QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XIX)
RUTH VÀ JOHANNA
XVI
Ruth vội vàng về nhà. Cha cô có thói quen Chủ Nhật nào cũng qua ít giờ với cô. Cô ngạc nhiên vì không thấy ông trong căn hộ. Trên bàn có lá thư đề địa chỉ: “Gửi các con tôi.”
Lá thư đó thế này: “Con gái và con trai thân yêu: Cha phải bỏ các con mà đi, và chỉ có Thượng Đế Toàn Năng mới biết khi nào cha sẽ được gặp lại các con. Cha đã do dự, và chiến đấu, nhưng cuối cùng cũng phải quyết định. Cha không còn đủ sức vật lộn với cuộc sống trong hoàn cảnh này nữa. Để tiến thân ở Berlin một người đàn ông cần phải có hai nắm đấm và một cái trán sắt. Cha không còn đủ trẻ để đẩy mạnh tất cả mọi chướng ngại vật ra khỏi con đường mình đi, nên cảnh thiếu thốn cùng cực đã đe dọa chúng ta. Thay vì là người bảo vệ và chăm lo cho các con, cha lại phải đối mặt với cái khả năng kinh khủng là trở thành gánh nặng cho con, Ruth à, và thậm chí ngay bây giờ những cố gắng của con cũng đã là siêu nhân rồi. Cha thường bị thu hút bởi ý nghĩ đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình; nhưng tôn giáo cũng như mối quan tâm đến kí ức của các con về mình đã giữ cho cha còn sống. Cha đã tìm được một người bạn, một đồng hương Do Thái, người đã thuyết phục cha di cư sang Mỹ. Ông ấy sẽ cho vay tiền đi đường, và đầy hy vọng vào thành công của chúng ta. Có lẽ cuối cùng số phận sẽ bớt nghiệt ngã hơn với cha. Có lẽ sự hy sinh kinh khủng của cha là bỏ rơi hai con trong cảnh không chắc chắn và thiếu thốn sẽ khiến được cho nó phải động lòng xót thương. Cha không thấy có cách nào khác cứu mình khỏi cảnh suy vi chắc chắn. Chỉ vì biết sức mạnh linh hồn con, Ruth thân yêu à, chỉ vì tin như đinh đóng cột rằng có một thiên thần tốt bụng nào đó đang dõi theo con, nên cha mới dám thực hiện bước đi khó khăn và cay đắng này. Cha không được và không dám suy nghĩ. Các con còn quá nhỏ, cả hai đứa, không có ai bảo vệ hay bạn bè hay người thân nào. Có lẽ Thượng Đế sẽ tha thứ cho cha và bảo vệ các con. Cha không kham nổi bất cứ cách giã từ nào ngoài cách này. Cha sẽ viết thư về nếu có bất cứ chuyện tốt đẹp nào để thông báo. Lúc đó cả các con cũng phải viết thư cho cha đấy nhé. Cha gửi kèm đây năm mươi mark cho những nhu cầu ngay lập tức của các con; cha không thể để lại nhiều hơn. Cha trả tiền thuê nhà tháng Mười Một rồi. Chúng ta nợ bác thợ đóng giày Rosicke sáu mark và năm mươi pfennig. Cha ôm cả hai con bằng tất cả trái tim mình. Người cha bất hạnh của các con.”
Ruth khóc.
Cô ngồi bất động được một giờ, thì nghe có tiếng gõ cửa. Cô nghĩ đó là Michael. Cô hơi sợ cậu ta sẽ vào, và rất hy vọng rằng đó là Christian Wahnschaffe vì đang cần bạn tâm sự.
Không phải cả hai. Cô mở cửa, thì thấy một cô gái rách rưới và một con chó, chó của đồ tể, to bằng con bê, có lớp da rất mịn, bóng mượt, loang lổ trắng đen.
Bàn tay Ruth vẫn nắm quả đấm cửa trong khi cô hỏi cô gái kia muốn gì, cô này độ bất cứ tuổi nào từ mười hai đến hai mươi. Con chó có cái nhìn trừng trừng hiểm ác.
