình; tôi biết rằng mình sẽ bị cô lập. Tôi sẵn sàng chịu đựng mọi sự hành hạ. Hãy làm việc anh phải làm, đúng như tôi làm việc mình phải làm.”
Eva nói sau một khoảng im lặng dài: “Đó là ông ta. Đó là giọng điệu của ông ta; đó là quả chuông có tiếng vang không ai có thể cưỡng lại được. Tôi tin ông ta và tôi tin vào ông ta.” Cô ta ném một cái liếc mắt sầm tối vào bộ mặt kẻ đang ngủ bên cạnh bàn ăn lộng lẫy.
Wiguniewski vò nhàu lá thư, rồi hất cằm tới trước bằng một động tác quyết liệt. “Ba chân lý của ông ta,” anh ta đáp, “sẽ có tác động chống lại chính nghĩa của chúng ta như ba sư đoàn quân Cô dắc. Chúng sẽ đủ để làm đầy những địa lao ở cả hai sườn dãy Ural, để làm nhu nhược tuổi trẻ, để chôn vùi những niềm hy vọng của chúng ta. Mỗi chân lý đó là một nhát roi nó sẽ vụt vào trái đất một trăm ngàn tâm hồn đã thức tỉnh. Tội ác ư? Nó còn tệ hơn thế nữa; nó là tấn bi kịch của tất cả vùng đất này. Ba chân lý kia đấy!” Anh ta bật cười qua hai hàm răng nghiến chặt. “Tôi sẽ bắt đầu nói rằng ba chân lý đó và một cái bồn tắm máu sẽ biến những người ở Bethlehem và thánh Bartholomew thành như trò cười. Cô có thể nhìn tôi. Tôi không khóc; tôi cười. Sao tôi lại phải khóc kia chứ? Tôi sẽ về nhà, mời những ông giáo hoàng đến, đưa cho họ thứ giẻ rách này; và để cho họ biến nó thành những tấm bùa hộ mạng để phân phát cho những người đang chờ đợi sự cứu rỗi. Có lẽ chỉ cần như thế thôi là đủ với họ rồi.”
Mặt Eva đanh lại. Một sức mê hoặc độc ác vẫn lôi kéo đôi mắt cô ta hướng về phía bộ mặt người đang ngủ kia. Lượn lờ trên rìa đôi môi cô ta là một nụ cười bệnh hoạn; vùng da trên má cô ta sáng le lói như ngọc mắt mèo. “Tại sao ông ta không được tuân theo mệnh lệnh của linh hồn mình?” cô ta hỏi, và hướng hàng lông mày đầy quyền uy của mình về phía ông hoàng thân trong một khoảnh khắc. “Một người đàn ông hoàn toàn bộc lộ và thể hiện chính mình không tốt hơn hàng trăm ngàn người được giúp đỡ trong cuộc sống thụ động, ảm đạm và tầm thường của họ sao? Ông ta đã nói điều đó bằng cái cách tuyệt vời của mình: ‘Tôi đi theo ánh sáng bên trong và vị Chúa của lương tâm mình.’ Bao nhiêu người có thể làm được điều đó? Bao nhiêu người dám làm? Và bây giờ thì tôi đã hiểu điều mà ông ấy từng nói” – cô ta nhìn xoáy sâu hơn nữa vào bộ mặt người đang ngủ – “‘người ta phải cúi mình trước con người đó!’ Té ra điều đó nằm trong tâm trí ông ấy. Những lưỡi cày xa lạ đang băng ngang qua quả trái đất này của anh, hoàng thân ạ. Chảy trong thân thể bị cứa sâu của nó là dòng suối đen tối mà người ta sẽ thích lao xuống để được tái sinh. Ở đó có một hơi thở nguyên thủy, và hỗn mang; ở đó những thực thể nổi sấm và giấc mơ kinh khủng nhất trở thành hiện thực, một hiện thực sử thi của những thời kỳ thượng cổ. Tôi đã từng không có ý niệm nào về một cuộc sống như thế, ngoại trừ tảng đá hoa cương vĩ đại mang trong mình nỗi thống khổ không tên đã đông đặc lại và vĩnh cửu. Tôi cảm thấy như thể mình đang nhìn xuống lại quang cảnh này từ tầng cao những thế kỷ sắp đến hay từ một vì sao, và như thể tất cả mọi thứ đều là cảnh mộng.” Cô ta nói tất cả những điều trên bằng giọng run rẩy và với nỗi u sầu làm rung động lòng người.
