QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XLI)
KAREN ENGELSCHALL
XIV
Christian, anh em nhà Maelbeek, những người đã đi theo Eva từ Hà Lan, Botho von Thungen, một hội viên hội đồng nhà nước người Nga tên Koch, và Crammon ngồi tại bữa tiệc trưa trong phòng ăn lớn của khách sạn.
Họ đang nói chuyện về một người đàn bà đứng đường đã bị giết chết. Cảnh sát đã bắt được tên sát nhân. Hắn từng thuộc về xã hội tốt, nhưng dần dà suy đồi. Hắn đã bóp cổ người đàn bà này và cướp của cô ta trong một quán rượu dành cho thủy thủ.
Bây giờ tất cả gái điếm trong thành phố đều đồng lòng kiên quyết cho người chị em của họ, người đã hy sinh cuộc sống của mình cho nghề nghiệp của cô ta, thấy dấu hiệu kính trọng cuối cùng và thực sự công khai, và đi theo quan tài của cô ta đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Những công dân đáng kính của Hamburg cảm thấy việc này là một kiểu thách thức và đã phản đối. Nhưng không có điều khoản hợp pháp nào ngăn chặn được cuộc biểu tình này.
“Phải xem cảnh tượng đó,” Crammon nói, “thậm chí nếu có phải hy sinh giấc ngủ trưa của chúng ta.”
“Thế thì không còn thời gian để phí đâu,” Maelbeek anh nói, và nhìn đồng hồ của mình. “Những người bạn đó sẽ tập trung ở nhà tang lễ vào đúng ba giờ.” Anh ta mỉm cười, và nghĩ cách diễn đạt vấn đề như thế hóm hỉnh hơn.
Christian nói rằng chàng cũng sẽ đi. Chiếc ô tô đưa họ đến một ngã tư thì bị cảnh sát chặn lại. Đến đây họ ra khỏi xe, và ngài von Thungen đã thuyết phục được viên đại úy cảnh sát cho họ đi qua.
Họ lập tức bị một đám rất đông những con người thấp kém vây quanh - thủy thủ, ngư dân, thợ thuyền, đàn bà, và trẻ em. Cửa sổ của các ngôi nhà đầy những cái đầu. Anh em Maelbeek và Koch dừng lại ở đây, và gọi Thungen nhập bọn với họ. Christian đi xa hơn. Không biết làm sao mà cách cư xử của những người bạn mình đã làm chàng khó chịu. Chàng cảm thấy nỗi tò mò tràn đầy trong họ là điều gì đó không hay. Chàng cũng tò mò, nhưng theo cách khác. Hoặc, ít nhất, với chàng nó dường như là thế.
Crammon vẫn ở bên cạnh chàng. Nhưng đám đông đã trở nên ầm ĩ hơn. “Anh đang đi đâu đấy?” Crammon cáu kỉnh hỏi. “Có đi xa hơn cũng chẳng để làm gì. Chúng ta chờ ở đây thôi.”
Christian lắc đầu.
“Thôi được. Tôi sẽ đứng đây,” Crammon quyết định, và tách khỏi Christian.
Chàng đi đến ngôi nhà cũ, bẩn thỉu mà cỗ xe tang đang đậu trước cửa. Đó là một ngày mù sương. Cỗ xe ngựa giống như lỗ đen trên nền xám. Christian muốn đi xa hơn chút nữa, nhưng những gã trẻ tuổi nào đó đã cố ý cản đường chàng. Họ quay đầu lại, xem xét, và nghi chàng là “người quý phái.” Quần áo họ rẻ tiền và lòe loẹt; khuôn mặt và cử chỉ cho thấy rõ họ làm nghề buôn bán gì. Trong số họ có một gã khổng lồ trẻ tuổi. Gã cao hơn Christian đến nửa cái đầu, có hai hàng lông mày giao nhau trên sống mũi. Gã đeo nhẫn đá carnelian đồ sộ trên ngón trỏ của bàn tay trái.
Christian hoàn toàn không lo sợ nhìn quanh mình. Chàng trông thấy hàng trăm phụ nữ, hàng trăm theo đúng nghĩa đen, tuổi từ mười sáu đến năm mươi, trong tình trạng từ đương hoa đến tuyệt đối tàn tạ, từ xa xỉ đến giẻ rách và rác rưởi.
