favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (VI)

CHỐN NGHỈ NGƠI CỦA CHRISTIAN

IV

Cậu bé sầu tình đã bỏ đi. Eva dường như đã quên cậu ta, và gương mặt ngăm đen xanh xao của cô ta không hề thoáng một bóng mờ. Cô ta lại ngồi xuống, và sau một hồi trao đổi những câu hỏi ngắn, kể cho ông nghe một trải nghiệm mà mình từng trải qua.

Lý do cô ta kể câu chuyện này hình như gắn liền với những ý nghĩ mà cô ta không bày tỏ. Cái nhìn của cô ta điềm tĩnh dõi vào nơi xa xăm. Đôi mắt cô ta như không trông thấy bất cứ bức tường ngăn cách nào; không ai dám khẳng định rằng cô ta đang nhìn mình. Cô ta chỉ là đang chăm chú nhìn mà thôi.

Susan Rappard ngồi cạnh lò lát, tựa cằm lên cánh tay, trong lúc những ngón tay, sau khi lướt qua hai bờ má nhăn nheo, nấn ná trong mái tóc màu xám nhạt.

Tại Arles [Thành phố hơn 2500 năm tuổi ở miền Nam nước Pháp – ND] trong xứ Provence [Vùng đất ở miền Đông Nam nước Pháp bên bờ biển Địa Trung Hải gần nước Ý – ND], có một thầy tu trẻ tên là Leotade vẫn thường hay đến thăm Eva. Anh ta chưa quá hai lăm tuổi, cường tráng, một người miền Nam nước Pháp điển hình, dù có phần hơi lầm lì.

Anh ta yêu vùng đất này và biết những tòa lâu đài cổ. Có lần anh ta nói với Eva về một ngọn tháp đứng trên một vách đá, cách thành phố một dặm; anh ta miêu tả quang cảnh nhìn từ đỉnh ngọn tháp đó bằng những lời lẽ nó khiến cho Eva mong mỏi được chiêm ngưỡng. Anh ta đề nghị được làm người dẫn đường, và họ hẹn nhau ngày giờ.

Ngọn tháp này có một cổng sắt bị khóa, và chìa khóa được một người bán rượu vang nào đó giữ. Họ lên đường vào lúc chiều muộn, nhưng trời vẫn còn nóng bức trên con đường không có bóng mát. Họ định quay trở về trước khi đêm xuống nên đi nhanh; nhưng khi đến tháp thì mặt trời đã lặn sau những ngọn đồi.

Đạo hữu Leotade mở cánh cổng sắt và họ trông thấy một cầu thang xoắn ốc hẹp bằng đá. Họ bước lên vài bậc. Rồi anh thầy tu bất thình lình quay trở lại, khóa cánh cổng từ bên trong, và cho chìa khóa vào trong túi cái áo trùm đầu thầy tu của mình. Eva hỏi lý do. Anh ta đáp rằng làm như thế an toàn hơn.

Trong ngọn tháp vòm tối lờ mờ, và Eva thấy ánh đáng sợ trong mắt gã thầy tu. Cô ta để cho gã đi trước, nhưng ở trên một đầu cầu thang gã quay lại ôm chặt lấy cô ta. Cô ta im lặng, dẫu cảm thấy sức ép của những ngón tay gã. Vẫn im lặng, cô ta chuồi người ra khỏi vòng ôm chặt đó, rồi bỏ chạy lên trên nhanh hết sức. Cô ta không nghe thấy tiếng bước chân nào đằng sau mình trong bóng tối, và những bậc cầu thang dường như dài vô tận. Cô ta cứ leo lên tiếp cho đến khi mệt lử, và cô ta khát khao ánh sáng. Bất thình lình vòm trời xanh lục nhạt chiếu ánh sáng yếu ớt vào cầu thang; càng leo lên cao, vòng tròn tầm mắt cô ta càng mở rộng về phía Tây đỏ thắm, và khi đã đứng trên bậc thang cuối cùng và đã ở trên sàn, hiện ra từ mùi mốc meo của những bức tường cổ vào trong cái mát lành thơm ngát, cái muôn màu muôn vẻ và vẻ đẹp đầy màu sắc của trái đất và không trung, thì mối hiểm nguy dường như đã hoàn toàn trôi qua đối với cô ta.