Wiguniewski, người thường xuyên chứng kiến những chuyển biến nội tâm của Eva trong mấy tháng vừa qua, đã không ngạc nhiên trước những lời nói của cô ta. Cả đôi mắt của anh ta nữa, cũng tìm kiếm bộ mặt người đang ngủ. Anh ta nói với một hơi thở sâu, “Hôm qua một sinh viên mười chín tuổi, Semyon Markovitch, đã tự bắn mình trong phòng mình sau khi nghe nói về sự chối bỏ niềm tin của Ivan Becker. Tôi đã đến đó và trông thấy xác chết. Nếu thấy xác cậu bé đó, Eva ạ, thì cô đã nói khác. Dù sao thì cũng hơi khác một chút. Cô đã bao giờ trông thấy một cậu bé nằm trong quan tài của mình với vết thương màu đen nhỏ ở bên thái dương chưa? Cậu ta xinh đẹp và thơ ngây như một cô con gái, thế mà phải trả một cái giá quá đắt để được trải nghiệm nỗi thống khổ không thể tả nổi này và để được ôm ấp nỗi tuyệt vọng sống còn này.”
Một cơn run rẩy băng ngang qua đôi vai của Eva, và cô ta mỉm cười với vẻ sôi nổi hấp dẫn nó khiến cho cô ta có vẻ điềm tĩnh và nhẫn tâm một cách lạ lùng. Ông hoàng thân tiếp tục nói bằng giọng thản nhiên. “Không còn nghi ngờ gì nữa, trong bức thư này có rất nhiều điều cám dỗ. Tại sao một người đàn ông như Ivan Becker lại không nên diễn tả sự tuyệt giao niềm tin của mình một cách đỡ ghê tởm hơn bằng những lời biện hộ tâm lý đáng tin cậy nào đó? Tôi sẵn sàng công nhận với cô rằng ông ta đã hành động không cùng với thói đạo đức giả có ý thức cũng không xuất phát từ động cơ tự tư tự lợi. Nhưng ông ta sẽ không phải là một người Nga chính cống – thiên về tình cảm, lộn xộn, cuồng tín, tự giày vò - nếu như sự chuyển biến của ông ta không phải là để gây ra tất cả những hậu quả chết người của một sự phản bội có hệ thống và toan tính. Ông ta nghĩ cái điều mà ông ta gọi là sự thức tỉnh của mình sẽ phục vụ cho nhân loại. Trong khi đó, do mù quáng và yếu ớt, do hỗn độn và nhiệt tình đạo đức sai lầm, ông ta lao vào móng vuốt của con thú đang chờ đợi một cách độc ác trong mọi góc kín đáo và yên tĩnh của châu Âu để tìm cách phá hoại và hủy diệt. Và việc tôi đang làm lúc này là phán xét một cách nhân đạo nhất. Chúng tôi tình cờ biết được rằng ông ta đã mở những cuộc thương lượng với Hội Nghị Tôn Giáo Thiêng Liêng và đang hăng hái trao đổi thư từ với chính phủ bí mật. Ở Moscow này, cũng như ở Kiev và Odessa, những cuộc bắt bớ đã được tiến hành liên tiếp một cách chóng vánh đến mức hẳn phải do ông ta làm. Trong hoàn cảnh hiện nay, chỉ mình ông ta mới có thể cung cấp được những thông tin mà nếu như không có chúng thì giới cầm quyền hẳn không dám tiến hành những việc đó. Đây là những sự việc nói lên chính mình.”
Eva ấn bàn tay phải lên ngực, và nhìn chòng chọc, như thể bị thôi miên, vào vùng không khí nơi cô ta trông thấy một cảnh mộng nó làm cho cô ta cảm thấy một nỗi khiếp sợ và ngây ngất đang thay đổi một cách nhanh chóng. Đôi môi cô ta chuyển động như thể để đặt câu hỏi, nhưng tự kiềm chế được.
Cô ta nhìn Wiguniewski bằng đôi mắt to, nghiêm trang, và thì thầm: “Đột nhiên tôi cảm thấy một niềm khát khao nó đốt cháy con tim tôi, nhưng tôi không biết là khao khát điều gì. Tôi muốn leo quá thật xa đường tuyết vĩnh cửu trên một ngọn núi; hay đi tàu vào những vùng biển chưa được biết đến; hay bay trên trái đất trong một chiếc máy bay. Không, không phải việc gì như thế. Tôi muốn đi vào một khu rừng, đến ngôi nhà thờ nhỏ đơn độc, quỳ xuống và cầu nguyện. Anh sẽ tiến hành một cuộc hành hương như thế cùng với tôi chứ? Đến một tu viện xa xôi nào đó trên những thảo nguyên?”