Cô gái lặng lẽ đưa cho cô một mảnh giấy. Nó nhờn mỡ và đầy những chữ viết của một kẻ thất học nào đó. Ruth hốt hoảng, và nghĩ: “Hôm nay tất cả những tin xấu đều đến bằng thư.” Cô vẫn chưa đọc những dòng chữ trên tờ giấy kia, nhưng cảm thấy nó báo trước một điều xấu xa nào đó.
Trong một khoảnh khắc, cô nhìn ra ngoài qua cửa sổ hành lang đóng khung một khóm những ống khói đen. Con chó nguy hiểm gầm gừ.
Khó giải mã những chữ viết trên tờ giấy đó. Cô đọc: “Bạn phải làm ơn đến ngay với người nào đó việc kinh khủng tồi tệ. Ông ấy đã uống thuốc độc nó đang giết chết ông ta và ông ta phải nói với bạn điều gì đó trước khi chết. Ông ta ở trong phòng sau của Adeles Rest một phòng uống rượu vang 112 ngõ Prenzlaur trong sân bên trái. Làm ơn hãy đến ngay với cô gái và chúa sẽ ban thưởng cho bạn. Làm ơn vì chúa hãy đến.”
“Có chuyện gì vậy? Tôi có thể làm gì?” Ruth thì thầm.
Cô gái nhún vai. Như thể bị câm, cô ta chỉ vào mảnh giấy.
Lòng cô đầy linh tính điềm gở và thận trọng, đầy đau đớn vì bức thư kia và hành động bỏ chạy của cha mình, và đầy kinh hãi con chó của đồ tể. Cô lưỡng lự, nhìn tờ giấy, và lắp bắp: “Tôi không biết ... Tôi phải chờ Michael ... Ai vậy ... Đáng lẽ anh ta phải viết tên mình ra chứ.”
Cô gái nhún vai.
Ruth thấy dường như sẽ sai nếu phớt lờ lời kêu gào xin cứu nạn này. Đôi mắt hằn tia máu của con chó dán chặt vào cô. Cô chưa bao giờ thấy con vật nào có vẻ trần trụi đến thế. Cô đặt bàn tay lên trán và cố gắng tập trung những ý nghĩ xáo động của mình. Cô quay trở vào phòng và nhìn quanh. Nó dường như rất cô đơn và trống trải. Cô mặc tấm áo choàng ngoài nhỏ của mình vào và đội mũ. Một nụ cười khẽ thoáng hiện trên mặt cô trong khoảnh khắc, như thể cô vui mừng vì đã quyết định được. Cô lia mắt lên những dòng chữ kia thêm lần nữa. “Làm ơn vì chúa hãy đến.” Bổn phận dường như đã rất rõ ràng.
Cô ngập ngừng cầm lá thư của cha trong bàn tay mình một lát. Rồi gấp nó lại, và đặt lên bàn cạnh những cuốn sách và đồ dùng để viết hơi lộn xộn của mình. Cô đóng những cuốn sách mở lại, rồi xếp chúng thành một chồng thấp. Con chó đã êm ru đi theo cô vào phòng. Nó đi theo cô khi cô đi ra. Có một tấm bảng nhỏ và một cây bút chì để viết bảng được treo trên cửa bằng một sợi dây. Ruth viết: “Chị về ngay. Đã đi đến ngõ Prenzlauer. Hãy chờ chị. Chị phải nói chuyện với em về một việc quan trọng.” Cô khóa cửa lại rồi giấu chìa khóa dưới tấm thảm chùi chân bằng rơm.
Cô gái lạ lùng vẫn giữ vẻ dửng dưng buồn ngủ.
Trên cầu thang Ruth suy nghĩ, và gõ cửa nhà Karen. Nếu Christian đang ở trong đó, cô có thể nói ít lời với chàng; nhưng không có ai mở cửa cả. Cô nghĩ Karen đang ngủ, nên không kéo chuông. Khi đi xuống cầu thang sau cô gái và con chó trụi lông thì những trách nhiệm và vấn đề mới của đời mình chui vào tâm trí cô. Nhưng trong trái tim trẻ trung và gan dạ của Ruth, những sự hỗn loạn trở nên rõ ràng và những điều khó khăn không còn có vẻ đáng sợ nữa.
