favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XII)

QUẢ ĐỊA CẦU TRÊN NHỮNG ĐẦU NGÓN TAY CỦA CON YÊU TINH

VII

Những khổ thơ đó có nét dịu ngọt và sự xuất thần nội tại; nhạc tính của chúng bị bóp nghẹt và biến đổi vô cùng, nhiều vần điệu nhưng thẹn thùng và nửa phần bị che giấu.

“Tuyệt vời,” Denis Lay nói, anh ta hiểu cặn kẽ tiếng Đức.

Và Crammon nói: “Nó giống như một bức họa cổ ở trên kính vậy.”

“Điều khiến tôi khâm phục nhất,” Denis nói, “là nó đưa hình bóng thánh Francis đến rất gần người ta với cái phẩm chất cortesia [Tính lịch sự, nhã nhặn - tiếng Ý – ND] kỳ diệu đó mà ông ta có nhiều hơn tất cả những thánh khác.”

Cortesia ư? Nó có nghĩa chính xác là gì vậy?” Wiguniewski hỏi. “Có phải nó có nghĩa là tính nhã nhặn khiêm nhường và mộ đạo không?”

Eva đứng dậy. “Đúng vậy,” cô ta nói, “đúng là như thế.” Và hai bàn tay cô ta làm một cử chỉ mê hồn. Tất cả mọi người đều nhìn cô ta, cô ta nói thêm: “Cho thứ của tôi, và chỉ xuất hiện để lấy thứ của người khác, đó là cortesia.”

Trong suốt cuộc chuyện trò này Christian không chan hòa với những người khác. Vẻ cau có hiển hiện trên gương mặt chàng. Ngay trong lúc thi sĩ đang đọc thơ chàng hầu như không thể ngồi yên vị. Chàng không biết điều gì đã khởi nghĩa bên trong mình và làm cho mình khó chịu đến thế. Bóng ma nhạo báng và khinh miệt trong chàng tìm cách chui ra. Chàng gọi Denis Lay với vẻ lãnh đạm vờ vịt, và bắt đầu nói chuyện với anh ta về con ngựa giống mà Lay muốn bán còn Christian thì muốn mua. Chàng đã đề nghị mua nó với giá bốn mươi ngàn franc. Giờ đây chàng đề nghị bốn mươi lăm ngàn, và nói to đến mức tất cả mọi người đều nghe thấy. Crammon bước đến bên cạnh chàng như thể để bảo vệ.

“Eidolon!” Eva bất thình lình kêu lên.

Christian nhìn cô ta với vẻ biết lỗi. Mắt họ gặp nhau. Những người khác im lặng vì kinh ngạc.

“Con ngựa này ở bất cứ đâu cũng đáng giá đó,” Christian lẩm bẩm, không rời mắt khỏi Eva.

“Đi thôi, Susan,” Eva quay sang phía Susan, miệng cong lên vẻ gay gắt và khinh miệt. “Anh ta biết cách đấu kiếm và mua bán những con ngựa như thế nào. Về cortesia thì anh ta chẳng biết gì cả. Chúc ngủ ngon, thưa các quý ông.” Cô ta cúi chào rồi lướt qua những tấm trướng màu xanh lá.

Mọi người sửng sốt ra về.

Về phòng, Eva đổ phịch người xuống một cái ghế, gục mặt vào hai bàn tay trong niềm cay đắng của linh hồn. Susan ngồi trên sàn nhà bên cạnh cô ta, đợi chờ trong nỗi niềm băn khoăn. Mười lăm phút sau bà ta đứng dậy lấy những cái móc ra khỏi mái tóc Eva và bắt đầu chải tóc cho cô ta.

Eva trơ ì. Cô ta đang nghĩ về ông thầy của mình và điều mà ông ta đã dạy cho cô ta.

