QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XVIII)
RUTH VÀ JOHANNA
XV
Trên kệ lò sưởi bằng thạch cao tuyết hoa, những cây nến đang cháy trên giá Phục Hưng bạc. Ánh sáng nổi bật hơn của củi đang cháy chỉ chiếu sáng đủ xa để bao bọc dáng người của Eva và Cornelius Ermelang trong làn ánh sáng rực rỡ. Nó không chiếu sáng tới những cây cột đá porphyry hoặc vàng trên trần. Ánh sáng đỏ lung linh, mờ tỏ nhảy múa trong những tấm gương cao, và màn cửa bằng gấm damask màu tía trước những ô cửa sổ khổng lồ, chúng bao bọc căn phòng một cách trang trọng hơn những cánh cửa lớn, hút phần ánh sáng còn lại mà không phản chiếu lại.
Tấm áo dài uống trà bằng đăng ten trắng mà nàng vũ nữ mặc – các chuyên gia tuyên bố rằng mỗi inch vuông của nó có giá trị bằng tiền lương hàng năm của một ông tỉnh trưởng - sặc sỡ như bức tranh được vẽ bằng phấn màu tuyệt đẹp.
“Anh đã rất tốt với tôi,” Eva nói. “Sau khi anh đến đây rất nhiều lần một cách vô ích, tôi đã sợ rằng anh sẽ bỏ đi mà chưa được gặp. Nhưng chắc là Susan đã cho anh biết ngày của tôi trôi qua như thế nào rồi. Đàn ông và các biến cố cứ xoáy tít đến mức tôi thấy khó mà giữ được ý thức về bản ngã của chính mình. Vì thế nên bạn bè trở nên xa cách, những khuôn mặt xung quanh tôi thay đổi và tôi khó lòng nhận ra được nữa. Thật là một cuộc sống điên rồ!”
“Tuy thế mà cô vẫn cho gọi tôi bất chấp điều đó,” Ermelang thì thầm, “và cuối cùng tôi cũng có được niềm hạnh phúc là được ở bên cạnh cô. Bây giờ tôi đã đạt được mọi thứ mà chuyến lưu lại nước Nga của tôi đã hứa hẹn. Tôi biết cảm ơn cô thế nào đây? Tôi chỉ biết nói những lời khốn khổ thôi.” Anh đắm đuối nhìn cô ta, với ánh mê mẩn trong đôi mắt xanh dương đẫm lệ. Anh ta có thói quen nhắc đi nhắc lại câu nói về những lời khốn khổ của mình; nhưng tình cảm của anh ta là thật, dù nói năng giả dối. Thực vậy, vẫn luôn có chút gì đó quá cảm động, quá tình cảm trong cách nói chuyện của anh ta. Thỉnh thoảng có ấn tượng rằng anh ta thực ra không xúc động sâu sắc quá đến thế, và rằng, nếu cần, hoàn toàn có thể kiềm chế được tình cảm của mình.
“Có việc gì mà người ta sẽ không làm để một thi sĩ được hài lòng chứ?” Eva nói với điệu bộ lịch sự. “Đó đơn thuần cũng chỉ là ích kỷ thôi. Hình ảnh tôi sẽ vĩnh viễn tồn tại trong tâm trí anh. Những bạo chúa cả từ thời cổ đại lẫn hiện đại đều cam đoan với chúng ta rằng thi sĩ là người duy nhất mà họ cố gắng làm hài lòng.”
Ermelang nói: “Người như cô tồn tại một cách quá căn bản đến mức nếu so sánh thì bất cứ hình ảnh nào cũng đều ít ỏi giống như cái bóng của một đồ vật khi mặt trời đang ở thiên đỉnh.”
“Anh tinh tế. Nhưng hình ảnh dai dẳng. Tôi có một niềm tin to lớn vào cách nhìn nhận của anh đến mức thích anh nói cho tôi biết có phải tôi đã thực sự thay đổi nhiều như những người bạn đã biết tôi khi tôi còn ở Paris khẳng định không. Tôi cười họ; nhưng trong tiếng cười đó có chút sự nổi loạn của tính phù phiếm và chút sợ tình trạng nhăn nheo và héo úa. Đừng nói gì cả; lời phản đối nào cũng đều tầm thường cả. Trên hết, hãy cho tôi biết, anh đi du lịch ở Nga thế nào, và đã thấy, nghe và trải nghiệm được những gì.”