Tất cả bọn họ tập trung lại - những người đã qua thời xuân sắc, và những người chỉ vừa mới lớn, nhẹ dạ, lạc quan, hão huyền, và đã vấy bẩn bùn nhơ của thành phố vĩ đại. Họ đến từ tất cả các phố; được tuyển dụng từ mọi quốc gia và tầng lớp; một số trốn khỏi tuổi thơ được che chở, số khác trỗi dậy từ những lòng sâu còn kinh khủng hơn; có những người tự cảm thấy mình hạ đẳng và trong đôi mắt họ có nỗi căm thù của kẻ bị xã hội ruồng bỏ, và có những người khác tỏ ra có chút tự hào nhất định về nghề nghiệp của mình nên có vẻ kiêu ngạo. Chàng trông thấy những bộ mặt hoài nghi và tiều tụy, những bộ mặt đáng yêu và dày dạn, thờ ơ và lo lắng, những bộ mặt tham lam và hiền lành. Một số tô son trát phấn và một số xanh xao vàng vọt; những người xanh xao vàng vọt dường như trần trụi lạ lùng.
Chàng quen thuộc với họ từ những con phố và những ngôi nhà trong nhiều thành phố, như mọi đàn ông. Chàng biết loại người này, hạng người không bao giờ biến mất này, điệu bộ và ánh mắt mà họ đã có – ánh mắt khổ cực, cứng nhắc, đần độn, dai dẳng, không có ánh sáng này. Nhưng trước đó chàng chưa bao giờ trông thấy họ trừ khi đang thực hiện chức năng đằng sau những cánh cổng nghề nghiệp, đang che giấu cái tôi thực sự và ở dưới lời nguyền rủa của tình dục. Thấy hàng trăm người bọn họ được tách ra khỏi tất cả những điều trên, thấy họ như những con người được lột bỏ tác nhân kích thích và hơi thở của một cuộc sống tình dục ngầu bùn – điều đó dường như đã quét một đám mây ra khỏi đôi mắt chàng.
Bất thình lình chàng nghĩ: “Mình phải ra lệnh bán ngôi nhà nghỉ săn bắn, và cả những con chó săn nữa.”
Cỗ quan tài đang được đưa từ trong nhà ra. Nó phủ đầy những bông hoa và vòng hoa; những dải ruy băng với những câu đề tặng mạ vàng rung rinh từ những vòng hoa. Christian cố gắng đọc những câu đề tặng, nhưng không thể. Cỗ quan tài có những bàn chân nhỏ, mạ bạc trông như chân mèo. Vì tai nạn nào đó mà một trong số chúng đã gãy, và điều này khiến cho Christian, chàng hầu như không biết tại sao, xúc động và vô cùng thương xót. Có một bà già đi theo sau cỗ quan tài. Bà ta dường như khó chịu và tức giận thì đúng hơn là kiệt sức vì đau buồn. Bà ta mặc váy đen, nhưng đường nối dưới một cánh tay đã rách toạc. Và cả điều đó nữa dường như cũng vô cùng đáng thương xót.
Cỗ xe tang khởi hành. Sáu người đàn ông cầm những cây nến cháy đi bộ đằng trước nó. Những giọng nói rì rầm tắt lặng. Những người phụ nữ, bốn người một, đi theo sau cỗ xe tang. Christian đứng im nép sát vào một bức tường, và để cho đám rước đi ngang qua bên cạnh mình. Mười lăm phút sau con phố hoàn toàn hoang vắng. Cửa sổ của những ngôi nhà đã bị đóng lại. Chàng còn lại một mình trên phố, trong sương mù.
Vừa bỏ đi chàng vừa nghĩ: “Mình đã nhờ cha chăm nom bộ sưu tập nhẫn. Có hơn bốn ngàn chiếc, và nhiều trong số đó xinh đẹp và đắt tiền. Cũng có thể bán cả chúng nữa. Mình không cần chúng. Mình sẽ bảo bán chúng.”
Chàng cứ đi lang thang mãi, không biết gì đến thời gian đang trôi đi. Màn đêm buông xuống, và ánh đèn thành phố chiếu sáng xuyên qua sương mù. Mọi thứ đều trở nên ẩm ướt, ngay đến cả đôi găng trên hai bàn tay chàng.
Chàng nghĩ đến cái chân gãy trên cỗ quan tài của cô gái điếm bị giết chết, và đường nối rách trên váy của bà già kia.
Chàng đi qua một trong những cây cầu lớn trên sông Elbe, và rồi đi bộ dọc theo bờ sông. Đó là một khu vực hoang vắng. Chàng dừng lại gần quầng ánh sáng của một cây đèn phố, nhìn chăm chú xuống dòng nước, rút ví, lấy ra tờ giấy bạc một trăm mark, lật nó qua lại trong hai bàn tay mình, lắc đầu, và rồi, với cử chỉ ghê tởm, ném nó xuống nước. Chàng rút ra một tờ thứ hai và cũng làm giống như thế. Có hai mươi tờ giấy bạc trong ví. Chàng rút chúng ra từng tờ một, rồi với vẻ vừa ghê tởm, vừa mơ màng đó, chàng để cho chúng trượt xuống sông.
