QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XLII)
KAREN ENGELSCHALL
Một giờ sau họ và Stettner đã đến cảng. Hàng hóa và hành lý vẫn đang được xếp, và họ đi dạo, Stettner ở giữa Crammon và Christian, lên xuống một ngõ hẹp hai bên có những kiện bông, hộp, thùng, và rọ. Đèn hồ quang chiếu sáng rực rỡ từ trên các cây cột cao, và ầm ĩ tiếng xe bò và cần trục, những động cơ và các quả chuông, những tiếng la hét và còi cuộn xuyên sương mù. Nhựa đường ướt át; chẳng trông thấy bầu trời đâu.
“Ở đây trên mảnh đất già cỗi này đừng quên hẳn tôi đấy nhé,” Stettner nói. Tiếp theo sau đó là im lặng.
“Tôi không biết trong tương lai trên đất nước già cỗi này chúng ta có còn giàu có như trong quá khứ hay không,” Crammon, người thỉnh thoảng vẫn gặp phải những cuộc tấn công và linh cảm bi quan, nói. “Cho đến nay chúng ta vẫn chưa phải chịu đựng gì. Tủ thức ăn và tầng hầm của chúng ta đã đầy đủ, những nhu cầu cao hơn cũng không bị bỏ mặc. Nhưng thời thế đang trở nên tệ hơn, và, trừ phi tôi sai lầm, những đám mây đang tập trung lại trên đường chân trời chính trị. Vì thế, Stettner thân mến của tôi à, tôi không thể gọi việc lẳng lặng và hòa nhã chuồn đi là một ý kiến tồi. Tôi chỉ hy vọng ở bên đó anh sẽ tìm được một vị trí an toàn nào đó từ đấy anh có thể bình tĩnh xem cảnh tượng sụp đổ của chúng tôi. Và khi những con sóng đã dâng lên thật cao, thì anh có thể nghĩ về chúng tôi và cầu nguyện cho chúng tôi trong lễ mi xa, nghĩa là cho tôi, bởi vì Christian đã bị trục xuất khỏi sự đùm bọc của Giáo Hội Thiêng Liêng rồi.”
Stettner mỉm cười trước bài nói trên. Nhưng anh ta lại trở nên nghiêm túc ngay lập tức. “Tôi cũng thấy, về mặt nào đó, dường như tất cả chúng ta đều bị mắc bẫy ở đây. Tuy vậy tôi chưa bao giờ tự cảm thấy mình là người Đức một cách sâu sắc và nhiệt thành như vào khoảnh khắc này khi sắp sửa rời bỏ quê cha đất tổ có thể là mãi mãi. Nhưng trong cảm giác đó có vết đâm đau đớn. Tôi thấy giống như thể mình nên vội vàng chạy từ người này đến người kia để nói lời cảnh báo. Nhưng cảnh báo gì, hay tại sao phải cảnh báo thì tôi không biết.”
Crammon quan trọng trả lời. “Aglaia già thân mến của tôi hôm trước có viết thư cho tôi nói rằng cô ấy nằm mơ thấy những con mèo đen suốt cả đêm. Cô ấy thâm trầm, có linh hồn tiên tri, và những giấc mơ như thế báo điểm gở. Có thể tôi sẽ vào tu viện. Việc đó hoàn toàn có thể xảy ra. Đừng cười, Christian; đừng cười, cậu bé thân mến nhất đời ơi! Anh không biết tôi có thể làm gì đâu.”
Nhưng Christian đâu có ý định cười.
Stettner dừng lại chìa bàn tay mình ra cho hai người bạn kia. “Tạm biệt, Crammon,” anh ta thân ái nói. “Tôi rất biết ơn ông đã đi tiễn tôi. Tạm biệt, Christian thân mến, tạm biệt.” Anh ta siết chặt bàn tay Christian một lúc lâu. Rồi anh ta tự giằng mình ra, vội vàng đến cầu lên tàu, rồi biến mất vào đám đông.
“Một gã tốt,” Crammon rì rầm. “Một gã thật tốt. Tội nghiệp!”
Christian nói khi ô tô đến đón họ: “Tôi thích đi dạo bộ một chút, về khách sạn hay đâu đó cũng được. Ông đi không, Bernard?”
“Nếu anh muốn tôi đi cùng, thì đi. Đi bộ là định mệnh của tôi.”
Christian đuổi chiếc ô tô của chàng đi. Chàng có một dự cảm lạ lùng, như thể có điều gì đó hiểm nghèo đang nằm phục chờ mình vậy.
“Ariel không còn ở đây bao lâu nữa,” Crammon nói. “Bổn phận bắt tôi phải đi. Tôi phải chăm sóc cho hai bà già của mình. Rồi còn phải nhập bọn với Franz Lothar ở Styria. Chúng tôi sẽ săn gà trống truông. Tôi đã đồng ý sau đó sẽ gặp Sinsheim trẻ tuổi ở St. Moritz. Những kế hoạch của anh là gì, cậu bé thân mến của tôi?”