“Tôi đã trải nghiệm rất ít. Ấn tượng chung quá không thể nào quên được đến mức những chi tiết tối dần vào sự vô nghĩa. Những khó khăn khác nhau khiến cho Paris trở nên khó chịu đối với tôi, và công chúa Valuyeff đã đề nghị cho tôi nơi ẩn náu trên điền trang của bà ấy gần Petrograd. Bây giờ tôi phải quay lại phương Tây – châu Âu, như người Nga giễu cợt nói. Và họ nói đúng. Vì phải rời xa quê hương tinh thần của mình, và những người gần gũi với tôi, dù không biết họ, và cảnh cô độc đầy giai điệu và linh cảm, để quay lại với cảnh ầm ĩ rối loạn và tình trạng bị cô lập vô nghĩa lý. Tôi đã nói chuyện với Tolstoi và Pobiedonostzev; tôi đã đến hội chợ tại Nijni-Novgorod, đã đi ngang qua thảo nguyên trong cỗ troika [Xe nhỏ ở Nga có ba ngựa kéo – ND]. Và tất cả - con người và phong cảnh – đều có hơi thở của tính ngây thơ và những thời đại sắp đến, của bí ẩn và sức mạnh.”
Eva lắng nghe không quá chăm chú. Những bài thánh ca với nước Nga, được ngâm bởi những nhà văn và người quan sát lang thang, đã bắt đầu thực sự làm cho cô ta phát chán. Cô ta khẽ nhăn miệng. “Phải,” cô ta nói, “đó là một thế giới riêng,” rồi chìa đôi bàn tay đáng yêu của mình về phía ngọn lửa ấm áp.
Ermelang thấy trước đây cô ta dường như không bao giờ để cho người mình đang nói chuyện trôi giạt ra khỏi vòng tròn tâm trí mình như thế. Anh ta cảm thấy những lời nói của mình đã không được tiếp nhận một cách thân thiện. Anh ta trở nên thiếu tự tin và im lặng. Anh ta dè dặt quan sát cô ta bằng con mắt bên trong thực sự hà khắc của mình. Anh ta thấy sự thay đổi mà cô ta đã nói đến, và ghi nhớ hình ảnh đó như cô ta đã yêu cầu.
Khuôn mặt trái xoan của Eva đã có một đường sắc nét như bởi ý chí. Trên đó không còn nhiều thanh thản, chẳng còn lại gì tốt đẹp nữa. Quanh miệng có vẻ kiên quyết hầu như cay nghiệt. Còn có những sự mất mát nữa. Những cái bóng nằm trên thái dương và dưới mi mắt. Cơ thể vẫn để lộ ra cái quyền hành mà cô ta có với nó, một cách chính xác trong vẻ thanh nhàn mềm rũ, trong vẻ dang rộng ra và thư thái, những vẻ người ta thấy ở những con mèo rừng. Ermelang nghe nói rằng cô ta đã làm việc vất vả không ngừng, diễn tập từ sáu đến bảy giờ một ngày, như trong những năm mới học nghề. Kết quả đã vô cùng rõ ràng với nhịp điệu và vẻ duyên dáng mà tứ chi và các khớp của cô ta tỏ ra và cách cô ta hoàn hảo điều khiển chúng.
Nhưng chẳng có gì độ lượng, chẳng có gì tự do đến từ cô ta. Ermelang nghĩ đến những tin đồn kết tội cô ta thèm muốn quyền lực vô hạn độ, về thủ đoạn chính trị nguy hiểm, những âm mưu chết người, và một ảnh hưởng xác định lên những hiệp ước bí mật nào đó đe dọa sẽ làm rối loạn các quốc gia, và chuyện không vô tội về những chiến dịch báo chí mà sự thô bạo và tế nhị hòa trộn vào nhau của chúng uy hiếp nền hòa bình của châu Âu. Cứ như thể lớp trầm tích than đá lớn ở sâu dưới lòng đất đang bị đốt nóng; nhưng con người ở trên vẫn sống và thở mà không nghi ngờ gì.