Cô ta chờ đợi, nhìn xuống cái lỗ tối tăm mà mình vừa thoát khỏi. Gã thầy tu không xuất hiện. Sự biến mất đáng ngờ của gã làm thần kinh cô ta căng thẳng đến cực độ. Giờ khắc chạng vạng ngắn ngủi đã trôi qua; tối chuyển sang đêm; không có một âm thanh, một tiếng bước chân nào. Bỗng cô ta chợt nghĩ rằng mình có thể kêu cứu. Cô ta hét gọi xuống đất, rồi hiểu rằng đó là một vùng hoang vắng không người định cư. Và khi tiếng hét yếu ớt của cô ta đã tắt lịm, thì hình dạng đạo hữu Leotade hiện ra trên đầu cầu thang.

Vẻ mặt gã giờ đây thậm chí còn khiến cho cô ta kinh hãi hơn. Gã lẩm bẩm điều gì đó rồi dang hai cánh tay mình ra đuổi theo cô ta. Cô ta nhảy lùi lại, hai bàn tay lần mò phía sau lưng mình. Gã đi theo cô ta, thế là cô ta bèn nhảy lên bức tường lan can, ngồi thu mình lấy đà bên cạnh đỉnh tháp nhọn, gần sát mép ngoài bức tường, đầu và hai vai chồm ra ngoài vực thẳm. Gió thổi thốc vào tấm mạng che mặt quấn quanh đầu cô ta khiến cho nó bay phấp phới tới phía trước như lá cờ. Gã thầy tu đứng im lìm, nhảy chuyển vị trí theo lệnh ánh mắt cô ta. Đôi mắt gã trừng trừng dán chặt vào cô ta, nhưng gã không dám di chuyển vì đã trông thấy vẻ kiên quyết trên mặt cô ta: nếu gã tiến tới, cô ta sẽ nhảy xuống với cái chết của mình.

Tuy vậy ánh thèm muốn điên cuồng vẫn lóe lên trong đôi mắt gã.

Nhiều giờ trôi qua. Gã thầy tu đứng đó như đã hóa thành tượng đồng, trong khi cô ta ngồi thu mình lấy đà trên bức tường lan can, bất động hoàn toàn trừ tấm mạng che mặt tung bay phấp phới, và nhìn gã như nhìn một con chó sói. Những vì sao tụ tập trên bầu trời; thỉnh thoảng cô ta liếc nhìn lên chúng một giây. Chưa bao giờ cô ta ở gần ngọn lửa bất diệt đến thế. Cô ta dường như nghe thấy giai điệu của hàng triệu hành tinh đang ca hát trong quỹ đạo của chúng; tứ chi bất động của cô ta dường như rung lên; đôi bàn tay cô ta dùng để bám chặt vào bức tường thô ráp như đang nâng đỡ cái mái rắn tựa kim cương của vũ trụ, trong khi ở bên dưới cô ta là thứ đã được tạo ra đó, mù quáng và suy sụp bởi đam mê và nguyền rủa một vị Chúa mà nó không giữ lời thề.

Riềm trời bừng sáng dần dần và những cánh chim bắt đầu tung cánh bay lên. Thế rồi đạo hữu Leotade ngã vật úp mặt xuống sàn và bắt đầu lớn tiếng cầu nguyện. Và khi đằng Đông ngày càng sáng hơn thì gã lại càng cất cao giọng cầu nguyện vang rền hơn. Gã bò về phía cầu thang, đứng dậy rồi biến mất.

Cô ta trông thấy gã đi ra khỏi cánh cổng ở bên dưới rồi biến mất vào trong những vườn nho dưới ánh bình minh. Eva phải nằm một lúc lâu trên bãi cỏ ở bên dưới, kiệt sức và đờ đẫn, rồi mới có thể quay trở về thành phố.

