QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XXXIX)
ĐIỀU TRA
XXVII
Lễ hội đã qua; khách khứa đã đi; trong lâu đài chỉ còn lại Eva và Susan.
Xuân thắm đã đến vùng bờ biển phương Nam đó sớm như thế đấy. Đó là những lễ hội của mùa Xuân giữa vô vàn bông hoa nhiệt đới và phong cảnh ngoạn mục. Cuộc chạy trốn khỏi mùa Đông phương Bắc đã quá mau lẹ đến mức những tác động không phẩm giá nào chịu nổi. Nó làm say sưa tất cả mọi người. Họ buông thả mình vào chỉ niềm sung sướng được thở, vào nỗi kinh ngạc của những giác quan. Một số chỉ cảm thấy mình giống như những kẻ thích chè chén và háu ăn, những người khác thì như tù nhân được phóng thích, và ai cũng biết giấc nghỉ ngơi của mình sẽ ngắn ngủi thế nào; điều đó thở hơi u sầu lên mọi niềm sướng vui.
Không khí vẫn còn vang vọng âm the thé của những lời nói say mê và tiếng bước chân và tiếng cười của phụ nữ; những âm thanh đó vẫn chưa tắt hẳn, và trong đêm bóng tối của khuôn viên im lặng vẫn còn khao khát ánh sáng rực rỡ mà những vì sao trên trời cũng không thể làm nó quên đi.
Nhưng tất cả bọn họ đã đi rồi.
Đại công tước đã nhận lời mời đi săn trên lãnh thổ của ông ta từ một hoàng tử Áo. Trong tháng Tư Eva sẽ gặp ông ta ở Vienna rồi cùng đi đến Florence. Cô ta không mời người bạn nào của mình hãy ở lại lâu hơn, không phụ nữ, không nghệ sĩ, và không hiệp sĩ. Linh hồn Eva lại thực sự thèm muốn được ở một mình. Bốn năm rồi cô ta không được ở một mình.
Eva cảm thấy thậm chí cả Susan cũng đang quấy rầy cô ta. Khi người đàn bà này rón rén đi xung quanh trong nỗi lo lắng ngu ngốc, thì cô ta đuổi bà ta ra khỏi phòng. Cô ta không muốn người khác nói chuyện với mình hay trông thấy mình; cô ta muốn trốn vào cấu trúc pha lê của nỗi cô đơn. Cô ta đã xây dựng, và muốn trải nghiệm hết nó; và bất thình lình cô ta nhận ra rằng nó chia lìa mình khỏi chính mình. Chuyện gì đó xảy ra đã làm cho máu trong tim cô ta nguội lạnh và ốm yếu.
Cô ta không thể đọc hay viết những bức thư hay cân nhắc những kế hoạch. Không giờ nào có vẻ như lớn lên từ một giờ đang sống khác. Suốt ngày cô ta đi dạo một mình bên biển hay ngồi giữa những bông hoa trong vườn. Phần lớn thời gian trong đêm cô ta nằm ngoài hiên không có mái che, mà bầu trời sà xuống như tấm màn nhung xanh dương sẫm ở phía trước. Thường khi bình minh đến trước khi cô ta lên giường. Cô ta có một cảm giác ở bên trong mình như của tổ chức bị nới lòng và những nhịp điệu bị phân hủy. Thỉnh thoảng lại cảm thấy cú châm đốt của nỗi kinh sợ. Ban trưa tỏa sáng trên cô ta như thép; buổi tối là cánh cổng vào nơi xa lạ.
Cô ta đã cấm tất cả mọi lời nhắn. Những bức thư đòi hỏi chút khẩn cấp nào đó sẽ do Susan hay Monsieur Labourdemont trả lời. Tuy vậy sau khi ném một cái liếc mắt tình cờ và lơ đễnh vào bức thư của một người bạn, cô ta thấy điều gì đó về Ivan Becker. Điều đọc được chiếm lĩnh tâm trí cô ta. Nó giống như điềm báo trước và cái vuốt ve của nguy hiểm. Khi cô ta nằm ngoài hiên vào ban đêm, đã có một tia sáng xám xịt lóe lên sau màn trời trong xanh, và sự im lặng thở ra hơi bội bạc.