Wiguniewski bối rối. Trong những lời nói của cô ta là đam mê và nỗi buồn, nhưng cũng có cả một vẻ thách thức nó làm cho anh ta bị tổn thương. Trước khi anh ta kịp phát biểu một câu trả lời, thì hầu tước du Caille và hoàng thân Szilaghin đã tiến lại gần họ.
Kẻ đang ngủ mở mắt ra để lộ một cái nhìn uể oải.
VIII
Người may y phục và người làm tóc giả đã vào phòng làm việc của Edgar Lorm. Anh ta đang thử trang phục cho vai Petrucchio. Vở “Thuần Phục Mụ Đanh Đá” sắp được diễn với phông cảnh và một dàn diễn viên mới, và anh ta đang háo hức chờ đợi diễn vai người thuần phục mạnh mẽ và trầm lặng đó.
Judith, đang ngồi trên ghế đẩu thấp trong phòng khách vô cùng thanh nhã của mình, hai cánh tay gập lại trên hai đầu gối, vẫn nghe thấy vang vọng giọng anh ta, dù ba cánh cửa đóng ngăn cách giữa họ. Anh ta đang cãi nhau; những người giao hàng và phụ tá luôn luôn làm cho anh ta tức giận. Khó mà làm cho anh ta được hài lòng, bởi vì anh ta cũng đòi hỏi ở người khác điều tự yêu cầu với bản thân mình - nỗ lực căng thẳng nhất và lao động cần cù tận tâm nhất.
Judith buồn chán. Cô ta mở ngăn kéo chứa đầy ruy băng, xới tung lên, thử tác động của những dải ruy băng khác nhau trên mái tóc mình, và tự ngắm mình trong gương với một cái nhíu mày. Cả việc này cũng khiến cho cô ta mệt mỏi. Cô ta mặc kệ ngăn kéo mở và những dải lụa nhiều màu sắc nằm vương vãi khắp nơi.
Cô ta đi xuyên qua những căn phòng, gõ cửa phòng Lorm và bước vào. Cô ta đã phải ngạc nhiên trước vẻ ngoài của anh ta. Trong chiếc áo chẽn nhung trang trí đăng ten, chiếc quần bó chẽn sặc sỡ, chiếc mũ rộng vành cắm cọng lông vũ phiêu lưu mạo hiểm, những lọn tóc giả màu nâu xõa trên hai bờ vai, trông anh ta như một người chiến thắng, đẹp trai, táo bạo, hấp dẫn. Và cách đứng ở đó của anh ta chính là nghệ thuật và trình diễn; toàn bộ thế giới là sân khấu của anh ta.
Như những người lính đang nghiêm, người may y phục và người làm tóc giả đứng trước mặt anh ta, mỉm cười khâm phục.
Judith cũng mỉm cười. Cô ta đã không ngờ sẽ thấy anh ta trong hình hài mới kia, và cảm thấy đầy biết ơn vì trải nghiệm này. Cô ta tiến lại gần anh ta, vuốt ve hai má anh ta bằng những ngón tay mình. Đôi mắt anh ta, vẫn rực cháy ngọn lửa sáng tạo của thi nhân, đòi hỏi niềm khao khát từ cô ta. Anh ta đã quen với việc cô ta sẽ bày tỏ một mong ước nào đó những khi hạ mình xuống một cái vuốt ve. Bằng cánh tay mình, cô ta kéo đầu anh ta xuống một chút rồi thì thầm: “Em muốn mình tặng cho em một món quà, Edgar à.”
Anh ta cười, bối rối và thích thú. Anh ta thấy sự quan sát đôn hậu của hai kẻ xa lạ kia thật vô duyên. Anh ta kéo cánh tay cô ta vòng qua cánh tay mình rồi đưa cô ta vào thư viện. “Mình muốn tôi tặng cho mình cái gì nào, cô bé?” Vẻ hăng hái táo tợn của Petrucchio, đã nhập vào anh ta do việc mặc bộ trang phục đó, đang dần dần biến mất khỏi mặt Lorm.