Cô do dự lần cuối khi đã xuống đến sảnh. Cô muốn vào nhà Gisevius để xem Christian có trong đó không. Nhưng hai bà già đang chửi nhau ỏm tỏi và tục tĩu trong sân, nên cô đi tiếp.
Trời đang mưa. Đó là chiều Chủ Nhật, khoảng thời gian thê lương rùng rợn trên phố Stolpische. Không gian im lìm dưới bầu trời tháng Mười Một màu xám, chỉ có những tiếng ấm ứ phát ra từ mấy quán rượu. Những cây đèn đường nhợt nhạt sáng lập lòe trong ánh chạng vạng.
“Nào, chúng ta đi thôi,” Ruth nói với con bé kia.
Con chó trụi lông chạy lon ton giữa họ trên vỉa hè ướt át.
XVII
Crammon đã viết thư như sau cho bà bá tước Brainitz: “Vì đã hứa, nên dĩ nhiên tôi sẽ đến. Nhưng tôi xin bà hãy tử tế mà chuẩn bị cho Letitia bằng một cách thích hợp nào đó. Khoảnh khắc quyết định càng đến gần bao nhiêu thì tôi lại càng cảm thấy bất tiện bấy nhiêu. Bà đòi hỏi ở tôi một hành động chuộc tội rất khó khăn. Tôi thà đi hành hương đến núi Ararat và trở thành một ẩn sĩ ở đó trong ít năm đi tìm kiếm những mảnh còn lại của con thuyền lớn của Noah còn hơn. Tôi thừa nhận với bà rằng tôi đã luôn luôn tận hưởng những sự sung sướng đến với mình mà không đắn đo; nhưng tôi thấy hình như mình không xứng đáng với sự này. Thế là quá nhiều.”
Bà bá tước đáp lại rằng sẽ làm hết sức để làm giảm nhẹ tính chất đầy đau đớn của cuộc gặp gỡ này. Bà không phản đối việc cô bé thân yêu đó khóc trên ngực mình, trước khi đối mặt với người cha nhận trách nhiệm làm cha của mình với nhiều do dự và sợ hãi đến thế. “Và thế là, thưa ông von Crammon,” bà viết ở cuối thư, “chúng tôi sẽ chờ ông. Letitia quyến rũ hơn bao giờ hết sau khi trở về từ Paris. Tất cả mọi người đều ở dưới chân nó. Tôi tin ông sẽ không phải là một ngoại lệ.”
“Quỷ tha ma bắt mụ ta đi!” Crammon càu nhàu, lúc xếp hành lý.
Khi đến ngôi nhà nông thôn của bà bá tước, nó được gọi là biệt thự Ophelia, ông được cho biết rằng các bà đã đến nhà hát. Ông được đưa vào căn phòng đã được chuẩn bị cho mình. Ông rửa ráy, mặc quần áo để ăn tối, đi tản bộ trở lại phòng khách, thọc hai bàn tay sâu vào túi như kẻ lang thang run rẩy, rồi buồn rầu buông phịch mình xuống một cái ghế bành. Ông nghe tiếng mưa rơi lộp độp, và tiếng khóc của một đứa trẻ sơ sinh từ phòng khác. “A ha,” ông nghĩ, trong nỗi khó chịu của mình, “cháu mình đấy, một trong hai đứa sinh đôi. Làm sao mình biết sẽ không có kẻ lầm lạc nào đó đặt nó lên đầu gối mình, bắt mình phải khâm phục, vỗ về, và thậm chí cả hôn nó nữa? Trời đất ơi, ai sẽ bảo vệ mình khỏi một cảnh điền viên tư sản kiểu đó đây? Với một mụ đàn bà như mụ bá tước này thì chuyện gì cũng có thể xảy ra. Những diễn viên đa cảm từ chối không chịu già này có thể làm bất cứ việc gì. Trên đời này còn gì khó chịu hơn một đứa bé nữa kia chứ? Nó không phải con người cũng chẳng phải con vật; nó có mùi vú bò cái và phấn, ầm ĩ một cách đáng ghét và không thể chịu đựng nổi. Nó đấm tay đá chân vào mặt người lớn; và nếu có những hai đứa như thế, nghĩa là bị tất cả những nỗi kinh hãi trên tấn công gấp đôi, thì người ta dễ hoàn toàn vô phương tự vệ, và có thể công bằng mà hỏi: ‘Ông, Bernard Crammon, người mà mối quan tâm đến chuyện nhân giống vẫn luôn nghiêm khắc phủ định – ông thì liên quan gì đến những thứ như thế này chứ?’”