Những ngọn đèn phố chiếu sáng một vùng nước nhỏ tối đen như mực, và chàng trông thấy những tờ giấy bạc trôi giạt đi.
Rồi chàng mỉm cười và đi tiếp.
XV
Khi về khách sạn chàng cảm thấy thèm hơi ấm khủng khiếp. Chàng lần lượt vào thư viện, sảnh đón khách, phòng ăn. Tất cả những nơi này đều được sưởi ấm kỹ lưỡng, nhưng hơi ấm của chúng là không đủ với chàng. Chàng cho mình ớn lạnh vì đã đi bộ quá lâu trong sương mù ẩm ướt.
Chàng vào thang máy và đi lên dãy phòng của mình. Chàng thay quần áo, quấn mình ấm áp, rồi ngồi xuống bên cạnh lò sưởi, trong đó hơi nước kêu xì xì như con thú bị nhốt trong lồng.
Thế mà chàng vẫn không thấy ấm người lên. Cuối cùng thì chàng cũng biết rằng cơn run rẩy của mình không phải do ẩm ướt và sương mù, mà do một nguyên nhân nào đó ở trong lòng.
Đến gần mười một giờ thì chàng đứng dậy đi ra ngoài hành lang. Những bức tường trát vữa được phân ra thành nhiều ô vuông lớn bởi những đường gờ mạ vàng; sàn nhà phủ thảm lắp vào nhau cho có vẻ liền mạch. Christian cảm thấy khiếp sợ trước tất cả những tráng lệ giả dối đó. Chàng tiến lại gần bức tường, sờ lên lớp vữa, và nhún vai khinh bỉ.
Ở cuối hành lang dài đó là dãy phòng của Eva. Mấy lần chàng đi ngang qua cánh cửa kia. Chàng nghe tiếng đàn dương cầm lúc lại đi ngang qua nó. Người ta chỉ nhẹ nhàng chạm vào vài phím đàn. Chàng gõ cửa sau một lát suy nghĩ, mở cửa, rồi bước vào.
Trong phòng chỉ có Susan Rappard. Quấn mình trong áo choàng lông, bà ta đang ngồi bên cây dương cầm. Bà ta đang đọc cuốn sách nằm trên giá nhạc. Những ngón tay ma quái lướt mau lẹ trên các phím đàn, nhưng lâu lâu bà ta mới ấn một phím. Bà ta quay đầu lại thô lỗ hỏi: “Ngài muốn gì, Monsieur?”
Christian trả lời: “Nếu có thể, tôi muốn nói chuyện với Madame. Tôi muốn hỏi cô ấy một điều.”
“Bây giờ ư? Vào ban đêm ư?” Susan kinh ngạc. “Chúng tôi mệt rồi. Chúng tôi luôn mệt vào ban đêm trong vùng thời tiết cực Bắc này, nơi mặt trời là huyền thoại. Sương mù đè nặng lên chúng tôi. Tạ ơn Chúa, bốn ngày nữa là đến buổi trình diễn cuối cùng của chúng tôi rồi. Rồi chúng tôi sẽ đến nơi có bầu trời xanh ngắt. Chúng tôi khao khát Paris.”
“Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu được gặp Madame,” Christian nói.
Susan lắc đầu. “Tính kiên nhẫn của anh thật lạ lùng,” bà ta hiểm độc nói. “Tôi không ngờ anh lãng mạn đến thế đấy. Tôi đảm bảo là anh đang theo đuổi một đường lối thực sự ngu ngốc. Tuy vậy, cứ vào đi, nếu anh muốn. Ce petit laideron est chez elle, demoiselle Schontag [Cả cái cô Schontag bé nhỏ xấu xí đó cũng đang ở đây đấy - tiếng Pháp – ND]. Cô ta đóng vai thằng hề. Mọi chuyện trên đời đều vui nhộn đối với cô ta – chính bản thân cô ta cũng không phải là ít vui nhộn nhất. Ồ, cả điều đó nữa cũng sắp chấm dứt rồi.”
Nghe vang lên những giọng nói và tiếng cười trong trẻo. Cửa phòng Eva mở ra, và cô ta cùng Johanna xuất hiện trên ngưỡng. Eva mặc trang phục trắng đơn giản, không tô điểm gì trừ viên đá thạch anh lớn màu xanh giữ váy trên vai trái. Làn da cô ta sáng như hổ phách, hai cánh mũi phập phồng để lộ nỗi khó chịu ngấm ngầm. Người phụ nữ xinh đẹp và người phụ nữ xấu xí đứng đó bên cạnh nhau, mỗi người một ý thức nhạy bén về những phẩm chất chính xác của mình: người này tràn đầy sức sống, quyến rũ, rộn ràng xuất chúng và tự do; người kia chỉ có tôn thờ và tham vọng khao khát sức sống và tự do đó.
