favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (I)

CRAMMON, CHÀNG HIỆP SĨ KHÔNG CHÊ VÀO ĐÂU ĐƯỢC

I

Từ những ngày trong thời trai trẻ của mình, Crammon, kẻ hành hương trên những lối mòn của tính vui vẻ và niềm vui sướng, đã là một khách lữ hành thường xuyên đi từ kinh đô này đến kinh đô khác và từ cơ ngơi đồng quê này sang cơ ngơi đồng quê nọ. Ông xuất thân từ một gia đình người Áo mà lãnh địa nằm trong xứ Moravia [Vùng đất ở phía Đông cộng hòa Séc, gồm các thành phố chính là Brno và Ostrava – ND], và tên đầy đủ của ông là Bernard Gervasius Crammon von Weissenfels.

Ông có một ngôi nhà nhỏ nhưng đồ đạc xinh đẹp ở Vienna [Thủ đô nước Áo – ND]. Có hai bà cô già không chồng là những người trông nom nó – cô Aglaia và cô Constantine. Họ là những người bà con xa của ông, nhưng ông tận tụy với họ như chị em máu mủ, và họ cũng đáp lại tình cảm của ông bằng một thái độ dịu dàng tương xứng.

Vào một buổi chiều tháng Năm, hai cô ngồi bên ô cửa sổ rộng mở, tha thiết nhìn đăm đăm xuống phố. Ông đã viết thư báo ngày mình sẽ về, nhưng bốn ngày trôi qua rồi mà họ vẫn đợi chờ trong vô ích. Mỗi khi có cỗ xe nào quành ở góc phố là hai cô lại giật mình nhìn về cùng một hướng.

Khi hoàng hôn buông xuống, họ đóng cửa sổ lại và thở dài. Constantine nắm lấy cánh tay Aglaia, rồi họ cùng nhau đi xuyên qua những căn phòng diễm lệ, đã được lau chùi sáng bóng để chào đón ông chủ của chúng. Mỗi món đồ xinh đẹp ở trong nhà đều nhắc họ nhớ đến ông, cũng như tất cả chúng đều thân thiết với ông vì đều liên quan đến một trải nghiệm hay kỷ niệm nào đó.

Đây là cái cốc có chân chạm trổ từ thế kỷ mười lăm mà hầu tước d’Autichamps đã tặng ông, kia là cái bát bằng đá mã não mà nữ bá tước Ortenburg đã di tặng lại cho ông. Có những bản khắc a xít màu, phần di sản của một nữ công tước xứ Gainsborough, bộ bàn làm việc quý giá mà ông đã nhận được từ ông già nam tước Regamey, những bức tượng nhỏ Tanagra mà Felix Imhof mang về từ Hy Lạp cho ông. Trên hết là bức chân dung chính ông, do họa sĩ người Anh Lavery vẽ theo đơn đặt hàng của Ngài Charles MacNamara.

Họ biết những điều trên và quý trọng chúng vì giá trị đích thực của chúng. Họ dừng lại trước bức chân dung ông, như vẫn thường sung sướng làm như thế. Đó là một khuôn mặt tròn sung túc có vẻ nghiêm nghị, hầu như ảm đạm. Nhưng vẻ mặt đó dường như là giả dối, bởi vì có ánh sáng chói lồ lộ của niềm vui sướng trần tục, của tính châm biếm và tinh nghịch, chơi đùa xung quanh đôi môi nhẵn nhụi.

Khi hai cô nhận được bức điện thông báo rằng Crammon buộc phải hoãn chuyến trở về của mình lại một tháng thì màn đêm đã buông xuống. Sau đó họ không thắp lên ngọn đèn nào cả, mà buồn bã lên giường đi ngủ.

II

Có lần Crammon ăn tối với vài người bạn ở Baden-Baden [Một thành phố ở Đức – ND]. Ông vừa đi Scotland thăm những dòng suối cá hồi nổi tiếng của MacPherson về, và mới xuống tàu sau một cuộc hành trình dài. Ông cảm thấy rất mệt mỏi nên sau bữa ăn đã nằm lăn ra ngủ trên một cái sofa.