VIII

Dưới đây là những điều mà ông thầy đó đã dạy cho cô ta: Rèn luyện cho thân xác ta phải sợ hãi và tuân theo tinh thần. Thứ ta tặng cho thể xác vượt quá nhu cầu sẽ biến ta thành nô lệ của nó. Không bao giờ là kẻ bị cám dỗ. Cám dỗ kẻ khác, và ta sẽ luôn luôn thấy con đường của mình. Hãy là một bí mật với kẻ khác bằng không ta sẽ trở nên thô tục với chính ta. Chỉ dâng hiến hoàn toàn bản thân cho công việc. Những mê đắm thế tục của giác quan làm cằn cỗi con tim. Điều một người thực sự nhận được từ người khác không bao giờ là sự đầy đủ của giờ khắc hoặc linh hồn, mà chỉ là cặn bã và rác rưởi kết quả muộn và một cách vô ý thức.

Cô ta chỉ mới mười hai tuổi khi, bị những người làm trò tung hứng thuyết phục và đáp lại tiếng gọi của số phận, rời bỏ ngôi nhà của mình tại một thị trấn nhỏ hẻo lánh ở vùng Franconia [Một vùng đất ở Đức – ND]. Lúc bấy giờ cô ta vẫn còn cách rất xa ông thầy của mình. Nhưng con đường là tiền định.

Cô ta không bao giờ đánh mất chính mình. Cô ta đã vượt qua những khó khăn và suy đồi như con sơn dương vượt qua những tảng đá mòn và vực thẳm. Tất cả những ai trông thấy cô ta giữa gánh xiếc rong đều cho rằng cô ta là đứa con bị bắt cóc của những bậc cha mẹ quyền quý. Trên thực tế, cô ta là con gái của một nhạc sĩ vô danh tên là Daniel Nothafft và một cô hầu gái. Cô ta gắn bó với cha bằng tình cảm mơ màng của lòng xót thương và khâm phục; cô ta không bao giờ biết mẹ mình, và vì thế mà gạt bỏ cái tên nghe rất dở của bà ta đi.

Cô ta đã quen với việc qua đêm trong những túp lều và kho thóc. Ở những thị trấn gần biển, cô ta thường ngủ trong hang hốc trên những vách đá, trên mình quấn một tấm mền. Cô ta biết bầu trời đêm với những đám mây và những vì sao của nó. Cô ta cũng đã từng ngủ trên rơm giữa những con vật, bên cạnh những con lừa và chó, trên cỗ xe bò ọp ẹp, chất quá nặng, đi trên những con đường xuyên qua mưa tuyết. Đó là cuộc sống lãng mạn nó làm người ta nghĩ đến một thời đại khác.

Cô ta đã phải tự may lấy trang phục cho mình và hàng ngày đều phải thực hiện những bài tập khó khăn dưới ngọn roi của người trưởng gánh xiếc. Nhưng cô ta học ngôn ngữ của những nơi mình đi qua, và bí mật mua tại các phiên chợ trong các thành phố những cuốn sách của những nhà thơ sử dụng thứ ngôn ngữ đó. Cô ta lén đọc, đôi khi đọc những trang bị xé ra khỏi những cuốn sách để dễ che giấu hơn, Béranger, Musset, Victor Hugo, và Verlaine [Những thi hào lớn của nước Pháp sống vào thế kỷ XVIII – XIX – ND].

Cô ta bước đi trên sợi dây thừng căng thẳng, không có tấm lưới bảo vệ ở bên dưới, được buộc từ trụ chống này sang trụ chống kia ngang qua bãi họp chợ trong những ngôi làng, và cô ta đi vững chãi như thể đang ở trên mặt đất. Hay cô ta diễn chung với con gấu cái nhảy múa hoặc với năm con chó xù đóng trò nhào lộn. Cô ta cũng là một nghệ sĩ xà treo, và tiết mục hay nhất của cô ta là nhảy từ con ngựa đang phi nước đại này sang con ngựa đang phi nước đại kia. Khi cô ta biểu diễn tiết mục đó đàn thùng sẽ ngừng chơi để người xem có thể nhận thấy họ đang được xem một tiết mục khác thường như thế nào. Cô ta mang cái đĩa xin tiền đi trên sợi dây thừng, và ánh mắt cô ta thuyết phục nhiều kẻ định lẻn đi phải thọc tay vào túi.