“Bất cứ thứ gì mình thích,” Judith trả lời, “nhưng phải là thứ gì đó đáng chú ý sẽ làm cho em vui và là thứ mà mình nâng niu.”
Anh ta chép môi, trông vui vẻ và dễ dãi, liếc mắt nhìn quanh mình, cầm lên hết thứ này đến thứ khác, chìa cằm tới phía trước và suy nghĩ, đóng giả toàn bộ các thang bậc tình cảm từ bất lực lúng túng đến sốt sắng băn khoăn, và cuối cùng vỗ trán mình bằng một cử chỉ tinh nghịch và duyên dáng. “Có rồi,” anh ta kêu lên. Anh ta mở tủ nhỏ, rồi vừa cúi mình vừa tặng cho Judith một cái đồng hồ nhãn hiệu Nurnberger rất cổ. Cái hộp đựng nó là một tác phẩm chạm khắc vàng cổ tuyệt mỹ.
“Đẹp làm sao,” Judith nói, và giữ thăng bằng cái đồng hồ trên lòng bàn tay mình.
Lorm nói: “Bây giờ thì hãy tự làm vui mình bằng cách khâm phục nó đi. Tôi phải ra tống khứ mấy gã kia đi đã.” Anh ta rời khỏi phòng bằng những bước chân mau lẹ, nhún nhảy.
Judith ngồi xuống bên bàn làm việc bằng gỗ sồi vĩ đại, nhìn hình trang trí chạm trổ trên đồng hồ, ấn một lò xo nhỏ, và, khi những mặt hình bầu dục của hộp đã bật mở ra, thì nhìn chăm chú vào cỗ máy cổ xưa, vô hồn đó. “Mình sẽ tháo tung nó ra,” cô ta hạ quyết tâm. “Nhưng không phải bây giờ; đêm nay kia. Mình muốn nhìn thấy những thứ ở bên trong.” Và cô ta sung sướng háo hức chờ đợi buổi tối là khi cô ta sẽ tháo cái đồng hồ đó ra.
Nhưng món quà đó, đẹp đến vậy, cũng không đủ cho cô ta. Khi Lorm quay trở lại trong bộ quần áo hiện đại, một quý ông và một người chồng mày râu nhẵn nhụi, thì cô ta chìa hộp đồng hồ mà mình đã lấy vội cỗ máy kia ra rồi, và cầu xin, hay đúng hơn là ra lệnh cho anh ta, người giờ đây đã là một người đàn ông được làm từ đất sét bình thường: “Đổ đầy tiền vàng vào đây, Edgar. Em muốn như thế đấy.”
Cô ta tràn trề tham lam, thèm muốn, khao khát.
Lorm cúi đầu xấu hổ giùm. Anh ta có một chồng nhỏ tiền vàng để trong ngăn kéo bàn làm việc. Anh ta đổ đầy vào hộp đồng hồ rồi trao nó cho cô ta. Rồi anh ta nói, “Hôm nay ông anh trai Wolfgang của mình đã đến, trong lúc mình lái xe đi ra ngoài. Anh ta ở chơi độ một giờ. Bản tính anh ta có vẻ hơi khô khan nhỉ. Việc đó làm cho tôi thấy vui - nỗi khó khăn anh ta gặp phải trong việc xếp đặt anh vào một hạng người nào đó trong xã hội mà anh ta hiểu những lề lối. Anh ta là một kẻ quan liêu bẩm sinh.”
“Anh ấy muốn gì?” Judith hỏi.
“Anh ta muốn hỏi ý kiến mình về Christian. Anh ta sẽ quay lại để làm việc đó.”
Judith đứng dậy. Khuôn mặt cô ta tái nhợt và đôi mắt cô ta lấp lánh. Cô ta biết việc Christian đã thay đổi lối sống qua một cuộc chuyện trò với Crammon trong chuyến viếng thăm của ông này đến Berlin, qua những lá thư của một người bạn cũ, và qua những bức điện được gửi trực tiếp từ cha mẹ của cô ta. Những tin tức đầu tiên đã đánh thức dậy trong cô ta một nỗi giận dữ nó gặm nhấm linh hồn cô ta. Thỉnh thoảng cô ta nghiến răng và giẫm chân khi ở một mình và nghĩ về chuyện này. Những chi tiết sau đó cô ta nghe được đã khiến cho ý nghĩ về chàng làm cho cô ta tràn đầy cay đắng. Nếu như cô ta không sở hữu cái năng khiếu tự ép mình phải lãng quên, cái năng khiếu ra lệnh cho nó hủy diệt những điều mình không mong muốn một cách thành công đến thế, thì hẳn những xung đột nội tâm xoay quanh vấn đề này đã làm cho cô ta phát ốm và ủ ê rồi. Mọi hồi tưởng bắt phải được tôn trọng đều đánh thức dậy trong cô ta nỗi giận dữ đó, và dội ngược lại chống lại chàng là người đã gây ra nó.