Lãnh đạo mười lăm ngàn thợ thuyền, tất cả đều trung thành với Nga Hoàng, Ivan Becker đã xuất hiện trước Cung Điện Mùa Đông, để trực tiếp giải thích và hòa giải Nga Hoàng với nhân dân. Những trung đoàn Cossack vây quanh sự thể hiện hòa bình đó, và nó đã kết thúc trong cảnh tàn sát. Nhân dân lại tụ họp, và Ivan Becker giơ hai cánh tay lên trời nguyền rủa Nga Hoàng ở tòa án. Ông ta là kẻ chạy trốn trên vùng đất này, trốn trong các tu viện và túp lều nông dân. Tiếp theo sau đó những người khởi loạn của “Panteleymon” và “Potemkin” gửi cho ông ta một lời nhắn, lệnh cho ông ta phải nhập bọn với họ. Thủy thủ trên hai chiến hạm bất tuân lệnh sĩ quan ở cảng Sebastopol. Họ giết thuyền trưởng và các sĩ quan khác, ném xác xuống biển hoặc vào các đám tàu cháy. Họ chiếm những con tàu, tự bầu sĩ quan, rồi đi ra biển. Không biết Ivan Becker có tuân lệnh triệu tập của những người khởi loạn hay không; không còn dấu vết nào của ông ta nữa. Nhưng nhiều người khẳng định chắc chắn rằng ông ta đã lên những con tàu phiến loạn để trốn sự săn đuổi của cảnh sát chính trị, và có ảnh hưởng khá lớn với đám thủy thủ man rợ này.
Đó là sự xuất hiện lần thứ ba của ông ta giữa nổi loạn và máu.
Các tin đồn được mang lại và lan truyền bởi những người làm vườn, ngư dân, và nông dân. Người ta nói rằng quân khởi loạn đã trở thành cướp biển, rằng họ bắt các tàu buôn và oanh tạc những thành phố. Tên lửa làm rực sáng bầu trời trong nhiều đêm, và nghe vang lên tiếng pháo như sấm rền. Ở bất cứ đâu không cần phải sợ cuộc tấn công của những lực lượng mạnh hơn, người ta nói thế, họ lên bờ cướp phá những thị trấn và làng mạc, giết tất cả những người chống cự, và làm cho tỉnh đó tràn đầy nỗi kinh hãi vào tận sâu trong đất liền.
Eva được cảnh báo. Cô ta được cảnh báo bởi trưởng lão một ngôi làng nằm trên ranh giới khuôn viên của mình; cô ta được cảnh báo bởi những sứ giả do chỉ huy hải quân ở Nicolayev cử tới, những người thông tin cho cô ta biết rằng những thủy thủ khởi loạn đã lên kế hoạch tấn công tất cả những điền trang lộng lẫy ở Crimea, đặc biệt là những điền trang của Đại Công Tước; cuối cùng cô ta được cảnh báo bởi một bức điện nặc danh từ Moscow.
Cô ta không để ý đến những lời cảnh báo đó. Cô ta có cảm giác mình không nên và không được sợ điều này giữa tất cả những điều khác - mối đe dọa từ sự sa sút và vẻ xấu xí. Nên cô ta ở lại; nhưng chuyến lưu lại của cô ta là một sự chờ đợi dài lâu. Niềm tin chắc về việc không thể tránh khỏi đã đến với cô ta. Nó không đến từ quân khởi loạn hay triều đại tội ác của họ, mà từ chính tâm trí cô ta và tính lô gích sâu sắc của mọi sự.
Một buổi tối cô ta leo cầu thang vàng lên tháp. Đăm đăm nhìn từ nền ngang qua những ngọn cây tối tăm và trên đất và biển, cô ta thấy đường phân giới màu đỏ tươi dọc chân trời phía Bắc. Quấn mình trong tấm mạng mỏng nhẹ, cô ta trầm ngâm nhìn vùng sáng đó mà không lo lắng hay tò mò về nguyên nhân phát ra nó. Cô ta có cảm giác thấm thía về sự hiện diện của số phận, và cúi đầu trước nó trong sự cam chịu định mệnh.