Crammon kết thúc những sự suy nghĩ của mình bằng một nụ cười tự chế giễu. Đúng lúc đó ông nghe tiếng những giọng nói vui vẻ, rồi Letitia và bà bá tước đi vào.
Ông đứng lên với vẻ cực kì hào hoa phong nhã. Ông thân thiện nhất và bóng bẩy nhất.
Ông không giấu nỗi kinh ngạc trước vẻ ngoài của Letitia. Niềm mê thích Áo vẻ quyến rũ của phụ nữ và sự thôi thúc muốn bày tỏ lòng ngưỡng phục nó trong ông đã xua tan đi màn sương mù của nỗi khó chịu ích kỷ. Ông nghĩ chắc trí nhớ đang chơi xỏ mình, nếu không thì Letitia đã trải qua một sự phát triển tuyệt diệu từ những ngày ở lâu đài Wahnschaffe. Những cô gái trẻ sống sượng chưa bao giờ, chắc chắn là thế, thu hút được ông. Những người phụ nữ ông khâm phục và tán tỉnh phải giàu kiến thức và có trách nhiệm, vì điều đó làm nhẹ bớt trách nhiệm của ông.
Sau những lời chào hỏi đầu tiên, bà bá tước nói. “Hai người này,” bà nói, với tinh thần sẵn sàng nắm bắt lấy mọi cơ hội Bắc Đức của mình, “bây giờ tôi phải đi nửa giờ. Nhà hát là nơi đầy bụi bẩn. Tôi phải đi rửa tay. Mọi thứ ở nhà hát đều đầy bụi bẩn – chỗ ngồi, khán giả, diễn viên, và vở kịch. Nó lúc nào cũng khiến cho tôi thấy thèm xà phòng và nước. Hai người cứ nói chuyện nhé. Sau đó chúng ta sẽ ăn khuya.”
Bà sột soạt đi ra, sau khi ném cái liếc mắt nghiêm khắc về phía Crammon.
Crammon trầm ngâm hỏi: “Không biết tại sao bà ấy lại gọi tòa nhà này là biệt thự Ophelia. Trong cuộc sống có nhiều điều không thể cắt nghĩa nổi. Đây là một trong số đó.”
Letitia cười. Nàng chăm chú nhìn ông với vẻ vừa châm biếm vừa e lệ. Nhưng khi nàng đứng trước ông trong tấm áo dài lụa mềm mượt, màu vàng nhạt, cổ và ngực lung linh ánh sáng ngà, thì Crammon thấy khó mà tự thương hại mình thêm được nữa. Letitia tiến lại gần ông, rồi nói một cách tinh nghịch nhưng có cảm xúc: “Thế ra cha là cha con. Ai mà nghĩ ra được kia chứ? Chắc hẳn cha phải rất khó chịu khi một tội lỗi từ lâu, đã bị quên lãng của mình bỗng dưng lại hóa thành một cô gái to đùng.”
Crammon cười thầm, tuy mặt vẫn u ám. Ông âu yếm nắm chặt bàn tay nàng trong cả hai bàn tay mình. “Cha thấy là chúng ta hiểu nhau,” ông nói, “và điều đó an ủi cha. Điều cha đã sợ là sự bột phát, những giọt nước mắt, và sự phô diễn tình cảm được xem là thích hợp. Con thật tốt vì có óc xét đoán. Nhưng chúng ta hãy hi sinh gì đó cho truyền thống lễ nghi của tình cảm nào. Cha sẽ in một nụ hôn của tình cha lên hàng lông mày con.”