“Mai hoặc mốt tôi sẽ đi Berlin.”
“Và anh sẽ làm quái gì ở đó?”
“Tôi sẽ làm việc.”
Crammon dừng lại, và há mồm mình ra rất rộng. “Làm việc ư?” Ông thở hổn hển, hoàn toàn quẫn trí. “Việc gì? Để làm gì, Ôi kẻ lầm đường lạc lối?”
“Tôi sẽ nhận những học phần ở trường đại học, trong khoa y.”
Khiếp sợ, Crammon lắc đầu. “Làm việc ... những học phần ... y ... Thượng Đế nhân từ ơi, chuyện này có nghĩa là gì? Chưa đủ mồ hôi trên thế giới, chưa đủ tham vọng vụng về và khôn ngoan nửa vời và xấu xí và rối loạn vô ích sao? Anh không nghiêm túc.”
“Ông lại thổi phồng như thường lệ rồi, Bernard ạ,” Christian mỉm cười trả lời. “Đừng lúc nào cũng là một Jeremiah. Việc tôi sẽ làm là điều gì đó rất đơn giản và truyền thống. Và tôi sẽ chỉ thử thôi. Tôi có thể thậm chí không thành công; nhưng tôi phải thử. Chắc chắn là thế đấy.”
Crammon giơ bàn tay mình lên, chĩa ngón trỏ cảnh tỉnh, và nói với vẻ vô cùng nghiêm trọng: “Anh đang ở trên con đường tai hại đấy, Christian à, đó là con đường diệt vong. Tôi đã có dự cảm về những điều kinh khủng trong rất nhiều ngày rồi. Giấc ngủ đêm của tôi bị làm cho cay đắng; nỗi đau buồn gặm nhấm tôi và tôi không còn được bình yên nữa. Tôi đi săn trên núi thế nào khi biết anh đang ở giữa những tên Pharisee? Tôi ném sợi dây câu của mình xuống những dòng suối trong trẻo thế nào khi con mắt bên trong của tôi trông thấy anh đang cúi gập mình trên những quyển sách nhờn mỡ hay đang sờ mó những thân xác bệnh tật? Không rượu vang nào sẽ lấp lánh tuyệt đẹp trong cốc của tôi, không đôi mắt cô gái nào dường như thân thiện nữa, không quả lê nào cho tôi vị ngon tinh tế của nó nữa!”
“Ồ, không, không có chuyện đó đâu,” Christian nói, cười. “Hơn thế nữa: tôi hy vọng thỉnh thoảng ông sẽ đến thăm tôi, để tự thuyết phục mình rằng ông không cần phải vứt bỏ hẳn tôi đi.”
Crammon thở dài. “Quả thực tôi sẽ đến. Tôi phải đến và nhanh thôi, bằng không tâm hồn xấu xa sẽ điểu khiển anh hoàn toàn. Cầu Chúa ngăn cấm điều đó!”
XIX
Johanna đã kể cho Eva, người mà cô tôn thờ, nghe về cuộc đời mình. Nhờ thế mà Eva bất ngờ hiểu thấu những bí mật ảm đạm của cuộc sống trung lưu. Những điều Johanna kể nghe thật kinh khủng. Nhưng thật dễ chịu khi được đề nghị tặng nơi trú ẩn cho tâm hồn với chừng đó khao khát và trốn chạy.
Chính linh hồn cô ta cũng thường thấy mình dường như là kẻ đang trốn chạy. Nhưng cô ta có những bức tường thành của mình. Gió thời gian có vẻ lạnh lùng với cô ta, và khi cảm thấy khiếp sợ những con rối bận rộn mà dây điều khiển nằm trong hai bàn tay mình, thì cô ta trở nên cứng rắn hơn. Cô ta thấy mối tình bạn mà mình trao cho cô gái tận tụy này dường như là thời gian nghỉ ngơi giữa cuộc đua điên rồ của số phận mình.
Họ thân mật đến mức Susan Rappard phải phàn nàn. Susan mở to mắt ra và lòng ghen tị dẫn dắt bà ta đến chỗ trở thành một tên gián điệp. Bà ta nhận thấy mối quan hệ đã lớn lên giữa Johanna và Christian.
Bữa tối diễn ra rất vui. Johanna đã mua một số mũ lưỡi trai len, có chóp nhọn. Cô bọc chúng cẩn thận trong giấy trắng, viết những vần thơ hóm hỉnh lên mỗi bọc, rồi quý mến phân phát chúng cho những vị khách của Eva. Chẳng ai khó chịu. Vì dù tính lập dị chế giễu và dịu hiền của mình, thì ở cô vẫn có nét quyến rũ tước vũ khí của tất cả mọi người.