Susan đang chờ trong phòng tường vẽ kiểu Ả Rập. Vừa đi đi lại lại bằng những sải chân của một tu sĩ khổ hạnh, bà ta vừa chiến đấu với những nỗi sợ hãi đen tối trong lòng mình. Lửa đang cháy nhỏ. Anh Lucas Anselmo thế nào rồi? Sự nhận thức sâu sắc về ông ta, ý thức sống vì ông ta, không yếu đi trong những năm tháng thành công huy hoàng này. Với bà ta, bây giờ cũng như trước đây, cô vũ nữ tác phẩm của ông ta, mà ông ta đã thổi hơi thở của sự sống và nghệ thuật vào, là người đảm bảo sự tồn tại và thông điệp của linh hồn ông ta. Thế mà bây giờ chuyện gì đang xảy ra? Bóng tối vẫn bò trườn; sinh vật bóng tối do ông ta tạo ra đó gục xuống bằng động tác đáng yêu. Bàn tay tạo ra và điều khiển nó đã hạ xuống và lạnh rồi sao? Hồn ma cao vời đó đã kiệt quệ, không còn đủ sức trồi lên từ xa nữa rồi sao? Kết cục đã đến rồi sao?
Eva vào. Cô ta giật mình trước sự xuất hiện của Susan, và ngồi xuống trường kỷ, mà hoa cẩm tú cầu sặc sỡ đứng tại đầu sáng nào cũng được thay mới. Gió biển đã làm cô ta ớn lạnh. Đôi mắt nghiêm nghị trong hốc sâu hoắm. “Bà muốn gì?” cô ta hỏi.
“Tôi nghĩ chúng ta phải đi thôi,” Susan trả lời. “Trì hoãn thật là ngu ngốc. Đội quân hộ tống nhỏ đang trên đường từ Yalta không thể bảo vệ chúng ta nếu lâu đài này bị tấn công.”
“Bà sợ gì vậy?” Eva lại hỏi. “Sợ người à?”
“Phải, tôi sợ người; và đó là nỗi sợ hãi rất có lý do. Hãy dùng trí tưởng tượng của cô, và nghĩ đến thân xác và giọng nói của họ mà xem. Chúng ta phải đi thôi.”
“Thật ngu ngốc khi sợ người,” Eva khăng khăng, đặt cánh tay lên gối rồi tựa đầu lên bàn tay.
Susan nói: “Nhưng cả cô cũng sợ. Nếu không thì là gì? Chuyện gì đang xảy ra với cô vậy? Có phải sợ không? Cô sợ gì vậy?”
“Sợ ... phải, tôi sợ,” Eva nói rì rầm. “Sợ gì ư? Tôi không biết. Sợ những cái bóng và giấc mơ. Có gì đó đã biến mất khỏi tôi; vị thần bảo vệ tôi đã đi mất rồi. Điều đó khiến tôi sợ.”
Susan run rẩy trước những lời nói để xác nhận trên. “Chúng ta ra lệnh xếp hành lý thôi chứ?” bà ta nhún nhường hỏi.
Phớt lờ câu hỏi của bà ta, Eva tiếp tục: “Sợ hãi lớn lên từ tội lỗi. Bà nghe đây, tôi lang thang quanh quẩn ở đây, và tôi tội lỗi. Tôi cởi phục trang vì nó trói buộc tôi, và cảm thấy tội lỗi của tôi. Tôi vươn tay về phía một trong những bông hoa màu xanh dương đó, và biết tội lỗi của tôi. Tôi suy nghĩ và suy nghĩ, nghiền ngẫm và nghiềm ngẫm, mà không thể dò ra được lý do. Lý do tận cùng, tối thượng – tôi không thể tìm ra nó.”
“Tội lỗi ư?” Susan kinh hoàng lắp bắp. “Tội lỗi ư? Cô ư? Cô bé, cô đang nói gì vậy? Cô ốm rồi đấy! Bé yêu ơi, cục cưng ơi, cô ốm rồi đấy!” Bà ta quỳ xuống chân Eva, ôm cơ thể thanh mảnh của cô ta, và nhìn lên cô ta bằng đôi mắt ngập lệ. “Chúng ta hãy trốn đi, em yêu, chúng ta hãy trốn đi đến với bạn bè. Tôi đã biết mảnh đất này sẽ giết chết cô mà. Chốn hoang vu của ngày hôm qua mà sức mê hoặc của cô biến thành thiên đường không có thực vẫn giữ ác tâm xưa cũ của trái đất già nua và bị nguyền rủa. Hãy trỗi dậy và mỉm cười nào, người thân yêu. Tôi sẽ ngồi xuống bên cây dương cầm và chơi nhạc Schumann, người cô yêu. Tôi sẽ mang một tấm gương lại cho cô, để cô có thể soi mình và thấy cô vẫn còn xinh đẹp như thế nào. Người xinh đẹp đến thế có thể tội lỗi được sao?”