Đó là trong những ngôi làng và những thị trấn nhỏ nằm dọc theo dòng sông Rhône [Sông lớn ở châu Âu, bắt nguồn từ Thụy Sĩ, chảy qua miền Đông Nam nước Pháp, đổ ra Địa Trung Hải – ND] mà lần đầu tiên cô ta đã được một khán giả đi lại khó khăn trên hai cây nạng để ý đến. Ông ta đi theo gánh xiếc rong từ nơi này sang nơi khác, và do toàn bộ sự chú ý chỉ dán vào Eva, nên rõ ràng là đã làm việc đó vì cô ta.

Sau hai năm sống lang thang như thế, cô ta gặp phải một cơn sốt thương hàn ở Lyons [Thành phố tọa lạc ở phía Đông Nam nước Pháp – ND]. Bạn bè gửi cô ta vào bệnh viện. Họ không thể chờ đợi, nhưng một thời gian sau người trưởng gánh xiếc sẽ quay lại đón cô ta. Khi ông ta quay lại thì cô ta chỉ mới bắt đầu hồi phục. Thốt nhiên cô ta trông thấy người đàn ông chống nạng ở bên giường mình. Ông ta kéo người trưởng gánh xiếc sang một bên và người ta có thể thấy họ nói chuyện với nhau về tiền. Từ cái siết tay của ông chủ cũ, Eva biết rằng đây sẽ là lần cuối cùng mình gặp ông ta.

IX

Tên người đàn ông chống nạng là Lucas Anselmo Rappard. Ông ta cứu sống Eva và làm cho cô ta thức tỉnh. Ông ta dạy cho cô ta nghệ thuật nhảy múa. Ông ta chăm lo cho cô ta, và sự chăm lo này khá chuyên chế. Ông ta không trả lại tự do cho cô ta cho đến khi cô ta đã trở thành tất cả những gì mà ông ta mong muốn cô ta trở thành.

Ông ta đã sống ẩn dật ở Toledo [Thành phố ở miền Trung Tây Ban Nha – ND] trong một thời gian dài, bởi vì trong cái thành phố Tây Ban Nha này có ba hay bốn bức họa bồi thường cho cuộc sống tách biệt khỏi thế giới náo nhiệt của ông ta. Ông ta còn thấy rằng mặt trời Tây Ban Nha sưởi ấm mình vô cùng, và rằng mình thích những người dân ở nơi đây.

Dù tật nguyền nhưng mỗi năm một lần ông ta đều chu du lên phương Bắc để được gần đại dương. Và giống như những con người thời xưa, ông ta chậm chạp đi từ nơi này sang nơi nọ. Cô em gái Susan của ông ta là một người bạn đồng hành luôn luôn đáng tin cậy. Vào một trong những chuyến trở về của mình, ông ta đã trông thấy Eva một cách hoàn toàn tình cờ. Những phiên chợ làng trên vùng đất này từ lâu vẫn thu hút ông ta. Và ở đó ông ta bất ngờ tìm thấy một thứ gì đó nó khuấy động cơn bốc đồng sáng tạo trong ông ta. Đó là nguồn cảm hứng của một nhà điêu khắc. Ông ta nhìn hình thể bằng con mắt tâm trí. Đây là thứ chất liệu phù hợp với bàn tay ông ta. Hình bóng Eva thắp sáng lại trong ông ta cái ý tưởng mà từ lâu ông ta đã tuyệt vọng trong việc ban tặng cho một sự thể hiện sáng tạo.

