favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (II)

CRAMMON, CHÀNG HIỆP SĨ KHÔNG CHÊ VÀO ĐÂU ĐƯỢC

IV

Crammon yêu sân khấu và tất cả những gì liên quan đến nó. Khi Marian Wolter vĩ đại chết, ông đã tự nhốt mình trong nhà một tuần liền và than khóc như thể có người thân nào của mình vừa mới qua đời vậy.

Trong một đợt lưu lại ở Berlin ông đã nghe nói đến danh tiếng mới nổi của Edgar Lorm. Ông từng được xem anh ta đóng vai Hamlet, và sau khi rời nhà hát, đã ôm choàng lấy một người hoàn toàn xa lạ và hét lên: “Tôi hạnh phúc quá!” Thế là một đám đông nhỏ đã được hình thành.

Ông định ở Berlin ba ngày nhưng rốt cuộc lại ở đến ba tháng. Những mối quan hệ của ông đã giúp cho ông dễ dàng gặp được Lorm. Ông làm cho anh chàng diễn viên này choáng ngợp bằng những món quà - đồ trang trí đắt tiền, những cuốn sách quý hiếm và cao lương mỹ vị tinh xảo.

Mỗi buổi sáng, khi Edgar Lorm vừa thức giấc, thì Crammon đã ở đó, vô cùng say mê ngắm nhìn chàng diễn viên diễn thử và tập thể dục buổi sáng. Ông khâm phục thân hình thanh mảnh, những điệu bộ quý phái, tài bắt chước thuyết phục và giọng nói hoàn hảo của anh ta.

Ông trông nom việc thư từ giúp cho Lorm, phỏng vấn các đại lý, tống khứ những người hâm mộ không được chào đón dù là đàn ông hay phụ nữ. Ông chất vấn những nhà phê bình kịch, và kiềm chế cơn giận dữ của mình khi thấy khán giả hoan hô có vẻ quá hững hờ trong nhà hát. “Những con thú đó phải gầm lên mới đúng chứ,” ông nói. Trước cảnh nhà vua nói chuyện với các huân tước từ trên bức tường lâu đài trong vở Richard II [Vở kịch lịch sử của William Shakespeare có lẽ được viết vào khoảng năm 1595 – ND], ông đã quá hăng hái đến mức bạn ông, công chúa Uchnina, người ngồi chung buồng lô với ông, đã phải đưa quạt lên che mặt để tránh ánh mắt của công chúng.

Đối với ông, Lorm đích thực là Richard đế vương, Hamlet u sầu, Romeo si tình và Fiesco [Nhân vật chính trong vở kịch ‘Âm mưu của Fiesco ở Genoa’ của nhà soạn kịch người Đức Friedrich Schiller – ND] nổi loạn. Niềm tin của ông vào tài năng nghệ thuật của chàng diễn viên kia là vô giới hạn; trí tưởng tượng của ông đã bị thuyết phục hoàn toàn. Ông gán cho anh ta sự hóm hỉnh của Beaumarchais [Nhà soạn hài kịch lớn người Pháp, được so sánh với Molière – ND], tài hùng biện của Antony, tài mỉa mai của Mephistopheles, năng lực ma quỷ của Franz Moor. Ông không giấu nỗi đau khổ của mình khi phải chia tay, và từ nơi xa vẫn đều đặn viết cho anh ta những lá thư ngưỡng phục.

Người diễn viên đã chấp nhận lòng tôn thờ này như vật triều cống nó khác về căn bản với những lời khen ngợi và tình yêu làng nhàng mà anh ta đã bắt đầu chán chê.

V

Cái gia tài to lớn của Lola Hesekiel, trang nhan sắc trứ danh, có được hoàn toàn là nhờ ở Crammon. Crammon giáo dục nàng, tặng nàng địa vị và sự trân trọng của cuộc đời.