Eva buồn bã lắc đầu. “Sắc đẹp ư?” cô ta hỏi. “Sắc đẹp ư? Bà sẽ lừa gạt những sự nhận thức sâu sắc của tôi bằng những lời nói về sắc đẹp. Tôi chẳng biết gì về cái đẹp cả. Nếu quả thực có thật, thì nó không có phúc lành. Không, tôi không nói về cái đẹp. Tôi đã muốn quá nhiều trong một khoảng thời gian quá ngắn, cướp quá nhiều, dùng quá nhiều, phí quá nhiều - những người đàn ông và linh hồn và vật làm tin được tặng. Tôi không thể ôm vác tất cả. Tất cả những ước mong của tôi đều đã trở thành hiện thực. Càng vô độ bao nhiêu, chúng càng trở thành hiện thực nhanh bấy nhiêu. Tôi đã có danh vọng và tình yêu và sự giàu có và quyền lực, sự phục vụ của những nô lệ và lòng tôn sùng - mọi thứ, mọi thứ! Quá nhiều đến mức tôi có thể chui vào trong nó như đống sách truyện quý giá. Tôi đã khao khát muốn bay lên - từ vực thẳm nào bà biết rồi đấy, và đã được chắp cánh. Tôi khát khao muốn gạt bỏ những chướng ngại vật; chúng tan chảy ra trước cái liếc mắt của tôi. Tôi đã muốn hiến dâng mình cho một chính nghĩa vĩ đại, và những đầy tớ của nó đã tin tôi trước khi tôi bắt đầu làm chủ ý nghĩa của nó. Họ công bố nó nhân danh tôi trong khi tôi vẫn cần phải được dạy nó. Mọi thứ đến quá nhanh và quá đầy đủ. Hàng triệu người hy sinh thứ thân yêu nhất với họ, một cách run rẩy và tận tụy, để không bị quét khỏi vách đá mà họ đang bám vào; tôi đã giống như Aladdin, mà vị thần quỳ gối trước khi mệnh lệnh của anh ta được thốt ra. Tôi đẩy mạnh khỏi mình và khinh rẻ người duy nhất có trái tim cưỡng lại tôi – dù chính anh ấy cũng không biết tại sao. Mỗi bước đi đều tiến về phía tội lỗi, mọi thèm muốn đều tội lỗi, và mọi khuấy động của lòng biết ơn. Mọi giờ sung sướng đều tội lỗi, mọi niềm khoái trá đều là một sự nghèo khổ, và mọi lần bay lên đều là một cú rơi xuống.”
“Báng bổ,” Susan nói rì rầm. “Lòng kiêu hãnh và sự chán chê làm cô kết tội chính mình và số phận mình.”
“Bà mới hành hạ tôi làm sao,” Eva trả lời. “Tất cả các người mới hành hạ tôi làm sao - cả đàn ông lẫn phụ nữ. Vì bà mà tôi trở nên khô cằn làm sao. Giọng bà và đôi mắt bà và những lời nói và ý nghĩ của bà mới hành hạ tôi làm sao. Bà nói dối thật ngớ ngẩn; bà sẽ không lắng nghe, bà rất ghét sự thật. Bà là ai? Bà là ai hả, Susan? Bà có một cái tên; nhưng tôi không biết bà. Bà có một cái tôi khác; và bà hành hạ tôi vì cái tôi khác đó. Đi đi! Tôi đã xin bà hãy ở lại bên tôi sao? Tôi muốn bước vào linh hồn của chính mình, và bà sẽ giữ tôi lại ở bên ngoài sao? Tôi nói với bà rằng tôi muốn ở lại, dù họ có đốt cháy trụi mái nhà trên đầu tôi cũng mặc.”
Cô ta nói những lời trên với sự hăng say bị kìm nén, rồi đứng lên. Cô ta bỏ rơi người bạn đồng hành đang khóc nức nở để vào buồng ngủ của mình.