Letitia cúi đầu xuống, và ông hôn nàng. Nàng nói: “Bây giờ giữa cha và con đã có một bí mật thú vị. Con biết gọi cha thế nào trước mặt mọi người đây – chú, hay chú Crammon, hay chú Bernard, hay đơn giản chỉ là Bernard thôi?”
“Đơn giản chỉ là Bernard thôi, chắc chắn là như thế rồi,” Crammon đáp. “Dĩ nhiên, cha không cần phải nhắc cho con nhớ rằng con là con gái hợp pháp của ngài von Febronius quá cố và người vợ hợp pháp quá cố của ông ấy. Tình cảnh của chúng ta đòi hỏi cả hai ta phải khôn khéo một cách tinh vi nhất.”
“Tất nhiên rồi ạ,” Letitia đồng ý, và ngồi xuống. “Nhưng hãy tưởng tượng những hiểm nguy lẩn quất trên đời này mà xem. Giả sử con chẳng biết gì cả và đã yêu cha thì sao nhỉ. Thật là khủng khiếp! Và con phải nói ngay với cha rằng hình như con chả tôn sùng cha tẹo nào. Tình cảm của con có hơi hướm của tình em gái, và chắc chắn là con rất, rất thích cha. Thế cha có hài lòng không, hay lại cho là con bất hiếu quá ạ?”
“Hài lòng lắm,” Crammon nói. “Cha quả thực không thể gây ấn tượng lên con quá mạnh mẽ về sự khôn ngoan của tính tiết kiệm tình cảm. Hầu hết mọi người đều mang tình cảm của mình đi khắp nơi như phụ nữ Ashanti mang chuỗi hạt thủy tinh của họ vậy. Họ lúc lắc nó ở nơi công cộng, và không bao giờ nhận ra nó là thứ rất bình thường như thế nào. Nhưng nhân tiện thì nói thế thôi. Chúng ta phải có một chương trình rất đặc biệt cho mối quan hệ của mình. Điều quan hệ là phải né tránh sự xâm nhập của người ngoài. Cha – không cần phải nói - sẵn sàng phục vụ con mọi lúc mọi cách. Con có thể hoàn toàn tin cậy vào tình bạn, vào ... chúng ta hãy dùng mấy chữ đáng ghét này – tình bạn của cha.”
Letitia vô cùng thích thú thấy ông nhiệt liệt muốn có những thứ quyền mà tình thế này cho phép một cách nghiêm trang và lo âu. Nàng rất ngang tài ngang sức với ông về khả năng hơi đạo đức giả một chút. Nàng giấu rất nhiều giễu cợt và không ít cứng đầu cứng cổ đằng sau gương mặt xinh đẹp và vẻ ngoài ngây thơ ngoan ngoãn. Nàng trả lời: “Chẳng có lý do gì chúng ta lại nên giới hạn tự do của nhau. Chúng ta sẽ không cản đường nhau, cũng không trở nên mắc nợ nhau quá nhiều. Người này có quyền được biết chuyện thầm kín của người kia, và vì thế nên được giữ quyền tự do hành động của mình. Con hy vọng cha sẽ thích như thế.”
“Con kiên quyết thật, thế mà cha cứ tưởng con nhiệt tình và mơ mộng một cách ngu ngốc chứ. Những người chăn gia súc trên vùng đất của lửa đã mài sắc sự nhanh trí của con phải không? Phải, cha thích thế đấy; rất thích.”
“Còn rất nhiều điều đang chờ con ở phía trước,” Letitia tiếp tục, đôi mắt nàng sáng rực khát khao và mơ mộng, “con không biết rồi mình sẽ vượt qua tất cả những điều đó thế nào nữa – những con người, những đất nước, những thành phố, những tác phẩm nghệ thuật. Con đã mất quá nhiều thời gian và nay cũng đã gần hai mươi mốt tuổi rồi. Dì muốn con ở lại với dì ấy, nhưng con không thể làm thế được. Người ta chờ đợi con ở Munich vào ngày một tháng Mười Hai và ở Meran vào ngày mười. Paris mới tuyệt làm sao. Con thấy ai cũng vô cùng quyến rũ. Mọi người đồng thời muốn có con.”