Crammon đã cùng nàng đi du ngoạn đến Sylt [Hòn đảo ở phía Bắc nước Đức – ND] khi nàng mới chỉ là một cô gái trẻ tầm thường. Họ gặp anh bạn Franz Lothar von Westernach của Crammon ở đó. Lola yêu chàng quý tộc trẻ đẹp trai này, và một buổi tối, trong lúc mềm yếu, nàng thú nhận tình yêu mà mình dành cho anh ta với Crammon. Thế là Crammon đứng dậy khỏi trường kỷ, mặc quần áo vào rồi sang phòng Franz Lothar, lôi anh chàng e thẹn đó về phòng mình. “Các con ta,” ông nói với vẻ phúc hậu nhất trần đời, “ta giao các con cho nhau. Hãy hạnh phúc và tận hưởng tuổi trẻ của mình.” Sau những lời này ông để cho hai con người kia được một mình với nhau. Trong một lúc lâu, cả hai đều không thực sự biết phải đón nhận cái tình thế bất thường này như thế nào.

VI

Chuyện nữ bá tước Ortenburg và cái bát mã não là một câu chuyện lạ lùng.

Nữ bá tước là một quý bà bảy mươi tuổi, về hưu sống trong tòa lâu đài gần Bregenz [Thành phố ở Áo – ND] của bà ta. Crammon, rất thích những quý bà cao tuổi có tước vị cao và từng trải sự đời, nên hầu như năm nào cũng đến thăm bà ta để làm cho bà ta vui và tán gẫu với bà ta về dĩ vãng.

Nữ bá tước rất biết ơn ông vì lòng tận tụy đó, nên nhất quyết ban thưởng cho ông. Một hôm, bà ta cho ông xem một cái bát mã não viền vàng, vật gia truyền của gia đình bà ta, và nói với ông rằng cái bát này sẽ là của ông sau khi bà ta qua đời, như bà ta ghi trong di chúc.

Crammon đỏ bừng mặt lên vì sung sướng, ông dịu dàng hôn bàn tay bà bá tước. Mỗi lần đến chơi ông đều tranh thủ ngắm cái bát quý giá, say mê nghía nó, và tận hưởng trước cái niềm vui là sẽ được sở hữu nó thực sự.

Nữ bá tước chết, và Crammon nhanh chóng được thông báo về việc liên quan đến di sản của bà ta. Người ta cẩn thận giao cái bát được đặt trong hộp cho ông. Khi mở hộp ra ông mới kinh ngạc và ghê tởm nhận ra rằng mình đã bị lừa. Thứ ông đang cầm trên tay là đồ giả - được làm một cách khéo léo và chính xác, nhưng vật liệu rẻ tiền. Chỉ có phần viền là được sao chép lại bằng vàng thật thôi.

Ông cay đắng cân nhắc xem mình nên làm gì. Ông dám buộc tội ai kia chứ? Làm sao ông có thể chứng minh được rằng cái bát chính cống kia có tồn tại thực sự hay không?

Có ba người cháu trai là những người thừa kế của bà bá tước. Người lớn tuổi nhất, bá tước Leopold, nổi tiếng là một kẻ hà tiện, keo kiệt với chính mình và những người khác đến cả miếng bánh mì. Nếu như lão ta đã chơi xỏ, thì cái bát đã bị bán đi từ lâu rồi.

Dễ tìm được một cái cớ cho việc đến thăm bá tước Leopold ở Salzburg [Thành phố ở Áo, nổi tiếng do là quê hương của nhà soạn nhạc thiên tài Mozart – ND]. Ông ta mưu cầu sự lỗi lạc về lòng mộ đạo và được quý mến tại buổi chầu của đức giám mục. Crammon cho rằng có ánh bối rối trong đôi mắt người đàn ông đó. Còn ông thì soi mói nhìn quanh như con mèo rừng. Vô ích.