Bạn bè ông tán gẫu một lát, cho đến khi những hơi thở sâu của ông khiến họ chú ý và quyết định mang ông ra làm trò đùa. Một trong số họ lắc vai ông, và khi ông mở mắt ra thì hỏi: “Này, Bernard, anh không thể kể cho chúng tôi nghe huân tước Darlington đã gặp chuyện gì được sao? Ông ta đã ở đâu? Tại sao chẳng bao giờ nghe thêm tin tức gì về ông ta nữa vậy?”

Crammon, không một giây do dự, trả lời ngay bằng giọng rõ ràng và với vẻ nghiêm túc hầu như trang trọng: “Darlington đang ở trên du thuyền của ông ta trong vịnh Liguria giữa Leghorn và Nice. Mấy giờ rồi nhỉ? Ba giờ rồi ư? Thế thì ông ta sắp dùng thứ thuốc an thần mà ông bác sĩ người Ý Magliano của ông ta đã pha chế và tặng cho ông ta rồi đấy.”

Rồi ông trở mình ngủ tiếp.

Một trong số những người kia, chỉ quen biết Crammon qua loa, đã nói: “Chỉ được cái nói phét!” Nhưng những người khác đảm bảo với kẻ hoài nghi này rằng không thể nghi ngờ lời nói của Crammon được, rồi họ nói chuyện khẽ để khỏi đánh động giấc ngủ của ông.

III

Vào một dịp khác, Crammon được mời đến làm khách tại một điền trang ở Hungary, và đã lên kế hoạch cùng với một nhóm những chàng trai trẻ, những người sắp đi thăm một ngôi nhà nông thôn ở trong vùng, rằng sẽ tham dự một lễ hội ở thị trấn kế bên. Mặt trời chỉ vừa mới ló dạng khi những người bạn này chia tay nhau. Crammon, mà giác quan đã hơi uể oải, đi tiếp một mình, chỉ mong chóng về cái giường vẫn còn cách ông nửa giờ đi bộ nữa. Tình cờ ông gặp một chợ gia súc đông đúc những nông dân, những người đã đưa bò cái và bê của họ từ những ngôi làng ở xung quanh đến.

Đám đông đã khiến cho ông phải dừng bước, và ông đứng lại lắng tai nghe người ta rao bán một con bò đực. Người điều khiển cuộc bán đấu giá hét lên: “Năm mươi crown!” Không có ai đáp lời; những nông dân đang chậm chạp cân nhắc vấn đề trong óc.

Năm mươi crown cho một con bò đực ư? Đối với tâm trí Crammon, mà men rượu vang vẫn còn lảng vảng, thì điều đó dường như đáng chú ý, và ông đã không do dự ra giá nhiều hơn năm crown. Đám nông dân đứng nép sang một bên đầy kính cẩn. Một người trong số họ kêu lên năm mươi sáu; Crammon ra giá năm mươi tám. Người điều khiển cuộc bán đấu giá hét to hơn gấp ba lần; cái búa giáng xuống. Thế là Crammon đã có được con bò đực.

Một con vật tuyệt diệu, ông thầm nhủ, và cảm thấy hoàn toàn thỏa mãn với cuộc mặc cả của mình. Nhưng đến lúc trả tiền ông mới phát hiện ra rằng cái giá trên là tính cho mỗi một trăm pound, và vì con bò đực nặng những một ngàn hai trăm năm mươi pound nên ông phải trả bảy trăm hai mươi nhăm crown.

Ông giận dữ từ chối. Tiếp theo sau đó là một trận cãi nhau ầm ĩ; nhưng những lý lẽ của ông đều vô ích. Con bò đực đã là tài sản của ông rồi. Nhưng trên người ông không có số tiền lớn đến thế nên ông đã phải thuê một người đi theo mình cùng với con vật kia về nhà bạn.

Ông bước đi mà tức bực vô cùng. Người đàn ông kia đi theo sau, kéo con bò đực bất đắc dĩ bằng một sợi dây thừng.

Ông chủ nhà của Crammon giúp ông thoát khỏi tình thế khó xử trên bằng cách mua con bò đực, nhưng việc này đã là một nguồn vui bất tận cho toàn bộ vùng thôn quê nọ.

Thêm vào giỏ hàng thành công