Ban đầu, ông ta gọi toàn bộ việc này là một ý thích bất chợt nảy ra. Nhưng sau đó, đắm chìm trong nhiệm vụ của mình, ông ta biết rằng cái tình cảm mãnh liệt này là tình cảm của Pygmalion [Vua Cyprus, yêu nữ thần Aphrodite và cho tạc tượng nữ thần này (theo thần thoại Hy Lạp) – ND].

Lúc bấy giờ ông ta khoảng bốn mươi tuổi hoặc hơn một chút. Khuôn mặt không râu của ông ta xương xẩu, vẻ nông dân, cục mịch. Nhưng nếu quan sát kỹ hơn sẽ thấy trí tuệ tỏa sáng xuyên qua da thịt. Đôi mắt xám lục nhạt, sâu hoắm trong hai hốc, có cái nhìn quá lôi cuốn đến mức làm cho người khác phải ngạc nhiên, thậm chí hoảng sợ.

Người đàn ông đáng chú ý này có nguồn gốc và số phận cũng không kém phần đáng chú ý. Cha ông ta là một ca sĩ người Hà Lan và mẹ ông ta là một người Dalmatia [Vùng đất ở Croatia – ND]. Họ đã trôi giạt đến Courland [Vùng đất ở Latvia – ND], nơi một căn bệnh dịch đã giết chết cả hai người hầu như đồng thời. Hai đứa trẻ được đưa vào một trường vũ ba lê của nhà hát ở Riga [Thủ đô Latvia – ND]. Lucas Anselmo tỏ ra xứng đáng có được những hy vọng tươi sáng nhất. Khả năng mềm dẻo và nhanh nhẹn vô song của cậu ta vượt trội tất cả mọi thứ cho đến lúc đó đã được trông thấy ở một vũ công trẻ tuổi. Vào tuổi mười bảy, cậu ta đã được nhảy múa ở Scala tại Milan, và khiến cho công chúng phải bày tỏ một mối nhiệt tình hiếm có. Nhưng đó là một thành công không đúng lúc – quá muộn hoặc quá sớm. Toàn bộ nhân cách của cậu ta có điều gì đó lạ lùng và được cấy ghép một cách khác thường; và chẳng bao lâu sau cậu ta đã trở nên xa lạ với chính mình và những sức mạnh ở bên trong cuộc sống của mình. Ở tuổi hai mươi, cậu ta gặp phải một cơn sầu muộn bệnh hoạn.

Tình cờ sao mà lúc đó cậu ta lại sắp trình diễn ở Petrograd. Một quý bà trong triều còn trẻ nhưng vừa mới lấy chồng đã yêu cậu ta. Bà ta thuyết phục cậu đến thăm mình vào một đêm nào đó trong một ngôi biệt thự ở phía bên kia thành phố. Nhưng ông chồng bà ta đã được cảnh báo trước. Ông ta biện hộ cho sự cần thiết của một chuyến đi để bà vợ được yên tâm. Rồi cùng với những tên hầu, ông ta lao vào buồng ngủ của đôi tình nhân, đánh đập cậu bé dã man, trói cậu ta lại rồi ném trần truồng ra ngoài tuyết. Anh chàng vũ công bất hạnh nằm sáu tiếng ở đây, giữa cái rét thấu xương.

Một trận ốm thập tử nhất sinh và đôi chân tật nguyền vĩnh viễn là kết quả của cuộc phiêu lưu dữ dội này. Susan chăm sóc cho cậu và không bao giờ rời cậu quá một giờ. Cô vẫn luôn luôn khâm phục và yêu thương cậu. Giờ đây cô tôn thờ cậu. Cậu đã kiếm được một cái gia tài nho nhỏ, và một khoản thừa kế về phía bà mẹ đã làm tăng nó lên, nhờ thế mà cậu có thể sống được một cách độc lập.

