QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XXXVIII)
ĐIỀU TRA
XXVI
Khi rời khỏi nhà thờ bên cạnh Johanna, Michael cảm thấy xúc động sâu sắc vì trải nghiệm trong một giờ vừa qua.
Họ đi xe đến đại lộ Schonhauser, rồi xuống đi bộ tiếp. Gió tuyết mạnh và những đống tuyết dưới đất làm cho thằng bé khập khiễng bước đi khó nhọc gấp đôi.
Nó đã im lặng trong lúc đi xe lâu, dù mặt có vẻ háo hức cảm động của những ý nghĩ và cảm xúc. Chỉ gần đây nó mới học được cách giãi bày bản thân; trước nó phải nuốt hết mọi điều xuống. Và nó nắm bắt mọi cơ hội từ khi học được cách nói ra. Những lời nói của nó tươi mới, còn những điệu bộ thì diễn cảm và quá khích. Lối nói của nó già trước tuổi. Nó đẩy lui những cuộc tấn công của tính nhút nhát bằng các trọng âm the thé. Sợ người khác không hiểu mình và những rối loạn và sự sáng suốt và những trải nghiệm của mình nghiêm túc như mình muốn, nó thường bướng bỉnh bảo vệ các điều khẳng định liều lĩnh, trong khi chính nó cũng không thực sự tin chắc rằng sự thật đúng là như thế. Trên đường đi ra nó đã bắt đầu nói đi nói lại về Christian. Linh hồn nó tràn ngập vì Christian. Lòng tôn sùng của nó, nửa rụt rè, nửa đầy nhiệt tình hoang dại, tự bày tỏ mình bằng nhiều cách khác nhau. Tâm trí nó từng thiếu một lý tưởng và những trung tâm tinh thần và những sự say sưa ngây ngất của tuổi trẻ; bây giờ nó buông thả mình vào những điều trên lại càng vui mừng hơn. Tuy vậy, trong sự phù hợp với bản chất trầm tư của mình, nó tô điểm cho tính giản dị của Christian bằng những bí ẩn và vấn đề khác nhau, và Johanna không thể sửa được nó ở điểm này. Cô tránh những nhận xét của nó. Cô thấy thằng bé này dường như quá dữ dội, quá dứt khoát, quá hăng say. Nó lăng mạ những cảm xúc khiêm nhường trong cô; nó quá thích việc xé những tấm mạng che. Tuy vậy nó thôi miên cô, và giữ cô trong trạng thái bồn chồn và đau đớn dịu nhẹ; và cô cần cả hai trạng thái đó. Cô có thể tưởng tượng rằng mình đang bảo vệ nó, và nhờ bổn phận này mà được bảo vệ khỏi chính mình tốt hơn.
Michael nói không phải nó ngất ngây vì âm nhạc. Âm nhạc loại đó là sự biểu lộ qua những hình thức khó khăn, và người ta không nên, nó thấy dường như thế, để cho khoái cảm vì âm thanh lừa dối về sự dốt nát của mình. Người ta phải hiểu biết và học hỏi.
“Thế đó là gì? Điều gì đã gây ấn tượng lên em?” Johanna hỏi. Nhưng câu hỏi của cô chỉ có vẻ tò mò bề ngoài thôi. Chuyến đi và ngày hôm đó đã làm cô kiệt sức quá không muốn nói chuyện nữa.