Một giờ sau Susan lao vào, tái nhợt và tóc tai bù xù. Bà ta gọi cô chủ, người vẫn đang thức và trầm tư bên cạnh ánh sáng cây đèn chụp: “Chúng đến rồi. Chúng đang tiến về phía lâu đài này! Labourdemont đã điện thoại cho Yalta. Họ khuyên chúng ta nên chạy trốn ngay. Mười lăm phút trước đường dây đã bị cắt. Tôi vừa mới ra khỏi ga ra; hai mươi phút nữa sẽ có xe. Nhanh lên, nhanh lên, trong khi vẫn còn thời gian.”
Eva bình tĩnh nói: “Không còn cơ hội để báo động hay kêu cứu; tự chủ nào. Kinh nghiệm trong những trường hợp tương tự dường như cho thấy rằng chạy trốn chỉ tổ kích thích người ta cướp bóc và phá hoại thôi. Nếu họ đủ liều lĩnh để vào đây, tôi sẽ đối mặt với những người cầm đầu và thỏa thuận với họ. Đó là việc đúng đắn và tự nhiên. Tôi sẽ ở lại; nhưng không ép buộc ai phải ở lại với mình.”
Susan hoàn toàn bình tĩnh ngay lập tức, và giọng bà ta lạnh nhạt: “Cô quá lầm, nếu nghĩ tôi run sợ cho bản thân mình. Nếu cô ở lại, thì không cần phải nói rằng tôi cũng sẽ ở lại. Chúng ta đừng phí thêm lời nào nữa.” Và bà ta đưa cho cô chủ mình thứ phục trang mà một cử chỉ đã yêu cầu.
Rồi nghe vang lên tiếng những bước chân gấp gáp và kêu la, tiếng uỳnh uỳnh của ô tô, và tiếng chó sủa. Monsieur Labourdemont hoang dại sải bước đi đi lại lại trong tiền phòng. Trung sĩ sen đầm nói với lính của mình từ cầu thang. Eva bình thản ngồi xuống bên bàn trang điểm, và để cho Susan làm tóc cho mình. Tiếng gầm của biển vẳng vào qua ô cửa sổ mở. Tiếng ồn ào nặng nề kéo lê đó bất thình lình bị gián đoạn bởi tiếng súng trường bắn cành cạch.
Tiếp theo sau đó là một khoảng im lặng ngắn ngủi. Labourdemont gõ cửa buồng ngủ. Không còn phút nào để phí nữa đâu, ông ta gọi lớn, với một cục kinh hãi ở trong họng. “Hãy nói cho ông ta biết cần phải làm gì,” Eva ra lệnh. Susan đi ra, và trở vào ngay sau đó với nụ cười ảm đạm trên môi. Eva liếc mắt hỏi bà ta. “Hoảng loạn,” Susan nói, và nhún vai. “Tất nhiên rồi. Họ không biết phải làm gì mà.”
Lại nghe vang lên những tiếng kêu la; chúng hốt hoảng và rối loạn. Có ánh sáng lập lòe; những mệnh lệnh bị bóp nghẹt theo sau. Những tiếng kêu la ầm ĩ nổ tung thành im lặng, rồi tiếng gào thét của hàng trăm người. Tiếp theo vẳng đến tiếng ầm đột ngột, như thể một cánh cửa gỗ đã bị phá. Tiếng lửa cháy lách tách nuốt tiếng chó sủa, và chính nó bị bịt mồm bởi tiếng kêu la, rú rít, gầm rống chói tai. Một cột lửa mọc lên ở bên ngoài; căn buồng đỏ rực lên vì ánh sáng đó. Susan đứng đỏ rực ở giữa nó; đôi mắt bà ta đờ đẫn, mặt như mặt nạ cứng nhắc.
Eva đi đến cửa sổ. Cây cối và những bụi cây bị ngâm trong ánh sáng rực. Không thấy trung tâm của lửa. Không gian trước lâu đài hoang vắng. Lính gác đã biến mất; chúng đã bỏ chạy, sau khi thấy tính vô vọng trong việc đương đầu với quân khởi loạn mạnh hơn; cũng không thấy một người hầu nào của Eva. Những cái bóng không rõ rệt lăn tới phía trước, rít lên trong ánh sáng rực rỡ và bóng tối. Tiếng súng nổ từ mọi hướng. Nghe vang lên tiếng loảng xoảng của những mảnh vỡ; họ đang ném đá những nhà kính. Bất thình lình từ bên phải và từ bên trái, dâng lên quanh ngôi nhà, những đám đàn ông hiện ra từ ánh chạng vạng của lửa, nó bị biến thành ánh sáng chói màu vàng trong khoảnh khắc. Đó là một đám đông hoang dại của những cánh tay và mông đít và đầu, một bầy người phẫn nộ, điên cuồng lao tới phía trước, mà tiếng gầm gừ và gào rú và huýt sáo làm lay động cả không trung.