Johanna dịu dàng và tế nhị vòng cánh tay ôm Eva và tựa má lên bờ vai trần của bạn. Cô nói với nụ cười kỳ quái của mình: “Không ai biết vì sao tên em lại là Rumpelstilzkin.”
Họ vẫn chưa thấy Christian. Susan làm cử chỉ kêu gọi họ hãy chú ý đến chàng. Họ đứng trong bóng cửa. Johanna tái mặt, ánh mắt e thẹn hướng từ Eva sang Christian. Cô buông Eva ra, cúi nhanh xuống hôn lên bàn tay cô ta, rồi vừa chạy ngang qua Christian vừa thì thầm nói lời chúc ngủ ngon.
Dù nhìn xuống, nhưng đôi mắt của Christian vẫn thấy rõ hình ảnh Eva. Chàng trông thấy đôi bàn chân mà mình từng một lần được nắm giữ trần trụi trong hai bàn tay; chàng trông thấy bộ ngực bé nhỏ săn chắc tuyệt mỹ dưới thứ phục trang trong suốt; chàng trông thấy hai cánh tay đã từng ôm ấp mình và hai bàn tay hoàn hảo đã từng vuốt ve mình. Toàn bộ con người thể xác của chàng vẫn còn sôi nổi cảm thấy những vuốt ve êm ái mềm mại đó. Và chàng trông thấy cô ta ở trước mặt mình, thật gần nhưng vô vọng không thể với tới, cảm thấy niềm quyến rũ cuối cùng và sự từ bỏ sau chót.
“Monsieur đây có điều muốn thỉnh cầu,” Susan Rappard giễu cợt nói, và chuẩn bị rời bỏ họ.
“Ở lại!” Eva ra lệnh, và nhìn Christian như thằng hầu.
“Anh muốn hỏi em,” Christian nhẹ nhàng nói, “ý nghĩa của tên Eidolon mà em từng gọi anh. Anh biết, bây giờ mới hỏi thì muộn rồi, và hôm nay câu hỏi này có thể dường như là ngu ngốc.” Chàng mỉm cười ngượng ngập. “Nhưng anh đau khổ vì không hiểu nó khi nghĩ đến, nên quả quyết sẽ hỏi em.”
Susan lặng lẽ bật cười. Trong sự gấp rút muộn màng và vô mục đích của nó, câu hỏi trên, quả thực, nghe có vẻ hơi ngu ngốc thật. Eva hình như cũng buồn cười, nhưng cô ta che giấu điều đó. Cô ta nhìn hai bàn tay mình và nói: “Thật khó để nói với anh nó có nghĩa là gì - một điều gì đó mà người ta hy sinh, hay một vị thần để ta hy sinh, một tâm hồn đáng yêu và trong sáng. Nó có nghĩa là từng điều trên hay có lẽ đồng thời cả hai. Nhắc lại nó với chúng tôi làm gì? Không còn Eidolon nữa. Eidolon đã vỡ nát, và không nên cho tôi thấy những mảnh vỡ đó. Chúng thật xấu xí.”
Eva thoáng rùng mình, và đôi mắt cô ta rực sáng. Cô ta quay sang phía Susan. “Ngày mai hãy để em ngủ cho đến khi thức giấc. Gần đây em gặp phải những giấc mơ quái quỷ, và phải đến gần sáng mới ngủ được.”
XVI
Lúc ra lại hành lang Christian thấy một hình bóng đứng im bất động trong bóng tranh tối tranh sáng. Chàng nhận ra Johanna, và cảm thấy rằng chính định mệnh đã bắt cô phải đứng đó chờ mình.
Johanna không nhìn chàng; cô nhìn xuống sàn nhà. Chàng đến rất gần cô mới ngước mắt lên, rồi bẽn lẽn nhìn đi nơi khác. Miệng cô run rẩy, một câu hỏi lấp lửng trên môi. Cô đã biết tất cả những chuyện đã qua giữa Eva và Christian. Việc họ từng là tình nhân chỉ càng làm tăng thêm mối khâm phục hăng hái mà cô dành cho cả hai người. Nhưng việc vừa mới diễn ra giữa họ - sự hiện diện ngắn ngủi của cô đã khiến cô chắc chắn về tính chất của nó - đối với cô dường như vừa đáng xấu hổ vừa không thể hiểu nổi.