“Hôm nay em mới vui làm sao, Rumpelstilzkin à,” Eva nói. Cả cô ta cũng gọi Johanna bằng tên giễu đó. Chữ đó, mà cô ta phát âm với chút khó khăn, có vẻ quyến rũ kỳ lạ trên môi cô ta.
“Đây là niềm vui đi trước những giọt nước mắt,” Johanna trả lời, và chịu thua nỗi kinh hoàng mê tín cũng hoàn toàn như tâm trạng thích pha trò của mình.
Một chủ tàu giàu có mời Eva đến xem phòng trưng bày tranh cá nhân của mình. Nhà ông ta ở ngoại ô. Cô ta đi xe đến đó với Johanna.
Tay trong tay họ đứng trước những bức tranh. Và trong sự kết hợp mê mải đó có điều gì đó thanh khiết. Johanna yêu nó như yêu việc đọc thơ chung của họ, khi họ ngồi má hầu như chạm nhau. Bị hủy hoại trong niềm tôn thờ quên mình, cô quên điều ở đằng sau - cuộc sống bồn chồn, nhớp nháp, tham vọng đáng khinh của gia đình môi giới; cô quên điều ở phía trước – đàn áp và vũ lực, không thể tránh khỏi và đã được chỉ định.
Những cử chỉ của cô để lộ ánh sáng rực rỡ dịu dàng hòa nhã.
Cô có vẻ xanh xao trên đường họ trở về. “Em rét đấy,” Eva nói, rồi quấn áo choàng chặt hơn quanh bạn mình.
Johanna đầy biết ơn siết chặt bàn tay Eva. “Chị mới đáng yêu làm sao! Em mãi mãi cần có người nói cho em biết khi em nóng hay rét.”
Câu nói đùa u sầu này khiến cho Eva xúc động sâu sắc. “Tại sao em hành động khiêm tốn thế?” cô ta kêu lên. “Tại sao em co lại và ẩn nấp và quay đi không nhìn chính mình? Tại sao em không dám hạnh phúc?”
Johanna trả lời: “Chị không biết rằng em chỉ là một con Do Thái sao?”
“Thế ư?” đến lượt mình Eva hỏi. “Chị biết một số người Do Thái rất lạ thường - những con người kiêu hãnh, thông thái, sôi nổi nhất trên đời.”
Johanna lắc đầu. “Vào thời Trung Cổ những người Do Thái bị bắt buộc phải mang huy hiệu vàng trên quần áo,” cô nói. “Em mang huy hiệu vàng trên linh hồn.”
Eva đang khoác lên mình tấm áo dài mặc trong lúc uống trà. Susan Rappard đang giúp cô ta. “Chúng ta có gì mới không, Susan?” Eva vừa hỏi vừa lấy những chiếc móc ra khỏi mái tóc mình.
Susan trả lời: “Điều tốt lại không mới, còn điều mới lại không tốt. Con hề bé nhỏ xấu xí của cô đang có một câu chuyện tình với ngài Wahnschaffe. Họ rất kín đáo, nhưng vẫn có những tiếng thì thầm. Tôi không hiểu anh ta. Anh ta được an ủi thật dễ và nhanh. Tôi vẫn luôn nói rằng anh ta không có cả tâm trí lẫn trái tim. Bây giờ thì rõ là anh ta còn không có cả một đôi mắt nữa.”
Eva đã đỏ tím mặt. Bây giờ mặt cô ta tái nhợt. “Nói láo,” cô ta nói.
Giọng Susan rất khô khan. “Thật đấy. Hỏi cô ta mà xem. Tôi nghĩ rằng cô ta sẽ không chối điều đó đâu.”
Ngay sau đó Johanna lẻn vào trong căn phòng này. Cô mặc váy nhung đen, đơn giản làm nổi bật dáng vẻ quyến rũ. Eva ngồi trước tấm gương soi. Susan đang làm tóc cho cô ta. Cô ta cầm một cuốn sách trong tay và đọc mà không nhìn lên.
Trên ghế gần bàn trang điểm có hộp nữ trang mở. Johanna đứng trước nó, mỉm cười bẽn lẽn, và lấy từ đó ra một viên đá chạm cắt xinh đẹp, rồi nghịch ngợm đeo nó lên ngực mình; cô khâm phục nhìn một chiếc vương miện rồi đội nó lên tóc; cô đeo vài chiếc nhẫn và một vòng xuyến bằng ngọc trai ngoài tay áo mình. Trang điểm thế xong rồi, nửa do dự, nửa với vẻ tự chế giễu mình, cô tiến lại gần Eva.
Eva chầm chậm ngước mắt lên khỏi cuốn sách, nhìn Johanna, và hỏi: “Có thật không?” Cô ta để cho vài giây trôi qua, và rồi với đôi mắt mở to hơn hỏi thêm một lần nữa: “Có thật không?”
Johanna lùi lại, hai má tái nhợt đi. Cô nghi ngờ và đã biết và bắt đầu run rẩy.