“Cha rất tin như thế, rất,” Crammon nói, và xoa cằm. “Nhưng hãy cho cha biết, cuộc phiêu lưu với vị tử tước nọ mà bà bá tước đã nói với cha đó đã kết thúc thế nào?”
“Ôi, dì ấy đã nói chuyện này với cha rồi sao?” Letitia đỏ mặt. “Thế không thực sự thận trọng đâu ạ.” Trong khoảnh khắc khuôn mặt nàng để lộ ra vẻ đau buồn và ngượng ngùng. Nhưng những kinh nghiệm không hạnh phúc, thậm chí ngay cả khi chúng tìm được đường chui vào ý thức nàng, thì cũng không thể thực sự làm cho nó tối tăm đi được. Trong khoảnh khắc đôi mắt nàng lại tràn đầy tiếng cười. Tất cả những kỉ niệm tối tăm đều đã biến mất. “Mai cho tôi đi ô tô cùng được không, Bernard,” nàng giục ông, và bốc đồng dang hai bàn tay mình ra. “Và ông phải mời nam tước Rehmer bé nhỏ người sống trong Khách Sạn Lớn đi cùng đấy nhé. Anh ấy là Stanislaus Rehmer, nhà điêu khắc người Ba Lan. Tôi sẽ làm mẫu cho anh ấy và anh ấy sẽ dạy tôi tiếng Ba Lan. Anh ấy thật là quyến rũ.”
Crammon ngắt lời nàng: “Hãy giải thích cho tôi hiểu một điều! Hãy cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra ở Argentina. Tên kẻ cướp da màu xanh dương mà cô từng thấy mang trong mình tất cả những ưu điểm đàn ông đó không làm gì ngăn trở cô sao? Cô không tưởng rằng hắn sẽ đứng yên không làm gì cả trong khi cô bỏ đi kiểu Pháp với hai đứa con sinh đôi của hắn đấy chứ? Về phần mình, tôi sẽ không ngồi cùng bàn ăn, càng không nằm cùng giường với hắn đâu. Nhưng quan điểm của cô lại không như thế, thế mà luật pháp lại không xét đến những sự thất thường của thị hiếu.”
“Anh ta kiện ly hôn tôi, nhưng tôi phản kiện,” Letitia nói. “Tôi đã thấy hàng núi tài liệu. Con là của tôi, vì anh ta thô bạo quá đến nỗi tôi phải chạy trốn. Tôi chẳng lo lắng về chuyện này chút nào.”
“Hắn có trả cho cô một khoản thu nhập không?”
“Không một xu cho đến lúc này.”
“Thế làm sao cô sống? Rõ ràng cô không cắt giảm chi tiêu. Tiền ở đâu ra vậy? Ai trả tiền cho tất cả những sự xa hoa này? Hay tất cả chỉ là trò giả cách với hậu cảnh nợ nần?”
Letitia nhún vai. “Tôi hầu như không biết,” nàng trả lời, với chút bối rối. “Có lúc tôi có tiền nhưng cũng có lúc chả còn xu nào. Dì tội nghiệp đã bán ít bức họa Hà Lan cổ của mình. Người ta không thể sống tính toán như tên chủ hiệu được. Tại sao ông lại nói chuyện về những điều khó chịu như thế?” Giọng nàng quá đau đớn và khiển trách một cách thành thật đến mức Crammon cảm thấy như mình là kẻ tội lỗi vậy. Ông nhìn sang một bên. Bị sắc đẹp của Letitia thôi miên, ông không đủ can đảm chất thêm thực tế thô tục lên vai nàng nữa. Và bây giờ cả bà bá tước cũng đã xuất hiện trong phòng. Bà mang đôi găng tay màu trắng bóng loáng, mặt bà bóng loáng như đồ sứ mới lau chùi. Tay bà bế con Puck, đó là con chó Bắc Kinh nhỏ, đã già và ngủ nhiều.
“Các bạn thân mến của tôi ơi, bữa khuya sẵn sàng rồi đấy,” bà kêu lên, bằng giọng trẻ trung vui vẻ có phần hơi kệch cỡm của mình.