Cô giàu trí tưởng tượng và nhạy cảm, và yêu những người cao thượng kiêu hãnh; và đau khổ khi có một niềm kiêu hãnh và phẩm giá cao thượng như thế bị hạ nhục. Cô hiến dâng toàn bộ trái tim mình cho lý tưởng về tâm hồn lỗi lạc. Đôi khi cô hiểu lầm lý tưởng của chính mình, và xem hình hài và kiểu cách bên ngoài như biểu hiện của nó. Và phần linh hồn này, mà cô không sánh kịp, thỉnh thoảng lại đẩy cô vào sức mạnh của tính phù phiếm đơn thuần. “Muộn rồi,” cô rụt rè thì thầm. Đó không phải là câu nói; đó là nỗ lực tự cứu chính mình. Mỗi lần nhắc đến Christian, là có ba điều lại đập vào tâm trí cô: vẻ thanh lịch, lòng kiêu hãnh đẹp đẽ, và sức mạnh với mọi trái tim của chàng. Đó là sự kết hợp kêu gọi và khuấy động và làm cho cuộc sống của cô tràn đầy khát khao.
Vì thế nên cô theo Crammon đi tìm kiếm cuộc phiêu lưu lớn này, dù chỉ một giờ sau khi gặp đã nói về ông thế này: “Ông ấy là diễn viên hài to lớn và lố bịch.” Cô đi theo ông như nô lệ đi đến chợ nô lệ, hy vọng sẽ được khalif [Quốc vương Hồi giáo – ND] để mắt đến.
Nhưng cô không có niềm tin vào sức mạnh của chính mình. Cô tình nguyện và cố ý bóp vụn những đam mê của con người mình thành các khát khao bé nhỏ. Cô đau khổ vì chính quá trình đó và cười nhạo chính mình. Cô quá nhút nhát để xem điều mình muốn là lớn lao. Cô nhấm nháp cuộc sống và không có được tính chất phiêu lưu của những cuộc thưởng thức lớn. Và cô chế giễu chính bản chất bất hạnh của mình, rồi lại càng đau khổ nhiều hơn.
Và giờ đây chàng đang đứng trước mặt cô. Điều đó làm cho cô hoảng sợ và ngạc nhiên, ngay dù đã chờ đợi chàng. Vì chàng đã ở lại, nên cô muốn nghĩ rằng chàng táo bạo và can đảm. Nhưng vì không thể, nên cô lại lập tức tự khinh bỉ mình. “Muộn rồi,” cô lại thì thầm, gật đầu chúc ngủ ngon, rồi mở cửa phòng mình.
Nhưng Christian lặng lẽ cầu xin bằng vẻ mặt hấp dẫn không thể cưỡng nổi. Chàng vượt qua ngưỡng cửa sau cô gái run rẩy. Khuôn mặt cô trở nên cứng rắn. Nhưng cô quá tốt để chơi trò làm đỏm. Trước khi máu kịp chảy mạnh thì đôi mắt cô đã đầu hàng. Vẻ xanh xao trên mặt cô chiếu sáng nó bằng nét quyến rũ mới. Không còn dấu vết xấu xí nào nữa. Kỳ vọng giông bão trong tim hài hòa với những đường nét trên mặt cô và làm cho chúng tan chảy ra thành vẻ êm ái, dịu hiền, và duyên dáng.
Cô an tâm rằng mình có sức mạnh với những giác quan của đàn ông. Cô đã kiểm tra từ tính với những người mà người ta đồng ý ít và cho còn ít hơn. Những lời tán tỉnh đã được sử dụng như thuốc giảm đau trong nhóm xã hội của cô. Người ta chơi trò ăn miếng trả miếng sai lầm, và lẩn tránh những khoảnh khắc nghiêm túc bằng thỏa thuận lặng im. Nhưng đêm nay kinh nghiệm của cô đã phản bội cô, bởi vì ở đây không có nhẹ nhàng mà chỉ có khổ hạnh. Đêm nay cô dâng hiến mình, lãng quên tương lai và những trách nhiệm của nó.
XVII
Stephen Gunderam phải đi Montevideo. Trong thành phố đó có ông bác sĩ người Đức khá giỏi trong việc điều trị những rối loạn thần kinh; và gã khổng lồ cổ bò đực này đang phải chịu đựng chứng mất ngủ và những ảo giác về đêm. Vả chăng, Stephen đã đặt cược lớn vào kết quả của cuộc đua thuyền buồm nhẹ sẽ diễn ra ở Montevideo.
Anh ta bổ nhiệm Demetrios và Esmeralda làm người canh gác Letitia. Anh ta nói với họ: “Nếu như có bất cứ chuyện gì xảy ra với vợ tôi hay cô ta làm việc gì đó không đứng đắn, là tôi sẽ bẻ gãy từng cái xương trong cơ thể của mấy người đấy.” Demetrios cười toe toét. Còn Esmeralda thì ra lệnh cho anh ta khi trở lại phải mang về cho mình một hộp kẹo.