“Đó là nhà thờ,” Michael nói. “Đó là bài hát ngợi ca chúa Giê su. Đó là đám đông ngoan đạo.” Nó dừng bước, và cúi đầu. Trong thời thơ ấu và cho đến rất gần đây thôi, nó nói với cô bằng giọng trẻ con khàn khàn và hơi đứt đoạn, nó không thể nghĩ đến chúa Giê su mà không căm thù. Một đứa trẻ được nuôi dạy theo đạo Do Thái ở nông thôn, đã chịu đựng sự chế nhạo và chửi bới của những người không theo Do Thái giáo, cảm thấy mối căm thù đó đến tận xương tủy. Với một đứa trẻ như thế thì Giê su là kẻ thù đã bỏ rơi và phỉ báng dân tộc mình, kẻ phản bội và ngọn nguồn tất cả đau khổ của dân tộc đó. “Em nhớ mình từng lẻn trốn tất cả những nhà thờ như thế nào,” Michael nói; “em nhớ với nỗi sợ hãi và phẫn nộ nào. Chị Ruth không bao giờ cảm thấy như thế. Chị Ruth không có cảm giác về thực tại của những điều cay đắng; với chị ấy mọi thứ đều đáng yêu và trong sáng. Chị ấy ở cao hơn sự thô tục nhiều. Điều đó đã ăn vào em, và em không có ai để nói chuyện.”
Nhưng một buổi tối, ít hôm trước khi biến mất, Ruth không cần nó nhờ mình và không có bất cứ lời mào đầu trước nào, mà chỉ như thể cô muốn gần gũi hơn với nó và giải thoát nó khỏi tình trạng bị đè nặng, đã đọc cho nó nghe một đoạn trong sách Phúc Âm của những tín đồ Cơ Đốc. Đó là đoạn trong đó Chúa trỗi dậy hỏi Peter: “Yêu ta hơn những người này chứ? Ngài nói với ông ta, Vâng, thưa Chúa; ngài biết là tôi yêu ngài mà. Ngài nói với ông ta, Hãy nuôi những con cừu non của ta. Ngài lại nói với ông ta thêm lần thứ hai, Simon, ngươi yêu ta chứ? Ông ta nói với ngài, Vâng, thưa Chúa; ngài biết là tôi yêu ngài mà. Ngài nói với ông ta, Hãy nuôi con chiên của ta. Ngài nói với ông ta lần thứ ba, Ngươi yêu ta chứ? Peter đau lòng vì ngài nói với ông ta lần thứ ba, Ngươi yêu ta chứ? Và ông ta nói với ngài, Thưa Chúa, ngài biết mọi điều; ngài biết là tôi yêu ngài mà. Giê su nói với ông ta, Hãy nuôi con chiên của ta.” Và sau đó ngài nói: “Hãy đi theo ta.”
Nó kể mình đã giật cuốn sách khỏi tay chị gái và lật các trang và không muốn bị nó dẫn đi lạc như thế nào. Nhưng có một câu thu hút được sự chú ý của nó, và nó đã dừng lại ở đó. Câu đó thế này: “Và ngài không cần biết về một con người, vì ngài biết có gì trong con người.” Mối căm thù chúa Giê su đã biến mất khỏi linh hồn nó sau khi nó đọc được câu trên. Nhưng nó vẫn chưa thể tin hay hướng đến ngài. Ý nó không phải là theo cách mộ đạo và cầu nguyện; mà là ý niệm tặng cho con người lòng tin chắc và có ích cho tâm trí họ. Nó hiểu rằng hôm nay, trong khi nghe bài hát cao vút đó, và khi nó nhìn một ngàn đôi mắt lúc đầu dường như tối tăm và rồi rực sáng ngọn lửa trang nghiêm. “Ngươi yêu ta chứ, Simon?” Nó đã hiểu câu đó hoàn toàn, và cả câu này nữa: “Hãy đi theo ta.” Và ý thức về thân phận Do Thái và bị xua đuổi của nó đã biến chuyển từ đau đớn và hổ thẹn sang giàu có và kiêu hãnh nhờ niềm tin chắc vào một sự phục vụ chắc chắn và một sức mạnh lạ kỳ. “Điều đó thật tuyệt vời, tuyệt vời,” nó cam đoan với cô. “Em vẫn chưa thật sự hiểu. Em giống như con cừu non đã được soi sáng vậy.”
Johanna hốt hoảng trước cơn bột phát của niềm đam mê lạ lùng và không thể hiểu nổi với cô đến thế.