Những người không tin cô ta tuyên bố cô ta là mật thám của Đức, tuy kết giao với những nhà ngoại giao người Pháp và Anh. Những người bảo vệ cô ta khẳng định rằng cô ta bị sử dụng để che giấu những kế hoạch và mưu mẹo của đại công tước Cyril mà không biết. Những người tin cô ta hoàn toàn tuyên bố rằng cô ta thực ra là cản trở những kế hoạch của ông ta và chỉ giả vờ làm công cụ của ông ta thôi. Giới quý tộc không thích cô ta; triều đình sợ cô ta; thường dân, bị tu sĩ và đảng viên xúi giục, thấy ở cô ta nỗi bất hạnh hiện thân thành người của đất nước mình. Tại một cuộc nổi loạn ở Ivanova cô ta đã bị công khai công bố là một ả phù thủy, và tên cô ta bị nguyền rủa bằng những lễ nghi trang nghiêm. Mới hôm trước, một phái đoàn nông dân từ Mohilev, những người anh ta gặp trong chợ cá, nói với anh ta rằng họ đã gặp Nga Hoàng ở Tsarskoye Selo, và với những lời phàn nàn về nạn đói kém ở tỉnh mình họ đã, vì bướng bỉnh mê tín, chỉ ra vẻ tráng lệ xấu xa trong cuộc sống của nàng vũ nữ nước ngoài này. Ai trong bọn họ cũng biết chuyện đó. Nga Hoàng, họ nói, đã không thể trả lời, mà chỉ nhìn chòng chọc xuống sàn thôi.
Tất cả những chuyện này là những phần không thể bàn cãi trong cuộc sống và số phận của Eva. Anh ta nhìn đôi bàn tay đáng yêu của cô ta, hồng hào trong ánh lửa rực rỡ, và cảm thấy kinh sợ giùm cho cô ta.
“Có thật,” anh ta hỏi, với nụ cười bẽn lẽn, “là cô đã ba lần liên tiếp được vào pháo đài không ai được vào không?”
“Thật. Việc đó đã bị hiểu lầm sao?”
“Tất nhiên là nó đã gây kinh ngạc. Trước đây chưa từng có người xa lạ nào vượt qua được ngưỡng cửa đó, cả người Nga cũng vậy trừ phi là tù nhân. Dường như không ai có thể hiểu nổi cơn bốc đồng của cô. Nhiều người cho rằng cô chỉ muốn gặp Dmitri Sheltov, người đã bắn Đại Công Tước. Hãy cho tôi biết động cơ của cô; tôi muốn nghe lời đáp lại những chuyện ngồi lê đôi mách.”
“Không cần phải đáp lại gì cả,” Eva nói. “Tôi không sợ những chuyện ngồi lê đôi mách đó đâu, nên không cần phòng thủ. Không hiểu sao tôi lại đến đó. Chắc do muốn gặp Sheltov. Anh ta đã xúc phạm tôi; thậm chí còn bỏ công ban bố một cuộc tấn công đồng loạt dữ dội hòng chống lại tôi. Vì việc này mà năm trong số những người bạn của anh ta đã bị đày đi Siberia – đó là những cậu bé mới mười sáu, mười bảy tuổi. Mẹ của một trong những cậu bé đó viết thư van xin tôi hãy cứu con bà ta. Tôi đã cố gắng nhưng thất bại. Có lẽ tôi thực sự muốn gặp Dmitri Sheltov đấy. Họ nói anh ta đã thề sẽ giết Ivan Becker.”
“Sheltov là một trong những tính cách trong sáng nhất trên đời,” Ermelang nói rất nhẹ nhàng. “Họ đã đánh anh ta bằng roi, để ép anh ta phải thú tội.”
Eva im lặng.
“Bằng roi,” Ermelang nhắc lại. “Người đàn ông này! Thế mà người ta vẫn nói cười, và mặt trời vẫn tỏa sáng.”