“Rời khỏi cửa sổ!” Susan nói rì rầm, trong sự cầu khẩn thô lỗ.
Eva không động đậy. Những bộ mặt nhìn lên và đã thấy cô ta. Một lời nói không thể hiểu nổi lóe qua lũ người xoáy tít. Nhiều người vẫn đứng; nhưng trong khi trừng trừng nhìn lên, họ bị những người ở sau gạt mạnh sang bên. Người tràn đến những bậc tam cấp lâu đài rồi rút ra một chút. Nó ngập ngừng, rồi đến một khoảng im lặng.
“Rời khỏi cửa sổ!” Susan van xin, với hai bàn tay giơ lên.
Những đám người mặt đỏ rẽ về phía Eva. Họ chen chúc nhau đầy nửa vòng tròn trước lâu đài; và đám đông vẫn lớn thêm, như chất lưu đen tối trong thùng chậm chạp đầy lên đến miệng. Những người xa nhất ở sau giẫm chân lên bãi cỏ và các luống hoa, nhổ các bụi cây, đẩy những pho tượng đổ xuống đất. Đa số họ mặc đồng phục lính thủy đánh bộ; nhưng cũng có cả đám thường dân thành thị, lũ cặn bã khát chiến lợi phẩm và máu - bọn Những Trăm Đen. Chúng được vũ trang súng trường, kiếm lưỡi cong, dùi cui, súng lục ổ xoay, thanh sắt, và rìu. Rất nhiều tên đã say.
Từ không thể hiểu đó vang rền thêm lần nữa trên những cái đầu san sát. Cuộc xoáy tít lao tới phía trước lại bắt đầu. Những nắm đấm dọn đường đi lên. Một tiếng súng nổ vang lên. Susan kêu lên một tiếng bị bóp nghẹt, khi cây đèn treo trên giường rơi xuống vỡ tan tành. Eva bước lùi khỏi cửa sổ. Cô ta rùng mình. Cô ta lơ đễnh đi vài bước, rồi cầm quả táo khỏi bát. Nó tuột khỏi tay cô ta rơi xuống lăn trên sàn.
Họ vào nhà. Nghe vang lên tiếng rìu chặt, tiếng bàn chân kéo lê, tiếng mở cửa. Họ đang tìm kiếm.
“Chúng ta tiêu tùng rồi,” Susan thì thầm, bám lấy cánh tay Eva bằng cả hai bàn tay mình, như thể có ai đó sắp đẩy bà ta xuống nước.
“Mặc kệ tôi đi,” Eva đẩy bà ta lùi lại. “Tôi sẽ cố gắng nói chuyện với họ. Chỉ cần tỏ ra can đảm trước mặt họ thôi là đủ.”
“Đừng đi! Vì Chúa, đừng!” Susan cầu khẩn cô ta.
“Tôi nói với bà, để tôi đi. Tôi thấy không còn cách nào khác. Trốn đi, và để tôi đi!”
Cô ta bước đi như một bà hoàng. Có lẽ cô ta biết câu đã được phát âm. Cô ta cảm thấy sự băng giá của quyết định cuối cùng trên ngưỡng cửa. Đôi mắt cô ta bị che mạng. Eva thấy đoạn đường dường như quá xa nên mất kiên nhẫn. Từ ánh phản chiếu của lửa và màu xám lờ mờ tối, đám người kia nhảy về phía cô ta rồi lùi lại, xúm quanh cô ta rồi tản ra. Dáng người cao quý của cô ta vẫn chế ngự được họ; song những con quỷ độc địa ở sau họ phẫn nộ rẽ đường tiến về phía cô ta. Cô ta nói vài lời tiếng Nga. Vòng xoay tít chập chờn của đầu và vai kì quái dâng lên hạ xuống. Cô ta thấy cổ, râu, răng, nắm đấm, tai, mắt, trán, mạch máu, móng. Những đường nét mờ đi; những bộ mặt tan vào ánh lửa rực rỡ. Lửa lách tách trong phòng tập; rìu chém vào những món đồ đắt tiền; khói đầy các hành lang; tiếng kêu la điên khùng xé toạc không khí. Eva đổi hướng.