Cuộc chia ly thật cảm động. Stephen cắn tai Letitia, và nói: “Phải thành thật với anh đấy nhé.”
Letitia ngay lập tức bắt đầu lợi dụng tính tình của những người canh gác mình. Nàng cho Demetrios một trăm peso và Esmeralda một vòng tay vàng. Nàng bí mật thư từ với viên trung úy hải quân, Friedrich Pestel. Có một thằng bé Anh điêng, mà nàng chắc chắn về tính kín đáo và đáng tin cậy, làm người đưa tin. Một tuần nữa tàu của Pestel sẽ đi Cape Town, vì thế nên không còn nhiều thời gian nữa. Anh ta không nghĩ rằng mình có thể quay lại Argentina cho đến mùa Đông tiếp theo. Và Letitia yêu anh ta tha thiết.
Cách điền trang hai dặm có một đài thiên văn trên đồng cỏ hoang vắng. Một người Đức chăn nuôi gia súc giàu có đã xây nó, và bây giờ có một ông giáo sư người Đức và hai phụ tá của ông ta đang sống và ngắm bầu trời ở đó. Letitia vẫn thường đòi đi xem đài thiên văn này, nhưng Stephen lúc nào cũng từ chối không để cho nàng đi thăm nó. Giờ đây nàng định biến nó thành quang cảnh cuộc gặp gỡ giữa mình với Friedrich Pestel. Nàng khao khát muốn có một cuộc chuyện trò dài với anh ta.
Dùng đài thiên văn làm nơi trú ẩn cho đôi tình nhân đau khổ – đó là ý nghĩ làm Letitia vui sướng và khiến cho nàng sẵn sàng liều bất cứ việc mạo hiểm nào. Ngày giờ được ấn định, và tất cả mọi điều kiện đều thuận lợi. Riccardo và Paolo đang đi săn; Demetrios đã được cha cử đến một trang trại xa tít ở phía Bắc; những người già đã ngủ. Chỉ còn phải đánh lừa một mình Esmeralda nữa thôi. May sao mà cô gái này bị nhức đầu, và Letitia thuyết phục được cô ta lên giường. Khi lúc chạng vạng đến gần, Letitia khoác lên mình tấm áo dài sáng, nhẹ mà lúc mặc nàng vẫn có thể cưỡi ngựa được. Nàng không do dự dù đang mang thai. Rồi, làm như thể sắp đi dạo một cách vô tội, nàng ra khỏi nhà và đi tiếp đến đại lộ trồng cọ, nơi thằng bé Anh điêng đang chờ với hai con ngựa Pony.
Thật tuyệt khi được cưỡi ngựa tự do ra ngoài đồng bằng bất tận. Đằng Tây vẫn còn quầng ánh sáng màu đỏ nhạt, trong đó nhô lên đường viền giống như ren của dãy núi. Đất đang khô hạn; đã lâu trời không mưa, trên bề mặt có những vết nứt ngoằn ngoèo. Trên đồng có hàng trăm bẫy châu chấu với hố ở đằng sau, sâu từ hai đến ba mét, đầy thứ côn trùng đó.
Khi nàng đến đài thiên văn, thì trời đã tối. Công trình đó giống như một ngôi nhà cầu nguyện ở phương Đông. Từ cấu trúc gạch thấp trồi lên một vòm sắt đồ sộ, phần trên xoay quanh trục chuyển động được. Những ô cửa sổ chớp đã bị đóng lại, và không trông thấy có chút ánh sáng nào. Friedrich Pestel đang chờ ở cổng; anh ta đã buộc con ngựa của mình vào một cây cột. Anh ta nói với nàng rằng ông giáo sư và hai phụ tá đi vắng đã một tuần rồi. Tuy nhiên nàng và anh ta, anh ta thêm, vẫn có thể vào công trình này. Ông bõ, một người da trắng lai đen già, hay bị sốt, đã đưa chìa khóa cho anh ta.
Thằng bé Anh điêng thắp cây đèn xách mà nó đã mang theo bằng cách buộc vào yên ngựa của mình. Pestel cầm đèn, đi trước dẫn đường Letitia qua hành lang gạch hoang vắng, rồi lên cầu thang gỗ và cuối cùng là lên một cầu thang sắt xoắn ốc. “Số mệnh thật tốt với chúng ta,” anh ta nói. “Tuần sau sẽ có nhật thực, và những nhà thiên văn từ châu Âu sẽ đến Buenos Ayres. Ông giáo sư và phụ tá đã đi đón họ.”