Rồi Eva đứng dậy tiến lại gần Johanna và lột viên đá chạm ra khỏi ngực, chiếc vương miện ra khỏi tóc, những chiếc nhẫn ra khỏi các ngón tay, vòng xuyến khỏi cánh tay cô gái này, rồi ném những thứ này vào lại hộp. Rồi cô ta lại ngồi xuống, cầm cuốn sách lên, và nói: “Nhanh lên, Susan! Tôi muốn nghỉ ngơi một chút.”
Hơi thở của Johanna đã phản bội cô. Cô trông như người vừa bị đánh. Bông hoa dịu dàng trong tim cô đã bị nghiền nát mãi mãi, và từ bông hoa đột ngột khô héo đó bốc lên làn hơi độc phảng phất. Hầu như sắp ngất đến nơi, cô ra khỏi phòng.
Như thể để đánh dấu kết thúc cho một giai đoạn trong đời Johanna và cảnh báo cô về những điều tai hại sắp đến, chưa tới hai giờ sau cô nhận được điện tín từ mẹ mình thông tin cho cô biết về một tai họa lớn và khẩn cấp gọi cô về nhà. Tiểu thư Grabmeier lập tức thu xếp hành lý. Họ sẽ đón chuyến tàu lúc năm giờ sáng.
Từ nửa đêm trở đi Johanna ngồi chờ trong phòng Christian. Cô không thắp cây đèn nào cả. Trong bóng tối cô ngồi bên cạnh bàn, tựa đầu lên hai bàn tay. Cô bất động, mắt nhìn chằm chằm vào khoảng không.
XX
Vừa trò chuyện Christian và Crammon vừa đi tha thẩn càng lúc càng xa hơn vào trong những ngõ hẻm lộn xộn quanh cảng. “Chúng ta quay lại tìm lối ra thôi,” Crammon đề nghị. “Ở đây không thật sự tốt đẹp đâu. Thực ra là khu vực đáng nguyền rủa đấy.”
Ông chăm chú nhìn quanh, và Christian cũng nhìn quanh. Sau khi tiến thêm vài bước nữa, thì họ trông thấy có một gã đàn ông đang nằm sấp bụng trên vỉa hè. Hắn vật lộn dữ dội, rền rĩ những lời nguyền rủa tục tĩu, hăm dọa dứ nắm tay về phía một cánh cửa treo rèm đỏ, được chiếu sáng rực rỡ.
Bất thình lình cánh cửa này mở ra, rồi có thêm một gã nữa bay ra. Một hộp giấy, một cái ô, và một chiếc mũ derby bị ném ra theo sau hắn. Hắn vấp váp đi xuống những bậc tam cấp với hai cánh tay buông thõng, ngã xuống bên cạnh gã kia, rồi cứ ngồi đó với đôi mắt nặng nề.
Christian và Crammon nhìn qua cánh cửa mở. Hai mươi hay ba mươi người đang cúi xuống trong ánh sáng đầy khói. Nghe vang lên tiếng la hét đơn điệu của một người đàn bà. Thỉnh thoảng tiếng la hét đó lại trở nên chói tai hơn.
Cánh cửa kính kia đóng sập lại.
“Để tôi vào xem chuyện gì đang xảy ra trong đó,” Christian nói, rồi bước lên những bậc tam cấp đến cánh cửa. Crammon chỉ kịp thốt ra một lời cảnh báo khiếp sợ. Nhưng ông vẫn đi theo. Mùi whiskey rẻ tiền nồng nặc phả vào ông khi vào căn phòng đó sau Christian.
Những gã đàn ông và những ả đàn bà đang cúi mình bên cạnh những cái bàn và trên sàn nhà. Trong tất cả các góc đều có người nằm, đang ngủ hoặc đã say. Những đôi mắt đờ đẫn quay ra nhìn hai người mới vào. Những bộ mặt ở đây trông như các cục đất. Căn phòng, với những cái bàn, cốc và chai bẩn thỉu, có sự phối màu giữa đỏ tươi và vàng. Có hai gã rắn rỏi đứng đằng sau quầy.
Người đàn bà có tiếng hét vẳng ra phố đang ngồi trên băng ghế dài cạnh tường. Máu đang chảy xuống mặt cô ta, và cô ta vẫn tiếp tục thốt ra những tiếng rên rỉ đều đều và hầu như thú vật. Ở trước mặt cô ta, đang cố gắng nhiều để giữ cho mình đứng thẳng trên đôi chân giạng rộng, là gã khổng lồ mà Christian đã trông thấy tại đám tang công cộng của cô gái điếm đã bị giết chết. Bằng giọng khàn khàn, bằng những biệt ngữ đặc sệt dân Berlin, hắn đang gào lên: “Mày sẽ có được điều sẽ đến với mày! Tao sẽ cho mày thấy cái gì là cái gì! Tao sẽ thổi bay cái đầu chết tiệt của mày rồi thì mày có mà lên cung trăng để nhặt nó về!”