“Có lẽ,” cô ta nói, sau khi kể xong câu chuyện của mình, “ai đó đã nhìn xuống từ sao Thiên Lang [Ngôi sao sáng nhất trên bầu trời – ND], một người nào đó sẽ sớm đến và có lẽ là bạn tôi.” Cô ta mỉm cười.

“Từ sao Thiên Lang ư?” Giọng Susan vang lên. “Anh ta lấy đâu ra ngọc trai và vương miện kia chứ? Anh ta sẽ dâng tặng cô những mũ miện nào, những lãnh thổ nào? Không giao du gì với lũ ăn mày cả, dù cho chúng có từ trên trời rơi xuống cũng mặc.”

“Yên nào, đồ Sancho Panza [Nhân vật giám mã ngốc nghếch, lắm lời trong tiểu thuyết bất hủ “Don Quijote nhà quý tộc tài ba xứ Mantra” của đại văn hào Tây Ban Nha Miguel de Cervantes Saavedra – ND]!” Eva nói. “Tất cả những gì em đòi hỏi là anh ta có thể cười, cười một cách tuyệt diệu - cười như anh chàng dắt la trẻ tuổi ở Cordova [Còn gọi là Cordoba, thành phố miền Tây Nam Tây Ban Nha – ND] ấy! Chị còn nhớ anh ta không? Em muốn anh ta cười để em có thể quên đi những tham vọng của mình.”

Đức hạnh của nàng khó lòng xin mấy đồng xu, Crammon nghĩ, và quyết tâm sẽ cảnh giác và tìm kiếm sự an toàn trong khi vẫn còn thời gian. Bởi vì ông cảm thấy trong tim mình một mối nhiệt tình mới mẻ, xa lạ và u sầu, ông biết rõ mình không thể cười được như anh chàng dắt la trẻ tuổi ở Cordova kia và không thể khiến cho một cô gái nhiều tham vọng quên phấn đấu.

V

Felix Imhof đã tới, và cùng với anh ta là Wolfgang Wahnschaffe, một chàng trai trẻ rất cao lớn hai mươi hai tuổi. Ở anh này có cái vẻ thanh lịch nó làm liên tưởng đến một gia tài vô hạn độ. Cha anh ta là một trong những ông vua thép của nước Đức.

Việc Crammon từ chối lời mời của mình làm cho Wahnschaffe khó chịu, mà anh ta thì rất muốn kết bạn với ông. Thèm muốn mãnh liệt nhất bất cứ thứ gì dường như không chịu buông mình vào vòng tay ôm chặt của họ là đặc tính của gia tộc nhà Wahnschaffe.

Họ đến rạp Sapajou, và Felix Imhof thừa nhận rằng nàng vũ nữ quả thực vô song. Những kế hoạch lập tức tóe ra từ tâm trí của anh ta như những tia lửa tóe ra từ tấm sắt bị đập dẹp trong lò rèn. Anh ta nói về việc thành lập một viện hàn lâm Nhảy Múa, về việc thuê một ông bầu cho một chuyến lưu diễn khắp châu Âu, về việc sáng tác một vở kịch câm. Tất cả những việc này phải được làm, có thể nói là thâu đêm.

Họ ngồi với nhau và đã uống nhiều - đầu tiên là rượu vang, rồi đến champagne, rồi đến bia, rồi đến whiskey, rồi đến cà phê, rồi lại đến rượu vang thêm một lần nữa. Uống nhiều cũng chả nghĩa lý gì với Imhof; lúc tỉnh táo nhất thì anh ta cũng ngất ngây như người say.

Anh ta chúc tụng Gauguin [Họa sĩ hậu ấn tượng hàng đầu, sinh ra ở Pháp (thế kỷ XIX – XX) – ND], Schiller [Nhà thơ, nhà soạn kịch cổ điển lớn người Đức (thế kỷ XVIII – XIX) – ND], và Balzac [Đại văn hào người Pháp, tác giả bộ tiểu thuyết “Tấn trò đời” (thế kỷ XIX) – ND], lên kế hoạch thử nghiệm thuyết ưu sinh con người vĩ đại. Đàn ông và phụ nữ hoàn hảo sẽ được lựa chọn và cho giao hợp với nhau để sản sinh ra một nòi giống Arcadia [Vùng đất ở miền Nam Hy Lạp, theo thần thoại Hy Lạp là nhà của thần Pan (vị thần tượng trưng cho thói ham mê chè chén, dục lạc) – ND].