Trái tim Letitia đập rất nhanh. Dưới vòm cao của đài thiên văn, quầng ánh sáng bé nhỏ từ cây đèn xách chỉ gây được ấn tượng yếu ớt nhất. Kính thiên văn vĩ đại là cái bóng đáng sợ; các dụng cụ vẽ và chụp ảnh trên giá trông giống như những bộ xương động vật; những tấm bản đồ trên tường, với các chấm và đường thẳng lạ lùng, khiến nàng liên tưởng đến ma thuật. Đối với nàng toàn bộ căn phòng này dường như giống hang động phù thủy.
Tuy vậy vẫn có nụ cười tò mò và thỏa mãn như trẻ thơ trên môi Letitia. Trí tưởng tượng bị bỏ đói của nàng cần một giờ như thế này. Nàng đã quên Stephen và tính ghen tuông của anh ta, những người anh em lúc nào cũng cãi nhau, ông già ranh ma, Donha Barbara đanh đá, Esmeralda phản bội, ngôi nhà trong đó mình đã sống như một tù nhân – nàng đã quên hoàn toàn tất cả những điều đó trong căn phòng này với những dụng cụ ma thuật, trong bóng tối chỉ được chiếu sáng lờ mờ bởi ánh lập lòe của cây đèn xách, bên cạnh người đàn ông trẻ quyến rũ chỉ lát nữa thôi sẽ hôn nàng. Ít nhất, nàng hy vọng rằng anh ta sẽ hôn.
Nhưng Pestel rụt rè. Anh ta tiến lại gần kính thiên văn, vặn ốc nắp đậy bằng đồng thau sáng bóng, rồi nói: “Chúng ta ngắm những vì sao nào.” Anh ta nhìn vào. Rồi anh ta bảo Letitia làm giống như thế. Letitia trông thấy đám sương mù như sữa và những ánh lửa nhấp nhô, lóe sáng. “Chúng là những vì sao ư?” nàng hỏi, với vẻ u sầu làm đỏm trong giọng nói.
Rồi Pestel nói với nàng về những vì sao. Nàng lắng nghe với đôi mắt sáng ngời, dù không hề hứng thú muốn biết cách trái đất một khoảng nhiều triệu dặm cả Sirius và Aldebaran tình cờ tồn tại như thế nào, và bí ẩn về những vùng trời phương Nam làm cho các nhà khoa học bối rối chính xác là gì.
“A,” nàng thì thào, và có âm điệu ham mê và thái độ hoài nghi mơ màng trong âm thanh đó.
Chàng trung úy, không nói về vũ trụ vô tận nữa, mà về bản thân và cuộc đời mình, về Letitia và ấn tượng mà nàng đã gây được lên anh ta, và về việc cả ngày lẫn đêm anh ta chỉ nghĩ về một mình nàng.
Letitia vẫn rất, rất bất động để khỏi xoay những ý nghĩ của anh ta sang hướng khác và vì thế mà quấy rối tâm trạng hồi hộp ngọt ngào của mình.
Là người được làm cho phù hợp với lương tâm phát triển cao, Pestel không nghi ngờ gì nữa đã lên những kế hoạch cho tương lai. Sáu tháng sau khi anh ta đã trở về, thì phải tìm ra những cách thức và phương tiện để Letitia ly hôn với Stephen và tái hôn với anh ta. Anh ta nghĩ chạy trốn chỉ là biện pháp cực đoan.
Pestel nói với nàng rằng mình nghèo. Anh ta chỉ đứng tên một khoản vốn rất nhỏ ở Stuttgart. Anh ta là một người Suabia - thật thà, tỉnh táo, và đúng đắn.
“A,” Letitia lại thở dài, nửa kinh ngạc nửa buồn rầu. “Điều đó không quan trọng,” nàng dứt khoát nói. “Em giàu. Em sở hữu một vùng đất trồng rừng mênh mông. Bác gái em, nữ bá tước Brainitz, đã tặng nó cho em làm quà cưới.”
“Một khu rừng ư? Ở đâu?” Pestel hỏi, và mỉm cười.
“Ở Đức. Gần Heiligenkreuz trong vùng Rhon. Nó rộng lớn như một thành phố, và sau khi đem bán sẽ mang về một khoản tiền lớn. Em chưa bao giờ đến đó, nhưng nghe nói nó có một trầm tích lớn của một mỏ quặng nào đó. Phải tìm ra và khai thác mỏ quặng này. Rồi em thậm chí còn giàu hơn nếu bán khu rừng đó.” Những sự việc này đã lớn lên trong trí tưởng tượng của Letitia; họ là những đứa trẻ của các giấc mơ và ao ước mà nàng đã ấp ủ từ khi sống đời nô lệ trên mảnh đất lạ lùng này. Nàng không nói dối; nàng đã quên hoàn toàn rằng mình bịa ra tất cả những chuyện trên. Letitia quá ao ước chuyện này, nên nó đã trở thành hiện thực trong tâm trí nàng.