Đứng trên ngưỡng cánh cửa mở ở đằng sau là gã đàn ông to béo mang vô số đồ trang trí dây đeo đồng hồ lủng lẳng trên áo ghi lê ca rô. Hắn cắn điếu xì gà to béo giữa hai hàm răng vàng khè. Hắn chăm chú nhìn cảnh tượng trên với vẻ bình tĩnh cao ngạo. Đó là ông chủ của chốn này. Hắn nhướng lông mày khi trông thấy hai người lạ mặt. Ban đầu hắn cho họ là những thám tử, nên vội vàng ra gặp. Rồi hắn thấy mình đã nhầm và lại càng kinh ngạc hơn. “Xin mời vào văn phòng của tôi, thưa các quý ông,” hắn nói bằng giọng nhờn mỡ mà không lấy điếu xì gà xuống. “Xin hãy vào đó, và tôi sẽ mời các ông thứ gì đó ngon lành để uống.” Hắn nắm lấy cánh tay Christian lôi chàng đi. Một người đàn bà quấn khăn choàng đầu màu vàng đứng lên khỏi sàn nhà, chìa hai cánh tay về phía Christian, và xin mười pfennig. Christian lùi lại như tránh sâu bọ.
Có một ông già cố gắng ngăn không cho gã khổng lồ thô bạo kia đánh người đàn bà nọ chảy máu thêm nữa. Ông ta gọi hắn là Mesecke và xun xoe bợ đỡ hắn. Nhưng Mesecke giáng cho ông ta một cú đánh trúng dưới cằm nó khiến cho ông ta ngã lộn nhào và rên rỉ. Những tiếng rì rầm phản đối vang lên, nhưng chẳng có ai dám xúc phạm gã khổng lồ kia. Lão chủ thì thầm với Christian: “Thứ hắn muốn là xèng; muốn con kia lại lượn phố kiếm ít tiền. Ngay bây giờ chẳng có việc gì làm cả.”
Lão cũng túm cả tay áo Crammon, và kéo cả hai người qua cửa vào một hành lang tối. “Không biết hai quý ông có hứng thú với cơ ngơi của tôi không?” lão bồn chồn hỏi. Lão mở một cánh cửa rồi ép họ phải bước vào. Căn phòng họ vào được trang trí xa hoa một cách khiếm nhã bằng vải lông đỏ và những khung mạ vàng. Đó là một căn phòng bé nhỏ, đồ đạc lộn xộn. Những thanh gươm bắt chéo nhau được treo trên chùm lông công, và bên trên những thanh gươm này là chiếc mũ lưỡi trai sặc sỡ của một hội sinh viên. Giữa hai ô cửa sổ là cái bàn nghiêng đầy sổ sách. Một người đàn ông hốc hác có bộ mặt vàng vàng đang ngồi ghi số liệu vào sổ tại cái bàn này. Anh ta run rẩy khi lão chủ bước vào phòng, và chúi đầu vào công việc của mình một cách lại càng hăng hái hơn.
Lão chủ nói: “Tôi phải lo toan cho những quý ngài các ông nếu không thì có thể xảy ra chuyện đấy. Sau khi cái thằng khốn kia đã yên rồi thì các ông có thể ra xem. Tôi đoán các ông là những người lạ ở đây, có phải không?” Lão lấy một chai xuống khỏi kệ. “Brandy,” lão thì thầm. “Loại thượng hạng đấy. Hai ông phải thử nó. Tôi bán nó bằng chai và thùng. Số dách! Tóm được mày rồi!” Crammon chăm chú nhìn Christian, gương mặt chàng không có bất cứ dấu hiệu bất an nào. Với vẻ mặt u ám chàng đi đến bên bàn và, như thể mù quáng, đưa cốc mà lão chủ quán đã rót đầy rượu lên môi. Dù sao thì đó cũng là nơi ẩn náu tạm thời.
Trong khi đó từ phòng ngoài vẳng vào những tiếng động ầm ĩ đáng sợ. “Lại đánh nhau,” lão chủ nói, lắng tai nghe một lát, và rồi biến mất. Trong khoảnh khắc những âm thanh ầm ĩ kia vang lên càng dữ dội hơn. Rồi im lặng buông xuống. Người giữ sổ sách, không ngước bộ mặt sáp của mình lên, nói: “Không ai chịu nổi. Đêm nào cũng thế. Và những quyển sổ ở đây cho thấy tiền lãi. Lão Hillebohm đó là một triệu phú, và lão cào tiền vào ngày càng nhiều hơn bất chấp lòng thương xót, bất chấp lòng trắc ẩn. Không ai chịu nổi.”
Những lời trên nghe như của người điên.
“Chúng ta cứ để cho mình bị nhốt ở đây sao?” Crammon phẫn nộ hỏi. “Đây là hành động láo xược trắng trợn.”