Một con người mới lớn lên ở trong cậu. Tình trạng tàn tật mang lại cho tâm trí cậu sự kiên cường và sức mạnh mà thể xác cậu đã từng có. Cậu xâm nhập vào tất cả các khía cạnh của cuộc sống hiện đại một cách kỳ lạ; và trên nỗi đau, thất vọng, và sự quên mình, cậu xây dựng một con đường dẫn từ những giác quan đến tâm trí. Cậu đoán thấy việc chuyển đổi từ một vũ công sang một kẻ tật nguyền của mình là cực kì quan trọng như thế nào. Cậu tìm kiếm một ý kiến và một quy luật; và sự đối nghịch gay gắt giữa vẻ điềm tĩnh ở bên ngoài với sự vận động ở bên trong, giữa sự điềm tĩnh ở bên trong với vẻ bồn chồn ở bên ngoài, dường như là quan trọng đối với cậu dù cho có giải thích về nhân loại và thời đại như thế nào đi chăng nữa.

Ở tuổi hai mươi hai, anh ta bắt đầu nghiên cứu tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp và tiếng Phạn. Anh ta trở thành một sinh viên thực thụ, và tham gia vào các khóa học tại các trường đại học ở Đức. Và cái anh sinh viên lạ lùng này, đi lại trên hai cây nạng, đã thường xuyên là đối tượng của tính tò mò. Ở tuổi ba mươi, anh ta đi du lịch cùng với Susan sang Ấn Độ, và sống bốn năm ở Delhi và Benares. Anh ta kết giao với những Brahmin [Người có đẳng cấp cao nhất trong bốn đẳng cấp của xã hội Ấn Độ cổ đại, cụ thể là giáo sĩ và học giả Bà La Môn – ND] uyên bác và nhận được những bài học thần bí từ họ. Có lần anh ta được trông thấy một giáo sĩ Tây Tạng hầu như là một huyền thoại, người đã sống tám mươi năm trong một cái hang ở trên núi, và là người bị bóng tối vĩnh hằng khiến cho mù lòa, nhưng nỗi cô đơn trường cửu đã biến thành một vị thánh. Việc được trông thấy con người sống trăm tuổi này làm cho anh ta xúc động, đến mức lần đầu tiên trong đời đã rơi nước mắt. Giờ đây anh ta đã hiểu tính chất thánh thiện và tin vào nó. Và ông thánh này nhảy múa: ông ta nhảy múa vào lúc bình minh, hướng đôi mắt mù lòa của mình về phía mặt trời.

Anh ta đã được trông thấy những lễ hội tôn giáo trong những thành phố đền đài dọc sông Hằng, và cảm thấy cuộc sống không là gì cả và cái chết lãnh đạm như thế nào khi trông thấy hàng trăm người chết vì dịch hạch dập dềnh trôi theo dòng nước. Anh ta đã để cho mình được đưa vào trong những khu rừng hoang nguyên thủy, và đã trông thấy ở khắp mọi nơi trong cái cuộn rối như tơ vò của sự sống và cái chết đó việc sinh vật này đang lấy đi hình hài và sinh lực của sinh vật kia – suy tàn đang sinh nở và thối rữa đang ra hoa. Anh ta đã được nghe nói đến một thành phố được xây dựng bằng đá hoa cương của một ông vua nào đó, ngụ ở đó chỉ có những cô gái nhảy múa được những giáo sĩ dạy dỗ. Khi da thịt héo hon và chân tay đã mất đi sự nhanh nhẹn, họ sẽ bị giết chết. Họ đã thề trinh trắng, và không ai được phép tiếp tục sống nếu phá vỡ lời thề đó. Anh ta đã đến cái thành phố hoang đường này nhưng không được phép vào. Ban đêm anh ta trông thấy lửa trên những mái nhà và nghe thấy những bài ca của những nàng vũ nữ trinh trắng kia. Thỉnh thoảng anh ta thấy mình hình như nghe một tiếng hét lên của cái chết.