Lorm biết và sợ việc này. Vả chăng, bản năng mách bảo với anh ta rằng điều Judith sợ trong những hành động của Christian là một bức tranh biếm họa vẽ chính số phận của cô ta; bởi vì cô ta không giấu giếm anh ta cái việc tự xem mình như người đã tình nguyện đi xuống thấp hơn địa vị xã hội ban đầu của mình. Nhưng anh ta tự nghĩ về bản thân quá khiêm tốn đến mức không oán trách thái độ này của cô ta. Run sợ trước ý kiến của mọi người đã trở nên một phần bản tính cốt lõi của cô ta. Dù cho cô ta không còn được nâng đỡ bởi những yếu tố đã từng nuôi dưỡng ý thức quý tộc của mình, nhưng bản chất cô ta vẫn ăn sâu bám rễ vào chúng, và cô ta cảm thấy mình bị hạ thấp giá trị trong cuộc sống mới của mình.
Nhưng ngay cả điều này cũng không thể giải thích được nỗi cuồng nộ hoang dại mà cô ta không thể cưỡng lại nổi trước bất cứ sự đề cập nào đến cái tên Christian.
Thái độ của cô ta là thái độ của một con mèo bị dồn vào đường cùng. “Tôi không muốn anh ấy quay trở lại,” cô ta rít lên. “Tôi không muốn nghe bất cứ chuyện gì về người đàn ông đó. Tôi đã nói với mình như thế hàng trăm lần rồi. Nhưng mình lúc nào cũng quá mềm yếu, và tham gia vào mọi chuyện. Mình không thể nói với anh ấy rằng tôi sẽ không nghe sao? Lấy xe và lái đến chỗ anh ấy ngay. Cấm anh ấy tuyệt đối không được bước chân vào nhà tôi hay viết thư cho tôi. Mà thôi! Mình là đồ hèn. Tôi sẽ tự viết thư cho anh ấy. Tôi sẽ nói với anh ấy rằng những cuộc đến chơi của anh ấy sẽ luôn luôn là niềm vui đối với tôi, dù cho sự ham thích đột ngột của anh ấy khá kỳ quặc, nhưng tôi sẽ không, dưới bất cứ hoàn cảnh nào, nghe một lời nào về người đàn ông đó.”
Lorm không dám cãi lại cô ta. Anh ta nói với vẻ kẻ cả dịu hiền: “Tôi không hiểu thái độ gay gắt quá mức của mình đấy. Không ai nghĩ ông anh Christian của mình đã làm việc gì đó phạm tội. Anh ấy rất lập dị, lập dị vô cùng. Anh ấy chẳng làm hại ai cả. Anh ấy đã làm gì xúc phạm đến mình? Chẳng phải mình và anh ấy từng rất yêu quý nhau hay sao? Mình đã từng luôn luôn nói về anh ấy với một sự nhấn mạnh trìu mến và tự hào. Tôi không hiểu.”
Cô ta tím mặt và chếnh choáng vì tức giận. “Dĩ nhiên,” cô ta chế nhạo, “mình mà! Có chuyện gì làm mình xúc động không? Mình còn chút lý trí nào cho bất cứ chuyện gì ngoài phấn mỡ [Dùng để hóa trang cho diễn viên trên sân khấu – ND] và những mảnh giẻ rách cũ không? Mình có chút ý niệm nào về việc những chữ đó thay mặt cho điều gì không - những chữ Christian Wahnschaffe ấy? Chúng có nghĩa là gì? Mình trong cái thế giới rỗng tuếch đầy những lời dối trá của mình – mình thì hiểu cái gì chứ?”
Lorm tiến một bước lại gần cô ta. Anh ta nhìn cô ta một cách thương xót. Cô ta lùi lại bằng một động tác ác cảm.
Cô ta đang đánh, đang đánh con cá.