Christian mở cửa, và Crammon rút từ túi sau của ông ra một khẩu súng lục ổ xoay Browning nó là người bạn đồng hành trung thành của ông. Họ đi xuyên qua hành lang rồi dừng lại trên ngưỡng cửa phòng ngoài. Mesecke đã biến mất. Nhiều cánh tay cuối cùng cũng đuổi được hắn đi. Người phụ nữ mà hắn đã cố gắng moi tiền đang rửa máu trên mặt mình. Ông già đã bị đánh khi cầu xin cho cô ta an ủi nói: “Thôi mày đừng gào lên nữa, Karen ạ. Mọi chuyện rồi sẽ tốt hơn thôi. Hãy kiên cường, tao nói thế đấy!” Người phụ nữ hầu như không nghe. Cô ta trông có vẻ nguy hiểm và tức giận.
Một mớ tóc vàng lộn xộn bốc lửa trên đầu cô ta, cao như mũ sắt và rối bù. Trong lúc đang chảy máu cô ta đã lấy bàn tay trần của mình lau máu rồi bôi lên tóc.
“Chúng mày về nhà ngay,” lão chủ ra lệnh. “Rửa mấy cái móng vuốt của mày đi rồi gửi lòng tôn kính của bọn tao lên Chúa nếu như mày trông thấy ông ấy. Nhanh lên, nếu không thằng người yêu của mày sẽ quay trở lại và cho mày thêm chút nữa đấy.”
Cô ta không động đậy. “Chà, thôi được rồi đấy, Karen,” một người đàn bà rít lên. “Nhanh lên. Mày muốn bị đánh nữa đấy à?”
Nhưng người phụ nữ đó không nhúc nhích. Cô ta thở nặng nhọc, và bất thình lình nhìn Christian.
“Đi với chúng tôi,” Christian bất ngờ nói. Mấy gã phục vụ cười rống lên. Crammon tuyệt vọng đặt bàn tay cảnh báo lên vai Christian.
“Đi với chúng tôi,” Christian bình tĩnh nhắc lại. “Chúng tôi sẽ đưa cô về nhà.”
Một tá đôi mắt đờ đẫn chòng chọc nhìn trò đùa trên. Một giọng nói gào lên inh tai: “Địa ngục, địa ngục, nhưng mày sắp có hàng thanh lịch đấy.” Một kẻ khác ngâm nga như thể đang ngắt nhịp những câu thơ: “Nếu điều đó không giết chết những con rệp, tôi không biết thay vào đó cái gì sẽ giết! Đừng sợ, Karen. Nhanh lên! Dùng đôi chân của mày đi!”
Karen đứng dậy. Cô ta vẫn nhìn Christian bằng đôi mắt bẽn lẽn và ảm đạm của mình. Vẻ đẹp của chàng đã làm cho cô ta choáng ngợp. Một nụ cười khúc khuỷu, hoảng sợ, hoài nghi trượt trên đôi môi đầy đặn của cô ta.
Cô ta khá cao lớn. Cô ta có đôi vai đẹp và bộ ngực nở nang. Cô ta đang mang thai – có lẽ năm tháng; điều đó rõ ràng khi cô ta đứng. Cô ta mặc váy xanh lục sẫm với những chiếc cúc óng ánh nhiều màu, và trên cổ là dải ruy băng đỏ rực được giữ bởi chiếc trâm bạc hình, cùng với những viên ngọc hồng lựu, chiếc gondola ở Venice, và mang dòng chữ: Ricordo di Venezia. Giày cô ta thô kệch và lấm bùn. Mũ của cô ta – được làm từ vải giả da dê non và trang trí những trái anh đào cao su - nằm bên cạnh cô ta trên ghế dài. Cô ta nắm chặt nó một cách hung dữ lạ lùng.
Christian nhìn dải ruy băng và chiếc trâm bạc mang dòng chữ: Ricordo di Venezia.
Crammon tìm cách tự bảo vệ họ. Bởi vì đám khách mới đang vào – đó là những gã có bộ mặt nguy hiểm. Ông chỉ nhượng bộ việc không thể tránh khỏi và không thể hiểu nổi, và nhất quyết giữ thể diện. Ông nghiến răng vì không thấy có sự bảo vệ chính đáng nào của cảnh sát, và thầm nhủ: “Chúng ta sẽ không sống sót thoát được ra khỏi cái ổ này đâu, ông già ạ.” Và ông nghĩ đến cái giường khách sạn tiện nghi, cái bồn tắm ngon ngọt, thơm phức, bữa ăn sáng tuyệt hảo, và hộp sô cô la trên bàn ăn. Ông nghĩ đến những cô gái trẻ tỏa ra hương thơm ngọt ngào tươi mát của đồ vải lanh, đến tất cả những hương thơm phưng phức dễ chịu, đến nụ cười của Ariel và niềm vui của Rumpelstilzkin, và đến chuyến tàu tốc hành nó sẽ đưa ông về Vienna. Ông nghĩ đến tất cả những điều trên như thể giờ phút cuối cùng của mình đã tới.