Cái đêm đó, với những ngọn lửa và những khúc ca của nó, với những nàng vũ nữ không được trông thấy và những tiếng hét lên không rõ ràng của nó, đã tích trữ những nguồn năng lượng mới trong linh hồn anh ta.

X

Ông ta đưa Eva đi Toledo cùng với mình. Ông ta thuê ngôi nhà mà người ta nói là nơi họa sĩ El Greco đã từng cư ngụ.

Ngôi nhà là một khối lập phương màu xám, bên trong khá hoang vắng. Những con mèo chia sẻ nơi ở này, cùng với cú, dơi và chuột.

Một số phòng đầy sách, và những cuốn sách này đã trở thành những người bạn lặng lẽ của Eva trong những năm tháng đó, những năm tháng cô ta hầu như không gặp ai khác ngoài Rappard và Susan.

Trong ngôi nhà này cô ta đã học để biết về nỗi cô đơn, công việc và sự hiến dâng hoàn toàn cho một nhiệm vụ.

Cô ta vào ngôi nhà này tràn đầy nỗi sợ hãi cái con người đã ép cô ta phải vào đó. Lời nói và cách cư xử của ông ta đe dọa cô ta đến mức đã gặp những bóng ma đầy hãi hùng mỗi khi nghĩ về ông ta. Nhưng Susan đã làm tất cả những gì có thể để xoa dịu cô gái.

Susan kể những câu chuyện liên quan đến ông anh trai của bà ta vào buổi sáng lẫn buổi tối, khi Eva nằm với thân xác kiệt sức, thường là quá kiệt sức đến mức không thể ngủ được. Cô ta đã không bị đánh bại. Quãng đời sống với gánh xiếc của những người làm trò tung hứng đã giúp cho cô ta quen với những thử thách khắc nghiệt. Nhưng luyện tập không ngừng, tình trạng nghèo khổ thường xuyên của vài tháng đầu tiên, trong đó mọi chuyện dường như đều trống rỗng và đầy đau đớn, mà không có cám dỗ, tươi sáng hay mục đích khả tri nào, đã khiến cho cô ta phát ốm và căm ghét tứ chi của chính mình.

Chính cái giọng nói trống rỗng của Susan đã van xin cô ta hãy kiên nhẫn; chính Susan xoa bóp chân tay cho cô ta, đưa cô ta lên giường và đọc sách cho cô ta nghe. Bà ta giải thích ông anh trai mình, người trong mắt bà ta là một thuật sĩ và một ông vua chưa được tấn phong, và là người mà bà ta bám chặt vào đôi mắt và hơi thở, miêu tả ông ta qua quá khứ của ông ta, mà bà kể lại những quang cảnh và những lời nói của nó, có khi quá đầy đủ và lộn xộn, có khi lại quá cụ thể và sôi nổi, đến mức Eva phải bắt đầu nghi ngờ điều gì đó về sự trùng hợp ngẫu nhiên may mắn nó đã khiến cho ông ta quan tâm đến mình.

Rốt cuộc cũng đến cái ngày khi ông ta cởi mở nói với cô ta như thế này: “Cô có tin rằng mình được sinh ra để làm một vũ nữ không?” “Tôi tin,” cô ta trả lời. Rồi ông ta nói với cô ta về nhảy múa, thế là cảm xúc dao động của cô ta trở nên vững chắc hơn. Dần dần cô ta cảm thấy thân xác mình trở nên nhẹ nhàng hơn. Khi họ chia tay vào ngày hôm đó, tham vọng đã bắt đầu bùng cháy lên trong đôi mắt cô ta.