Giữa tất cả những điều trên anh ta trích dẫn những đoạn thơ văn của Keats [Nhà thơ Anh, đại diện tiêu biểu của trường phái lãng mạn Anh thế kỷ XIX – ND] và Rabelais [Nhà văn, bác sĩ, nhà nhân văn người Pháp, ông là ngôi sao rực rỡ trên văn đàn thời Phục Hưng của Pháp – ND], pha trộn mười loại rượu, và thuật lại cả tá giai thoại dồi dào ý tứ từ kinh nghiệm rộng rãi của mình về phụ nữ. Cái miệng có đôi môi dâm dật của anh ta phun ra toàn những lời lẽ đao to búa lớn, đôi mắt lồi như người da đen lấp lánh ý tưởng chợt nảy ra và ánh hóm hỉnh, và cái thân hình gầy gò, gân guốc dường như đau đớn nếu như phải bất động dù chỉ một phút.

Hai người kia gần như ngủ gật chỉ vì mệt mỏi. Anh ta càng lúc càng tỉnh táo và ồn ào hơn, vung vẩy hai bàn tay, đập bàn, nuốt khói thuốc một cách xa hoa, và cười bằng cái giọng trầm vang của mình.

Năm đêm liền trôi qua như thế. Đã quá đủ với Crammon nên ông kiên quyết sẽ ra đi. Wolfgang Wahnschaffe mời ông đến một cuộc săn bắn ở Waldleiningen [Đô thị thuộc bang Rheinland-Pfalz miền Tây nước Đức – ND].

Felix Imhof thình lình xuất hiện trước mắt Crammon lúc mười một giờ trưa. Ở giữa phòng là cái rương khổng lồ đang mở nắp. Đồ vải lanh, quần áo, sách, giày, cà vạt nằm vương vãi xung quanh như những thứ vừa mới được vội vàng cứu thoát khỏi một đám cháy. Bên ngoài cửa sổ lay động những ngọn cây màu vàng rực lửa của công viên Monceau.

Crammon ngồi trong cái ghế bành. Ông chẳng mặc gì ngoài cái quần bó chẽn dài. Ông đã mặc như thế mà ăn sáng, vẻ mặt u sầu. Cái đầu Gothic vuông và thân mình rộng, vạm vỡ của ông như được tạc bằng đồng.

Hôm trước Felix Imhof đã làm quen với Cardillac, người thống trị thị trường chứng khoán Paris, và lúc này đang trên đường đến gặp ông ta. Anh ta định góp đến hai triệu vào một phi vụ làm ăn liều lĩnh của Cardillac, và tạt vào để hỏi Crammon không biết ông có mong cũng mạo hiểm một món tiền nào đó hay không. Chỉ một món cỏn con thôi, năm mươi ngàn franc, là đủ. Cardillac là lão phù thủy có thể nhân ba một số tiền trong vòng ba ngày. Lúc bấy giờ ta sẽ có cái niềm khoái trá của việc tham gia vào cuộc chơi và chờ đợi.

“Lão Cardillac này,” anh ta nói, “là một con người kỳ diệu. Lão bước vào đời là thằng bé sai vặt trong khách sạn. Giờ đây lão là người góp cổ phần chính trong ba mươi bảy tập đoàn, nhà sáng lập ngân hàng Pháp - Mỹ Tây Ban Nha, ông chủ của các mỏ kẽm Le Nère, người ra lệnh cho hàng loạt tờ báo, và sở hữu một gia tài lên đến hàng trăm triệu.”

Crammon đứng dậy, rút từ đống đồ trên sàn ra một tấm áo choàng mặc trong nhà màu tím violet rồi khoác nó lên cái thân hình đang run rẩy của ông. Mặc nó vào trông ông như thể một đức hồng y.