Có hai gã thủy thủ kéo theo giữa chúng một cô gái tái nhợt và cứng nhắc vì say bước vào quán. Bọn chúng thô bạo ném cô ta xuống sàn. Sinh linh này rền rĩ, và có vẻ khêu gợi kinh tởm, và dâm đãng lạ lùng trên mặt. Cô ta nằm đó cứng nhắc như tấm ván. Hai gã thủy thủ, với vẻ thách thức trong giọng nói, hỏi thăm Mesecke. Rõ ràng hắn đã gặp chúng và phàn nàn với chúng. Chúng muốn trả đũa lão chủ quán. Một trong hai gã có vết xây xát đỏ tươi trên trán; hai cánh tay gã còn lại để trần đến vai và dày đặc hình xăm xanh. Hình xăm miêu tả một con rắn, một bánh xe có cánh, một mỏ neo, một đầu lâu, một dương vật cương cứng, một chiếc vảy, một con cá, và nhiều hình khác nữa.
Cả hai gã thủy thủ đều dò xét nhìn Christian và Crammon bằng ánh mắt láo xược. Gã có hai cánh tay xăm trổ chỉ khẩu súng lục ổ xoay trong bàn tay Crammon, và nói: “Thề có Chúa, nếu như ông không đặt khẩu súng lục đó xuống kia thì tôi sẽ bắt ông phải làm như thế đấy!”
Gã còn lại tiến lại gần Christian và đứng sát vào chàng đến mức chàng phải tái mặt. Tính thô bỉ chưa bao giờ chạm vào chàng, những điều tục tĩu cũng chưa bao giờ bắn tóe lên quần áo chàng. Khinh bỉ và ghê tởm trỗi dậy sùng sục trong chàng. Những điều này có thể buộc chàng từ bỏ con đường mới của mình; bởi vì chúng kinh khủng hơn cảnh ác độc mà chàng đã chứng kiến trong nhà của Szilaghin.
Nhưng khi nhìn vào mắt gã đàn ông đó, thì chàng thấy rõ sự thật là gã không thể chịu đựng nổi cái nhìn của mình. Đôi mắt đó co giật, đảo qua đảo lại và lẩn trốn. Nhận thức đó mang lại cho Christian lòng can đảm và cảm giác về sức mạnh nội tâm vẫn còn chưa chắc chắn có hiệu lực đầy đủ hay không.
“Câm mồm đi!” lão chủ quán rống lên với hai gã thủy thủ. “Tao muốn trật tự. Bọn mày muốn cảnh sát đến đây hả? Việc đó sẽ tốt cho tất cả chúng ta sao? Bọn mày hơi điên phải không? Con đó có thể đi với mấy quý ông đây, nếu như họ thanh toán tiền cho nó. Hai ly champagne - vị chi một mark năm mươi. Và như thế là chấm hết.”
Crammon đặt một đồng hai mark lên bàn. Karen Engelschall đội mũ của mình lên đầu, rồi đi ra cửa. Christian và Crammon theo sau cô ta, và lão chủ quán theo sau họ với vẻ lịch sự mỉa mai, trong khi hai gã phục vụ rắn rỏi hình thành thêm một đội bảo vệ. Một vài gã đàn ông nửa tỉnh nửa say gửi theo sau họ những giai điệu của một bài ca chế nhạo.
Ngoài phố không một bóng người. Karen chăm chú nhìn ngược xuôi, và hình như không chắc chắn mình nên đi hướng nào. Crammon hỏi cô ta sống ở đâu. Cô ta gay gắt trả lời rằng mình không muốn về nhà. “Thế bọn tôi phải đưa cô về đâu bây giờ?” Crammon hỏi, tự ép mình phải kiên nhẫn và chu đáo. Cô ta nhún vai. “Việc đó không quan trọng,” cô ta nói. Rồi, sau một lát, cô ta bướng bỉnh nói thêm. “Tôi không cần hai người.”
Họ đi về phía cảng, Karen ở giữa hai người đàn ông. Được một lát thì cô ta dừng lại rồi vừa nói rì rầm vừa rùng mình sợ hãi: “Nhưng mình không được tình cờ gặp hắn. Không, mình không được.”
“Cô đề xuất gì đó đi chứ?” Crammon nói với cô ta. Ông chỉ muốn chuồn, nhưng vì Christian, và trong niềm hy vọng sẽ lành lặn thoát ra khỏi mạng lưới những cuộc phiêu lưu này, ông đóng vai người quan tâm và thương cảm.
Karen Engelschall không trả lời, mà rảo bước đi nhanh hơn khi trông thấy bóng người dưới ánh sáng của một cây đèn phố. Đến khi đã thoát khỏi tầm mắt của nó rồi thì cô ta mới kinh hoàng thở hổn hển.