“Hãy nuôi con chiên của ta,” Michael hầu như hát những lời này vào tuyết. “Hãy nuôi con chiên của ta.”
“Đây là một sự thức tỉnh,” Johanna nghĩ, thoáng chút kinh hãi và ghen tị. “Nó đã được thức tỉnh.”
Tình gắn bó say sưa với Christian của thằng bé trở nên rõ ràng với cô hơn bao giờ hết. Khi họ chờ tại cánh cửa khóa trên phố Stolpische và Christian đi ra với Niels Heinrich và đi ngang qua hai người mà không trông thấy họ, không liếc nhìn hay chào hỏi, và đi với sinh vật rung lắc, lê chân, méo mó đó, thì Michael tập tễnh đi theo sau chàng ít bước, chòng chọc nhìn vào sân tối đầy tuyết xoáy, rồi trở lại với Johanna và khẩn khoản nói: “Anh ấy không được đi với gã đàn ông đó. Xin hãy chạy theo gọi anh ấy lại. Anh ấy không được, vì Chúa, đi với hắn.”
Johanna, dù chính bản thân cũng lo âu, xoa dịu thằng bé căng thẳng. Cô ở lại nửa giờ, tự ép mình phải tự nhiên vui vẻ, dễ thương tán gẫu lúc pha trà và trải khăn bàn để ăn bữa khuya nguội. Rồi cô về nhà. Tám giờ sáng hôm sau Michael kéo chuông nơi ở của cô. Cô hầu như chưa mặc xong váy áo. Cô gặp nó ngoài hành lang. Nó tái nhơt, mất ngủ, nói khó khăn. “Anh Wahnschaffe vẫn chưa về,” nó nói rì rầm. “Chúng ta phải làm sao đây?”
Kìm nén nỗi kinh hoàng ban đầu, Johanna mỉm cười. Cô nắm bàn tay Michael và nói: “Đừng sợ. Anh ấy sẽ không sao đâu.”
“Chị chắc không?”
“Rất chắc!”
“Sao lại thế?”
“Chị không biết. Nhưng chị không bao giờ sợ cho anh ấy. Nếu thế thì chỉ phí năng lực tình cảm thôi.”
Vẻ bình tĩnh và chắc chắn của cô gây ấn tượng với Michael; nhưng nó vẫn xin cô hãy đến ở lại bên mình nếu có thể. Cô đồng ý sau khi suy nghĩ một lát. Trên đường đi họ vào hiệu sách mua những quyển sách mà Lamprecht gợi ý. Christian đã cho Michael tiền để mua những cuốn sách này. Nó muốn bắt đầu học một mình và ngay lập tức, nhưng không thể tập trung được. Nó ngồi tại bàn, lật các trang sách, xếp giấy, ngước đầu lên lắng nghe, ép hai bàn tay vào nhau hoặc đứng bật dậy đi đi lại lại trong phòng, nhìn ra sân, đăm đăm dò xét nhìn Johanna, cô đang thêu và ngồi run rẩy vẻ mệt mỏi trong góc sofa, mấy cái răng trắng nhỏ cắn môi.
Ngày hôm đó và thêm một đêm nữa đã trôi qua như thế, nhưng Christian vẫn chưa về. Sự mất kiên nhẫn và lo lắng của thằng bé trở nên không thể kiềm chế được. “Chúng ta phải làm gì đó,” nó nói. “Cứ ngồi đây chờ thì thật ngu ngốc.” Johanna, cũng bắt đầu lo lắng, chuẩn bị đi tìm cả Botho von Thungen lẫn bác sĩ Voltolini. Lamprecht đến trong khi cô đang đội mũ. Anh ta nói sau khi được nghe kể tình hình: “Hai người sẽ không giúp Wahnschaffe nếu báo động. Anh ấy không về vì có những lý do của riêng mình. Nỗi sợ hãi của hai người thật trẻ con và không xứng đáng với anh ấy. Tốt hơn chúng ta nên bắt đầu việc gì đó có ích, cậu bé của tôi à.”