Ông ta dạy cô ta đứng với hai cánh tay dang ra và không để cho bất cứ cơ bắp nào run rẩy; dạy cô ta đứng trên những đầu ngón chân để đầu chạm vào một mũi tên nhọn; dạy cô ta nhảy chân trần trong những hình được đánh dấu bằng những cây kim ở trên sàn, và dạy cô ta bịt mắt đương đầu với những cây kim, khi từng động tác đã thấm sâu vào da thịt. Ông ta dạy cô ta xoay quanh một sợi dây thừng được điều chỉnh cho thẳng đứng, và dạy cô ta đi trên những cây cà kheo cao mà không cần sử dụng đến hai cánh tay.

Cô ta phải quên cho đến lúc đó mình đã đi như thế nào, mình đã bước sải chân, đã chạy và đứng như thế nào, và cô ta phải học lại cách đi, bước sải chân, chạy và đứng. Mọi động tác của cô ta, như ông ta nói, phải hoàn toàn khác trước. Tay chân, mắt cá và cổ tay phải tự điều chỉnh để phù hợp với những chức năng mới, thậm chí giống như một người đã nằm trong vũng bùn ở trên phố phải thay trang phục mới vậy. “Nhảy múa,” ông ta nói, “là phải thay đổi, phải tươi mới trong từng khoảnh khắc, như một người vừa mới được nhào nặn ra từ bàn tay của Chúa.”

Ông ta giải thích cho cô ta hiểu ý nghĩa và quy luật của từng động tác, giải thích cho cô ta hiểu cấu trúc bên trong và nhịp điệu bên ngoài của từng dáng điệu.

Ông ta sáng tạo ra những dáng điệu cùng với cô ta. Và ông ta thêu dệt nên kinh nghiệm về từng dáng điệu. Ông ta chỉ cho cô ta thấy bản chất của bay bổng, theo đuổi, chia lìa, chào mừng, của hy vọng, đắc thắng, niềm vui và hãi hùng; và không có cử động nào của một ngón tay mà trong đó toàn bộ thân xác không dự phần. Vở kịch của đôi mắt và vẻ mặt tham gia vào cái nghệ thuật này ít đến mức giá có băng khuôn mặt lại thì cũng không làm giảm bớt đi cái tác động được nhắm tới.

Ông ta rút nhân ra từ mỗi cái vỏ khô; ông ta chỉ đòi hỏi cái tinh túy mà thôi.

“Cô có uống được không? Để tôi xem nào!” Như thế là sai. “Cử chỉ của cô là một lối diễn đạt đã phai màu. Người chưa bao giờ trông thấy người khác uống không uống như thế.”

“Cô có thể cầu nguyện không? Cô có thể hái hoa, phạt lưỡi hái, gom ngũ cốc, khâu một tấm mạng che mặt được không? Hãy trao cho tôi một hình ảnh về từng hành động! Hãy miêu tả nó!” Cô ta không thể. Nhưng ông ta dạy cho cô ta.

Mỗi khi cô ta thất bại trong việc mô phỏng thực tế thì ông ta sẽ tức giận đến sùi bọt mép. “Thực tế là một con thú,” ông ta gầm lên, ném mạnh một cây nạng vào tường. “Thực tế là một kẻ giết người.”

Ông ta chỉ cho cô ta thấy những đường nét cốt yếu và cao quý trong những bức tượng và những bức họa của những nghệ sĩ vĩ đại, và minh họa tất cả những thứ đó đã được sáng tạo ra và xây dựng hài hòa tái hợp với mẹ tự nhiên và sự thật trực tiếp của bà ta bằng cách đó như thế nào.

Ông ta nói về lợi ích của âm nhạc đối với loại hình nghệ thuật này của cô ta. “Cô không cần giai điệu và chất giọng vừa vặn. Điều duy nhất quan trọng là phân chia thời gian, cái thước đo đã được tạo ra một cách rõ ràng đó nó dẫn dắt và kiềm chế sự mãnh liệt, hoang dại và đam mê, nếu không thì cũng là sự dịu dàng và vẻ đẹp bất tận của vận động. Một cái trống lắc tambourine và một ống sáo là đủ. Nhiều hơn thế đều là bất lương và hỗn độn. Coi chừng cái tác động thi ca nó không bắt nguồn từ thành tựu hiển nhiên của cô.”