“Có lẽ tôi muốn thấy một người đàn ông đang quằn quại dưới những cú vụt roi da,” Eva nói. “Có lẽ việc đó có nghĩa nhiều với tôi như một sự kích thích. Tôi hẳn phải được nuôi dưỡng cách này hay cách khác, và sự khác thường là thực phẩm của tôi. Một cú co giật lạ lùng, tư thế thu mình lấy đà đầu tiên - những điều như thế thỏa mãn trí tưởng tượng của tôi. Nhưng thực ra” – giọng cô ta trở nên buồn rầu, và cô ta nhìn đăm đăm không rời mắt khỏi một đốm trên tường – “tôi không hề thấy anh ta. Mà thấy những người đã sống mười, mười hai, mười lăm năm trong những xà lim đá tối tăm khác. Một thời họ từng được tự do ngoài thế giới rộng lớn tâm trí bận rộn với những điều cao cả; thế mà bây giờ phải co ro trong những manh giẻ rách, và chói mắt vì ánh sáng của một cây đèn lồng nhỏ. Họ đã quên nhìn, bước đi, nói nghĩa là thế nào. Có mùi thối rữa ở xung quanh họ, và tất cả những cử chỉ của họ đều đầy một sự điên rồ hiền lành. Nhưng cũng không phải vì họ mà tôi đến đó. Tôi đi vì những người phụ nữ bị giam cầm, những người, vì một sự kết tội tâm thần, đã bị lôi khỏi tình yêu và cuộc sống và bổn phận làm mẹ và lòng tận tụy, bị từ từ tra tấn cho đến chết. Nhiều người trong số họ chưa bao giờ bị kết tội bởi bất cứ tòa án nào. Họ đơn thuần chỉ là bị quên lãng – đơn giản chỉ là bị quên lãng thôi; và nếu bạn bè họ đòi hỏi phải có một phiên tòa, thì những người đó có nguy cơ gặp phải số phận tương tự. Tôi đã thấy một người bị nhốt từ khi còn bé; bây giờ bà ấy đã lớn tuổi và ở gần cái chết của mình rồi. Tôi đã thấy Natalie Elkan, bị một tên đại tá sen đầm ở Kiev hãm hiếp, và đã giết con quái vật đó bằng chính thanh gươm của hắn. Tôi đã thấy Sophie Fleming, người lấy dây thép tự móc mắt mình ra, vì họ đã treo cổ người anh em của cô ấy ngay trước mặt cô ấy. Anh có biết Sophie đã nói gì khi tôi vào xà lim nhốt cô ấy không? Cô ấy ngước khuôn mặt mù của mình lên, và nói: ‘Mùi của một quý bà đây.’ A, điều đó dạy tôi gì đó về phụ nữ. Tôi ôm hôn cô ấy và thì thầm vào tai hỏi liệu mình có nên lén mang chút thuốc độc vào không; nhưng cô ấy đã từ chối.”
Eva đứng lên đi đi lại lại. “Phải,” cô ta nói, “thế mà người ta vẫn nói cười, và mặt trời vẫn tỏa sáng. Căn phòng này đầy những thứ quý giá. Người hầu đứng trên cầu thang. Cách đây chỉ hơn mười lăm mét là cái giường nguy nga của tôi. Tất cả là của tôi. Thứ tôi chạm vào là của tôi, thứ tôi liếc mắt nhìn vào là của tôi. Họ sẽ cho tôi cả quả đất tròn nếu có để cho và tôi hỏi xin. Và tôi sẽ ném nó như viên bi da xuống một vũng nước hôi thối, để nó không còn có thể làm nhơ bẩn ngôi nhà của những vì sao bằng sự bẩn thỉu và những nỗi đau khổ của nó nữa. Tôi mới đầy nỗi ghét bỏ làm sao! Tôi không còn biết giấu nó vào đâu hay làm sao để thoát khỏi nó nữa rồi! Tôi không còn tin vào bất cứ điều gì nữa - nghệ thuật cũng không, những thi sĩ cũng không, chính bản thân mình cũng không. Tôi chỉ ghét bỏ và hủy hoại thôi. Tôi là một linh hồn lạc lối!”
Ermelang chắp hai bàn tay mình lại. “Tuyệt diệu như cô, cô nên nhớ tất cả những gì mình đã cho và cho bao nhiêu người.”
Eva đứng im. “Tôi là một linh hồn lạc lối. Tôi cảm thấy điều đó.”
“Tại sao lại lạc lối? Cô đang chơi trò chơi buồn với chính mình đấy.”