“Chúng tôi cho tiền cô nhé?” Crammon lại hỏi.
Cô ta dữ dội trả lời: “Tôi không cần tiền của ông. Tôi không muốn tiền.” Cô ta lén lút chăm chú nhìn Christian, rồi mặt trở nên độc ác và ương ngạnh.
Crammon chuyển sang đi bên cạnh Christian, và nói với chàng bằng tiếng Pháp. “Tốt nhất là đưa cô ta đến quán trọ nào đó là nơi cô ta có thể có được một căn phòng có giường. Chúng ta có thể đặt trước ở đó một khoản tiền, để cô ta được che chở một thời gian. Rồi cô ta có thể tự lo lấy.”
“Rất đúng. Như thế là hay nhất,” Christian đáp. Và, như thể không chịu nổi việc nói điều đó với cô ta, chàng nói thêm: “Ông nói với cô ấy đi.”
Karen dừng lại. Cô ta so vai như thể bị lạnh, và nói bằng giọng khàn khàn: “Để cho tôi yên. Hai người đang nói chuyện gì vậy? Tôi sẽ không đi thêm bước nào nữa đâu. Tôi mệt rồi. Đừng để ý đến tôi!” Cô ta tựa vào tường một ngôi nhà, mũ bị đẩy tới trước trán. Cô ta là đối tượng trông có vẻ đáng thương hại và hao mòn nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra.
“Kia có phải biển hiệu một quán trọ không nhỉ?” Crammon hỏi và chỉ vào một tấm biển hiệu được chiếu sáng ở tít tận cuối phố.
Christian, người có đôi mắt rất tinh, nhìn và trả lời: “Phải. Nó ghi ‘Vua Hy Lạp.’ Đến hỏi thử xem.”
“Thật là một khu vực và công việc đáng yêu,” Crammon ai oán nói. “Tôi đang phải trả giá vì những tội lỗi của mình đây mà.” Nhưng ông vẫn đi.
Christian ở lại với người phụ nữ đó, cô ta đang nhìn xuống một cách lặng lẽ và tức giận. Những ngón tay cô ta cào vào dải ruy băng. Christian lắng nghe tiếng chuông từ tháp đồng hồ. Nó gióng lên hai tiếng. Cuối cùng Crammon cũng xuất hiện lại. Ông vẫy tay từ xa và kêu lên: “Xong rồi.”
Christian lần đầu tiên nói với cô gái. “Chúng tôi đã tìm được cho cô một chỗ ẩn náu,” chàng nói, giọng hơi khàn khàn, và, hoàn toàn trái với thói quen của mình, nhấp nháy mắt. Giọng Christian vang lên nghe thật đáng ghét với chính đôi tai chàng. “Cô có thể ở đó vài hôm.”
Cô ta nhìn chàng bằng đôi mắt sáng rực ánh căm thù. Một ánh tò mò không thể miêu tả nổi nhưng mang điềm gở cháy bùng lên trong cái nhìn của cô ta. Rồi cô ta lại nhìn xuống. Christian buộc phải nói tiếp: “Tôi nghĩ ở đó cô sẽ được an toàn không phải gặp người đàn ông kia nữa. Hãy cố gắng nghỉ ngơi. Có lẽ cô ốm rồi đấy. Chúng tôi sẽ gọi bác sĩ.”
Cô ta bật lên một tiếng cười khẽ, mỉa mai. Hơi thở của cô ta có mùi whiskey.
Crammon lại gọi.
“Đi nào,” Christian nói, khó khăn kiềm chế nỗi ác cảm trong lòng mình.
Giọng nói và lời lẽ của Christian cũng gây được ấn tượng choáng ngợp lên cô ta như diện mạo chàng. Cô ta bắt đầu đi như thể đang bị đẩy tới từ phía sau.
Gã gác cửa ngái ngủ mang dép lê đang đứng trước cửa quán trọ. Thái độ lịch sự hèn hạ của gã chứng minh rằng Crammon đã biết phải đối đãi với gã như thế nào. “Phòng số 14 trên tầng ba còn trống đấy ạ,” gã nói.
“Để đến mai hãy cử người đến chỗ trọ của cô để lấy đồ,” Crammon khuyên cô gái.
Cô ta dường như không nghe ông. Không một lời cảm ơn hay chào hỏi, cô ta theo gã gác cửa đi lên tấm thảm đỏ bẩn thỉu trải cầu thang. Có thể nghe rõ tiếng những quả anh đào cao su gõ lên vành mũ của cô ta. Hình hài vụng về đó biến mất vào bóng tối.
Crammon thở phào nhẹ nhõm. “Vương quốc của ta lấy một cỗ xe bốn bánh [Phỏng theo câu Vương quốc của ta lấy một con ngựa trong vở kịch Richard III của Shakespeare – ND],” ông than vãn. Họ tìm được một chiếc tắc xi ở góc phố gần đó.