Tuy nhiên, tình cờ sao mà ông lại quen biết tất cả những lái buôn đồ cổ có tiếng tăm trên Lục Địa, và vì thế nên bắt đầu tiến hành một cuộc tìm kiếm. Ông đi chu du từ thành phố này sang thành phố khác, gặp hết lái buôn này đến lái buôn nọ, đặt ra những câu hỏi, điều tra và luôn luôn đề phòng sát sao trong hai tháng rưỡi trời. Ông mang theo cái bát giả và cho tất cả bọn họ xem. Những lái buôn này đã quá quen thuộc với cảnh một người am hiểu đặt trọn trái tim mình vào một tác phẩm nghệ thuật nào đó; họ vui lòng trả lời những câu hỏi của ông và bảo ông hãy đến nơi này nơi khác.

Khi gần như tuyệt vọng thì ở Aix ông nghe nói về một lái buôn tại Brussels mà người ta bảo là đã có được cái bát kia. Đúng là như thế. Ông thấy món đồ mình tìm kiếm ở Brussels. Crammon hỏi thăm tên người bán và phát hiện ra rằng đó là một người có quan hệ làm ăn với bá tước Leopold. Gã lái buôn người Bỉ đòi hai mươi ngàn franc. Crammon đặt trước ngay một ngàn, cùng với lời đảm bảo rằng sẽ trả nốt phần còn lại trong vòng một tuần, rồi lấy cái bát. Ông không hề cố gắng mặc cả, việc khiến cho gã lái buôn kia vô cùng kinh ngạc. Nhưng trong cơn thịnh nộ của mình ông nghĩ: Ta bẫy được thằng ăn cắp rồi. Tại sao trò bất lương của hắn lại nên trả một cái giá rẻ kia chứ?

Hai ngày sau ông vào phòng lão bá tước. Một người khuân vác của khách sạn đi theo ông, anh ta đặt chiếc hộp bên trong có cái bát giả lên bàn rồi đi ra. Lão bá tước đang ăn sáng một mình. Lão đứng dậy và nhíu mày.

Crammon lặng lẽ mở chiếc hộp ra, nhấc cái bát lên, cẩn thận đánh bóng nó bằng một chiếc khăn tay, giữ nó trong bàn tay mình, đôi mắt giả vờ tỏ vẻ hao mòn vì lo lắng.

“Cái gì vậy?” lão bá tước hỏi, tái mặt đi.

Crammon kể lại cho lão ta nghe làm thế nào mà, do một sự tình cờ khó xảy ra nhất, ông đã phát hiện ra, ở trong một cửa hàng tại Brussels, cái bát này mà theo như ông được biết thì trong nhiều thế kỷ đã thuộc quyền sở hữu của nhà Ortenburg. Thế nên, chắc chắn là không cần phải có kỷ niệm đau buồn về người bạn lớn tuổi thân thương và đáng kính trọng của mình thì mới thuyết phục được ông trả món đồ quý giá này lại cho kho báu gia đình là nơi mà nó thuộc về. Ông xem việc chính mình là người khám phá ra cuộc mua bán đồ vật quý giá bất kính này là một vận may to lớn. Nếu là ai đó khác thì mối nguy hiểm của việc những cái lưỡi nói năng xằng bậy sẽ gây ra một vụ tai tiếng thực sự đã khá rõ ràng. Ông đã, ông nói tiếp, trả hai mươi ngàn franc để lấy cái bát, mà ông mang đến đây để trả lại cho nhà Ortenburg. Sử dụng tấm giấy biên nhận thế nào là tùy ở ông bá tước. Tất cả những gì ông thỉnh cầu ở ông bá tước là một tấm séc cho số tiền trên.

Ông không nói ra lời nào liên quan đến di chúc hay di sản, và không để lộ chút nghi ngờ nào về việc mình đã bị chơi khăm như thế nào. Lão bá tước đã hiểu. Lão nhìn cái bát giả ở trên bàn và đã nhận ra nó. Nhưng lão không đủ can đảm để phản đối. Lão nuốt giận, ngồi xuống viết tấm séc. Cằm lão run run vì phẫn nộ. Crammon hớn hở. Ông để cái bát giả lại đó, rồi lập tức lên đường đi Brussels lấy cái bát thật.

Thêm vào giỏ hàng thành công