Quá muộn rồi. Không phép màu của ánh mắt hay cử chỉ nào còn tác dụng nữa. Vực thẳm đã mở ra.
Cô ta chạy trốn nhẹ nhàng như con linh dương. Những bước chân cục mịch theo sau, và tiếng khò khè của những bộ phổi ầm ĩ. Cô ta đến cầu thang lên tháp tứ giác, công trình được xây theo ý thích bất chợt nảy ra. Cô ta chạy lên cầu thang. Trên cao những bậc thang mạ vàng lấp lánh trong tia bình minh le lói đầu tiên. Bàn tay cô ta lướt mà không chà xát trên lan can. Lớp sơn men, cũng là sản phẩm ý thích bất chợt nảy ra, mát và láng với lòng bàn tay cô ta. Những kẻ đuổi theo gầm gừ như chó sói. Nhưng ánh sáng dường như nhấc cô ta lên. Cô ta hiện lên vào buổi sáng bạc, thấy những công trình xây dựng đang cháy đu đưa trong gió và biển rộng. Những kẻ đuổi theo dâng lên sau cô ta như đống lớn tứ chi, một con bạch tuộc có lông và mũi và những cái răng tàn nhẫn.
Cô ta nhảy lên tường lan can. Những cánh tay chìa ra sau cô ta. Cao hơn! A, giá mà có chỗ cao hơn! Trời đầy mây. Ngày xưa khác kia. Những vì sao từng an ủi cô ta - bầu trời nguy nga tráng lệ. Kỷ niệm trên chỉ kéo dài một giây. Những bàn tay tóm lấy cô ta; những móng vuốt kề sát ngực. Bốn, sáu, tám cặp cánh tay chìa ra về phía cô ta. Một ý nghĩ cuối cùng, một cuộc vật lộn cuối cùng, một hơi thở dài cuối cùng. Không khí vù vù tách ra. Cô ta đã lao xuống ...
Xác Eva nằm trên những phiến đá cẩm thạch. Thân xác tuyệt mỹ đó giờ đây chỉ còn là đống thịt đẫm máu. Đôi mắt vỡ mở - trống rỗng, không có chiều sâu hay sự biết hay ý thức. Trên tường lan can lũ sói người tru lên trong niềm phẫn nộ thất vọng. Đám ở dưới bâu vào xác cô ta. Chúng xé phục trang của cô ta ra thành từng mảnh, rồi lấy các mảnh đó buộc lên các cọc và cành cây như lá cờ.
Susan Rappard bị giết chết nằm trên ngưỡng cửa buồng ngủ cô chủ của bà ta.
Lũ người hoang dã rút lui, khi công việc cướp bóc và phá hoại đã được hoàn thành. Một người đàn ông có lòng thương xót và biết xấu hổ cuối cùng cũng ném một tấm mền đắp ngực lên cái xác bẩn thỉu và trần truồng của cô vũ nữ.
Khi buổi tối đến, một người đàn ông vẫn còn đi lang thang quanh quẩn giữa đống điêu tàn, một người đàn ông cô độc trong nỗi đau sinh thành cô đơn của hồn ma. Ông ta mặc đồ linh mục, và trên những nét đặc trưng của ông ta là dấu hiệu của một số phận mãn nguyện. Những người đến vào một giờ muộn màng để tìm và hộ tống ông ta, tôn kính chào ông ta, vì họ coi ông ta là vị thánh của nhân dân và nhà tiên tri của vương quốc sắp đến.
Ông ta nói với họ: “Tôi đã nói dối các bạn; tôi chỉ là một sinh linh yếu ớt như những người khác thôi.”
Họ lúc lắc đầu và một người trả lời: “Thưa Cha Ivan Michailovitch bé nhỏ, đừng hủy hoại hy vọng của chúng tôi, xin hãy tiếp tục dẫn dắt những kẻ yếu ớt chúng tôi.”
Ngay sau đó vị thánh của nhân dân mình này chòng chọc nhìn cái xác nằm dưới tấm mền đắp ngựa giữa những bông hoa bị giẫm nát và đống điêu tàn đã cháy thành than, và nói: “Thế thì chúng ta hãy tiếp tục đến cùng.”