“Anh có tình cờ biết,” ông hỏi, một cách trầm ngâm và ngái ngủ, “hay anh có bao giờ tình cờ trông thấy chàng dắt la trẻ ở Cordova cười như thế nào không?”

Nỗi kinh ngạc không thể kiềm chế của Imhof khiến cho anh ta trông thật ngu ngốc. Anh ta im lặng.

Crammon lấy quả đào lớn từ trên đĩa và bắt đầu ăn nó. Có thể trông thấy những giọt nước trái cây màu hổ phách.

“Chẳng còn cách nào khác,” ông nói và thở dài buồn bã, “tôi sẽ phải đích thân đi Cordova thôi.”

VI

Trên đường đi Wahnschaffe kể cho Crammon nghe về gia đình anh ta: người em gái Judith, người anh trai Christian và mẹ anh ta, người có những viên ngọc trai đẹp nhất châu Âu. “Khi đeo chúng,” anh ta nói, “trông bà như thể một nữ thần Ấn Độ vậy.” Anh ta mô tả cha mình như một người đàn ông tốt bụng với những hậu cảnh không được trông thấy của linh hồn.

Crammon háo hức muốn biết càng nhiều càng tốt về cuộc sống và quá khứ của một trong những gia đình đại tư bản giàu có đã chiến thắng trong cuộc đua với giới quý tộc cũ. Đối với ông, đây dường như là một thế giới mới, một đất nước chưa được khám phá vẫn đang trong giai đoạn ra hoa kết quả và sẽ đáng sợ.

Dù đặt những câu hỏi khéo léo nhưng ông không biết gì hơn. Điều ông biết là mối xung khắc thầm lặng, gay gắt giữa người em trai này và Christian, người mà Wolfgang thấy dường như yêu bản thân đến mức không thể hiểu nổi. Ông được nghe một câu chuyện về hoài nghi và than phiền và khinh bỉ, về những lời mẹ họ nói với một người lạ mặt: “Ông không biết thằng con Christian của tôi ư? Nó là thứ quý giá nhất mà Chúa từng sáng tạo ra đấy.”

Thật khá rẻ tiền khi khen một con ngựa ở trong chuồng, Wolfgang cả quyết, con ngựa chưa từng được gửi đến Derby [Tên một cuộc đua ngựa có nguồn gốc từ Anh – ND] vì người ta nghĩ nó quá quý phái và quý giá. Crammon thấy vui vì sự so sánh thể thao trên. Tại sao thế lại rẻ tiền, ông hỏi, và ý nghĩa chính xác của hai chữ này là gì?

Wolfgang nói hai chữ đó là dành cho Christian, người vẫn chưa tự chứng tỏ được mình bằng cách nào cả, cũng chưa hoàn thành bất cứ việc gì dù đã hai mươi ba tuổi. Chàng đã vượt qua những kỳ thi cuối cùng của mình ở trường cao đẳng một cách khó khăn; chàng không sáng láng trong bất cứ lĩnh vực nào. Không ai có thể phủ nhận rằng chàng có dáng người tuyệt đẹp, tác phong thanh lịch, làn da như sữa hòa với máu. Chàng cũng có, đây là điều không thể bác bỏ, một vẻ quyến rũ quá tinh tế đến mức không người đàn ông hay phụ nữ nào có thể cưỡng lại được. Nhưng chàng lạnh lùng như mõm chó săn và trơn tuột như lươn, lại còn vô cùng hư hỏng và kiêu ngạo cứ như thể toàn bộ thế giới này được tạo ra chỉ vì một mình chàng thôi vậy.

“Ông rồi cũng sẽ đầu hàng anh ta như mọi người khác cho mà xem,” cuối cùng Wolfgang nói, và giọng nói của anh ta có âm điệu gì đó như căm ghét.

Họ đến Waldleiningen vào một đêm mưa tháng Mười. Ngôi nhà đầy chật khách khứa.

Thêm vào giỏ hàng thành công