“Thế thì tốt quá, tốt không thể tin nổi,” Pestel trầm ngâm bình luận.
Những lời nói của anh ta làm cho Letitia xúc động. Nàng bắt đầu khóc nức nở và nép mình vào ngực anh ta. Nàng thấy cuộc đời non trẻ của mình dường như khó khăn và xấu xí và bị những mối hiểm họa vây quanh. Chẳng có gì nàng hy vọng đã trở thành hiện thực. Tất cả những bong bóng xà phòng đẹp đẽ đó đều vỡ tung trong gió. Nước mắt nàng tuôn ra vì hiểu sâu sắc việc này và vì sợ hãi loài người và vì số phận mình. Nàng mong mỏi được bảo vệ an toàn trong một vòng tay mạnh mẽ.
Cả Pestel cũng xúc động. Anh ta ôm và đánh bạo hôn lên trán nàng. Nàng khóc nức nở lại càng đáng thương hơn, và vì thế nên anh ta hôn lên đôi môi nàng. Rồi nàng mỉm cười. Anh ta nói rằng sẽ yêu nàng đến chết, rằng chưa từng có người phụ nữ nào khiến cho anh ta có những cảm xúc như thế này.
Nàng thú nhận với anh ta rằng mình đang mang trong bụng đứa con của người chồng mà nàng không yêu nhưng bị ràng buộc. Pestel siết chặt nàng vào ngực anh ta, và nói: “Đứa trẻ là máu của máu em, nên anh sẽ xem nó như chính con mình.”
Thời gian đang trôi nhanh một cách nguy hiểm. Nắm lấy bàn tay nhau họ đi xuống những cầu thang. Họ chia tay với lời hứa rằng sẽ viết thư cho nhau hàng ngày.
“Khi chàng từ châu Phi về mình sẽ bỏ trốn đi theo chàng trên con tàu của chàng,” Letitia kiên quyết, khi nàng chậm chạp cưỡi ngựa băng ngang qua đồng bằng tối tăm để về nhà. Mọi chuyện khác dường như đều xấu xí và buồn chán đối với nàng. “Ôi, giá mà chuyện đó mau mau xảy ra,” nàng nghĩ trong nỗi lo lắng và đau buồn của mình. Và nàng tò mò muốn biết Pestel sẽ cư xử và làm chủ những nguy hiểm và khó khăn rắc rối như thế nào. Nàng tin ở anh ta, và buông mình vào những giấc mơ về tương lai dịu dàng và lôi cuốn.
Trong nhà cuối cùng người ta cũng nhận ra sự vắng mặt của nàng, nên đã cử đám người hầu ra ngoài tìm. Nàng lẻn vào trong nhà bằng những lối mòn mờ tối, rồi hiện ra từ phòng mình với vẻ thơ ngây.
XVIII
Stettner đã trở lại Hamburg. Con tàu của anh ta sẽ giong buồm ra khơi vào chính tối hôm đó. Anh ta có vài việc vặt trong thành phố, Christian và Crammon chờ để tiễn anh ta ra bến tàu.
Crammon nói: “Một đại úy kỵ binh châu Âu bất thình lình xuất hiện trong bộ thường phục – tôi không thể đừng được, đối với tôi trong chuyện này có điều gì đó thật tuyệt vọng. Tôi cảm thấy như thể mình đang tiến hành một cuộc viếng thăm chia buồn bất tận. Rốt cuộc, anh ta đã bị giáng cấp, và tôi không thích người ở trong hoàn cảnh đó. Đẳng cấp xã hội là thể chế thiêng liêng; người cản trở sẽ làm cho chính nhân cách mình bị thương. Người ta không ném nghề nghiệp của mình đi như quẳng quả táo thối sang một bên. Đây là những vấn đề tế nhị và khó khăn. Lẽ thường có thể không để ý đến; nhưng trí thông minh cao hơn tôn kính chúng. Anh ta sẽ làm gì giữa bọn Yankee? Điều tốt đẹp gì có thể đến từ đó?”
“Anh ấy có xu hướng hóa học, và uyên thâm trong giới hạn của mình,” Christian trả lời. “Điều đó sẽ giúp ích.”
“Bọn Yankee quan tâm gì đến điều đó? Nhiều khả năng hơn anh ta sẽ bị tiêu thụ và chà đạp. Anh ta sẽ bị lột bỏ lòng kiêu hãnh và tự trọng. Đó là đất nước của những thằng ăn cắp, những thằng hầu bàn, và những thằng phản bội. Anh ta đã phải đến nước ấy rồi sao?”
“Phải,” Christian trả lời, “tôi tin anh ấy đã như thế rồi đấy.”