Cô ta lắc đầu và thì thầm những vần thơ trong Inferno:
“O simon mago, o miseri
seguaci,
Che le cose di Dio, che di
bontate
Deono essere spose, e
voi rapaci
Per oro e per argento
adulterate.” [1]
Ermelang trầm ngâm thêm:
“Fatto v’avete Dio d’oro e
d’argento;
E che altro è da voi
all’idolatre,
Se non ch’egli uno, e voi
n’orate cento?” [2]
“Tôi nghe thấy gì vậy?” Eva hỏi, và lắng nghe. Từ ngoài phố vẳng vào tiếng những giọng nói khàn khàn và tức giận, tiếng kêu la và rít lên. Ermelang cũng lắng nghe. Rồi anh ta đi đến bên cửa sổ, kéo màn sang một bên, rồi nhìn ra ngoài.
Có năm mươi hoặc sáu mươi người mujik đang tụ tập trên con phố phủ đầy tuyết trước cung điện. Có thể thấy rõ những chiếc mũ lưỡi trai bằng da cừu và những tấm áo choàng dài của họ. Họ đứng đó im lặng và nhìn chòng chọc lên những ô cửa sổ. Họ đã thu hút một đám đông người lớn, đàn ông và đàn bà, và những người này khoa tay múa chân, đầy căm thù, hình như đang xúi giục những người mujik kia.
“Tôi tin đó là những nông dân Mohilev,” Ermelang căng thẳng nói. “Hôm qua tôi đã thấy họ đi diễu hành xuyên qua thành phố.”
Eva đến cạnh anh ta bên ô cửa sổ một lát, liếc mắt nhìn ra ngoài; rồi trở lại giữa phòng. Nụ cười của cô ta khinh khỉnh. Đúng lúc đó Susan Rappard vào, vô cùng hốt hoảng. “Có người dưới nhà. Pierre đã ra hỏi họ muốn gì. Họ muốn nói chuyện với cô; họ khiêm nhường xin phép được gặp cô. Chúng tôi biết trả lời bọn tiện dân ấy thế nào đây ạ? Tôi đã gọi điện cho sở cảnh sát. Trời ơi, đất nước này mới ghê tởm làm sao!”
Eva cúi nhìn xuống. “Họ là những người rất nghèo, Susan ạ,” cô ta nói. “Hãy cho họ tiền. Hãy cho họ tất cả tiền có trong ngôi nhà này.”
“Vớ vẩn!” Susan kêu lên, khiếp sợ. “Làm thế lần sau chúng sẽ đến phá cửa để ăn cướp của chúng ta đấy.”
“Hãy làm như tôi nói,” Eva đáp. “Đến gặp ông Labourdemont bảo ông ta đưa cho cô tất cả tiền mặt sẵn có. Rồi đi ra ngoài cho họ. Không, tốt hơn cô nên cử ai đó có thể nói chuyện với họ ra, bảo anh ta nói rằng tôi đi ngủ rồi nên không thể ra tiếp họ được. Rồi điện thoại ngay cho cảnh sát và đảm bảo với họ rằng chúng ta không cần bảo vệ. Cô có hiểu không?”
“Có ạ,” Susan nói rồi đi ra.
Đám đông đã đông hơn, không khí đã ầm ĩ hơn, và bọn say rượu la hét. Chỉ còn những nông dân là vẫn im lặng. Người già nhất trong bọn họ đã ra rìa vỉa hè. Có một đống tuyết trắng nhỏ trên mũ lưỡi trai của ông ta, bộ râu lốm đốm băng tuyết. Pierre, người gác cửa, trong bộ chế phục với mái tóc dài bạc, đang ngạo mạn đối mặt với ông ta. Lão nông dân già cúi lom khom mình trong khi tên đầy tớ nói.
Eva quay sang Ermelang. “Tạm biệt, bạn thân mến. Tôi mệt rồi. Hãy ghi nhớ giờ phút này, nhưng quên đi khi nói về tôi với người khác. Những điều thầm kín nhất đã được tiết lộ với chỉ một người duy nhất. Chúc ngủ ngon.”
Khi ra đến cửa cung điện, Ermelang thấy đội cảnh sát cưỡi ngựa xuất hiện ở đầu kia phố. Đám đông giải tán với sự nhanh nhẹn chứng tỏ đã rất có kinh nghiệm. Chỉ mất có một phút. Chỉ còn lại những nông dân. Ermelang không biết người ta đã cho tiền họ theo lệnh của Eva chưa. Anh ta không muốn chứng kiến trò chơi của sức mạnh thô bạo chắc chắn sẽ xảy ra khi toán người có vũ trang đến.