Ban đêm ông ta đưa cô ta đến những phòng uống rượu vang và những quán rượu, nơi các cô gái con nhà bình dân nhảy những điệu chất phác và phấn khích của họ. Ông tiết lộ cho cô ta biết cốt lõi nghệ thuật của từng điệu, để cho cô ta nhảy một điệu bolero, một điệu fandango, hay một điệu tarantella. Những điệu nhảy múa đó, với cách thể hiện mới này, đã có cái tác động của đá quý được cắt gọt và mài bóng.

Ông ta tái dựng lại cho cô ta những điệu nhảy chiến trận cổ xưa, điệu Pyrrhic và điệu Karpaian; điệu nhảy của những nữ thần Muse quanh bàn thờ Zeus trên núi Nàng Thơ; điệu nhảy của Artemis và bạn bè nàng; điệu nhảy ở Delos, mô phỏng con đường của Theseus đi xuyên qua mê cung; điệu nhảy tôn vinh Artemis của các cô thiếu nữ, trong đó họ mặc áo chiton [Áo mặc trong (từ cổ Hy Lạp) – ND] ngắn và đội một vòng liễu ở trên đầu; điệu nhảy của những người bán rượu vang tiếp tục duy trì cái chén của Hiero, nó bao gồm tất cả những động tác của những người hái nho và những người làm việc bên máy ép nho. Ông ta cho cô ta xem những tấm hình chụp cái vò của Francois, cái vò kỷ hà của Dipylon, nhiều món đồ sành và chạm khắc, và bắt cô ta phải nghiên cứu những nhân vật có vẻ quyến rũ làm đắm say và những động tác nhịp nhàng không ai sánh kịp. Và ông ta tìm được cho cô ta âm nhạc phục 

vụ cho những điệu nhảy này, thứ âm nhạc do Susan sao chép từ những bản nhạc cũ, và ông ta sửa chữa lại cho phù hợp.

Và từ những bài tập sáng tạo này, ông ta đã dẫn dắt cô ta đến một sự tự do cao hơn. Giờ đây, ông ta kích thích cô ta tự sáng tác, kích thích cô ta cảm xúc bằng tính độc đáo và tặng cho cái cảm xúc đó một hình hài sáng tạo. Ông ta thổi hồn vào ánh mắt cô ta, cái ánh mắt rất thường khi là nô lệ của kỹ thuật hay chỉ có xinh đẹp mà thôi, giải phóng những giác quan của cô ta, và trao cho cô ta một cái nhìn rõ nét về cái đám đông điếc và mù đó mà nghệ thuật của cô ta sẽ phải tác động. Ông ta truyền cảm hứng cho cô ta yêu những tác phẩm bất tử của loài người, khoác áo giáp cho trái tim chống lại sức cám dỗ của cái thô tục, chống lại cuộc cá cược không có những khoản tiền cược cao nhất, chống lại hành động thiếu kiềm chế, thiếu thăng bằng.

Nhưng phải đến sau khi đã rời bỏ ông ta, thì cô ta mới hiểu được ông ta hoàn toàn.

Khi cho rằng cô ta đã đủ chín chắn để có thể bước chân ra đời, ông ta tặng cho cô ta những bức thư giới thiệu để con đường bớt chông gai hơn, và cả Susan nữa. Ông ta bằng lòng sống một đời cô độc. Susan đã huấn luyện cho một người Castile trẻ tuổi có thể chăm sóc những nhu cầu của ông ta. Ông ta không nói mình định sẽ ở lại Toledo hay sẽ đi nơi khác. Từ khi rời khỏi ông ta, cả Eva lẫn Susan đều không nghe tin tức gì về ông ta nữa: ông ta cấm cả thư từ lẫn điện tín.

Thêm vào giỏ hàng thành công