Khả năng hiểu biết vững chắc của anh ta được chia sẻ ở mức độ thậm chí còn cao hơn cả sự chắc chắn bản năng của Johanna. Michael vâng lời thêm lần nữa, và làm học sinh ngoan trong hai giờ. Gần trưa, khi Johanna và Lamprecht đi rồi, một người đánh xe xuất hiện với tờ hóa đơn chưa thanh toán. Ông ta nói mình vẫn chưa nhận được thanh toán cho những con ngựa phục vụ đám tang của tiểu thư Engelschall quá cố. Michael cam đoan rằng mai ông ta sẽ nhận được tiền, vì dĩ nhiên Wahnschaffe chỉ quên việc này mà thôi. Người đàn ông đó càu nhàu đi ra; nhưng có mấy người khác đến nhập bọn với ông ta trong sân, và Michael nghe tiếng nói chuyện thù địch và tên Christian. Nó ra hành lang rồi xuống cửa ngoài. Những lời nói và nhắc đến độc địa bằng biệt ngữ tục tĩu nhất làm hai má nó đỏ ửng. Nó cảm thấy ngay rằng có ai đó đã cố tình xúi bẩy cảm xúc chống lại Christian. Có một gã tóc đỏ, một họa sĩ sống trên tầng năm, đặc biệt thô bỉ. Hắn kêu gọi mọi người hãy chú ý đến Michael; người ta nói một nhận xét khiếm nhã; đám đông rống lên. Khi Michael phẫn nộ đến mức đủ can đảm để ra sân, thì nó gặp những ánh mắt hăm dọa.
“Các người nói xấu gì anh Wahnschaffe vậy?” nó hỏi bằng giọng lớn, tuy cơ thể co rúm lại theo bản năng.
Chúng lại gầm lên. Gã tóc đỏ vừa cười vừa xắn tay áo. Có một ả đàn bà tại ô cửa sổ bên trên với vào phòng rồi đổ một xô đầy nước bẩn xuống sân. Nước đó văng vào Michael, thế là tiếng cười vang lên như sấm. Gã đánh xe Scholz chống nạnh, và thuyết trình về đám ăn không ngồi rồi làm ngứa tai người lao động bằng những lời nói ngu ngốc chết tiệt và đạo đức giả. Và bất thình lình những lời nói khác rít vào mặt Michael: “Cút khỏi đây, thằng Do Thái!” Nó tái nhợt đi, hai bàn tay sờ bức tường đằng sau mình.
Đúng lúc đó Botho von Thungen và Johanna vào qua cửa. Họ dừng lại và lặng lẽ chăm chú nhìn cả đám người trong tuyết lẫn Michael. Họ đã hiểu. Johanna kéo Michael vào nhà. Nó hổn hển kể lại mọi chuyện; nó quá nồng cháy, phẫn nộ quá cao thượng, đến mức mặt trở nên hầu như xinh đẹp.
Lát sau có người gõ cửa, và Amadeus Voss vào. Hắn rất lịch sự, nhưng hầu như không hề kinh ngạc khi thấy Johanna đang ở đây, cũng không có vẻ khó chịu gì. Hắn nói muốn nói chuyện với Christian Wahnschaffe. Thungen đáp rằng không ai biết khi nào Christian sẽ về hay hôm đó chàng có về không.
Voss lạnh nhạt nói hắn có thời gian nên có thể chờ.
Johanna cảm thấy bị tê liệt. Cô không đủ ý chí để bỏ đi. Tất cả những gì cô muốn tránh là bất cứ sự thể hiện, trận cãi nhau nào. Như con vật lẻn vào nơi trú ẩn, cô ngồi co rúm trong góc sofa, mấy cái răng nhỏ cắn môi.
Bất thình lình tâm trí cô lóe lên ý nghĩ – “chết, chết, đó là điều duy nhất.”
