favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ HAI: RUTH (I)

CHUYỆN TRÒ TRONG ĐÊM

I

Wolfgang, vào dịp anh ta về thăm nhà nhân kỳ nghỉ lễ Giáng Sinh, đã chúc mừng cha mình về việc ông này vừa nhận một chức vị cao mới; Albrecht Wahnschaffe vừa được bổ nhiệm chân Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật.

Anh ta thấy ngôi nhà đã thay đổi – im lìm và ảm đạm. Sau một cuộc chuyện trò ngắn với cha anh ta biết rằng Christian chính là người đã gây ra nỗi lo lắng và khích động này. Anh ta chăm chú lắng nghe, nhưng không thành công trong việc thu thập được bất cứ chi tiết nào. Những người không quen biết nói cho anh ta biết việc Christian đã bán những tài sản của chàng; nhưng anh ta chẳng có chút ý niệm nào về ý nghĩa của bước đi này.

Anh ta chỉ có một cuộc nói chuyện dài với mẹ. Anh ta thấy bà ta hình như đau ốm và đối đãi với mình bằng một thái độ lãnh đạm nó làm cho anh ta bị tổn thương.

Đủ loại tin đồn đến tai anh ta. Lão quản gia thông tin cho anh ta biết rằng ngài von Crammon đã qua vài ngày trong tòa lâu đài này, hầu như lúc nào cũng ở trong phòng riêng với bà chủ. Họ đã gửi một bức điện tín dài kinh khủng đến Berlin, đề nghị với ai đó một khoản đút lót bốn mươi hoặc năm mươi ngàn mark. Bức điện tín không được gửi trực tiếp đến con người đang được nói đến ở đây, mà đến một người trung gian. Câu trả lời hẳn không thuận, bởi vì sau khi nhận nó ngài von Crammon đã loan báo rằng đích thân ông sẽ đi tiếp đến Berlin.

Wolfgang quyết định viết thư cho Crammon, nhưng bức thư của anh ta đã không được trả lời.

Do về cơ bản anh ta rất ít quan tâm đến những việc làm của Christian, nên kiềm chế không điều tra xa hơn, và đến đầu tháng Một thì quay trở về Berlin. Thật rõ ràng từ cách cư xử của những người quen biết của anh ta rằng có một bí mật liên quan đến anh ta đã tác động lên tâm trí họ. Trong nhiều con mắt là ánh tò mò mập mờ nhưng cảnh giác. Nhưng anh ta không đặc biệt nhạy cảm. Mục tiêu của anh ta là xuất hiện không tì vết trước mắt cuộc đời và không để cho bất cứ ai có thể tác động được đến sự nghiệp của mình xa lánh mình. Anh ta đồng cảm hoàn toàn với những cách nhìn nhận của nhóm xã hội của mình đến mức run sợ trước ý nghĩ rằng sẽ bị kết tội về một sai lầm hay một việc làm không theo quy ước nào đó. Vì lý do này mà trong thái độ của anh ta có nhân tố cảnh giác và bồn chồn một cách căng thẳng. Anh ta cực kỳ cẩn thận không thể liều lĩnh mang vẻ mặt không có quan điểm riêng nào cả của mình, mà luôn luôn chắc chắn rằng bất cứ điều gì mình nói ra đều bày tỏ quan điểm của cái đa số nó đặt ra những tiêu chuẩn cho cái thế giới bé nhỏ của mình.

Tại một buổi tụ tập xã hội anh ta đã trông thấy bên cạnh mình vài người đàn ông trẻ đã bước vào một cuộc chuyện trò hăng hái nhưng thì thầm. Anh ta nhập bọn với họ thế là họ im lặng ngay lập tức. Anh ta không thể không để ý đến việc này. Anh ta lôi một trong số họ ra một bên và cộc cằn đặt câu hỏi với anh ta. Đó là một anh chàng Sassheimer nào đó, con trai một trùm tư bản công nghiệp đất Mainz. Nhẽ ra anh ta phải chọn người khác, bởi vì Sassheimer đố kỵ với anh ta, và đã có một mối ghen tị dài lâu giữa gia đình anh này và nhà Wahnschaffe.

“Bọn tôi đang nói chuyện về anh trai anh đấy,” anh này nói. “Có chuyện gì với anh ta vậy? Những câu chuyện hoang dại nhất đang trôi giạt quanh quẩn cả ở nhà lẫn ở Berlin. Có gì với chúng không? Anh nên biết đấy.”

Wolfgang đỏ bừng mặt. “Chuyện gì có thể sai?” anh ta dè dặt và ngượng ngùng đáp. “Tôi chẳng biết gì cả. Christian và tôi hầu như không liên lạc với nhau.”

“Người ta nói rằng anh ta đã chấp nhận một người đàn bà phóng đãng,” Sassheimer tiếp tục, “một sinh linh chung của những con phố. Anh nên làm gì đó với tin đồn này. Đây không phải là loại chuyện mà gia đình anh có thể dễ dàng bỏ qua được.”

“Tôi chưa được nghe một âm tiết nào về chuyện này,” Wolfgang nói, mặt càng đỏ hơn bao giờ hết. “Nó cũng là chuyện khó tin nhất. Christian là con người kén chọn nhất trên đời. Ai là người phải chịu trách nhiệm về một chuyện dại dột đến thế chứ?”

“Đâu đâu người ta cũng nói chuyện này,” Sassheimer hiểm độc nói; “thật kỳ quặc vì anh lại là người duy nhất không nghe thấy gì cả. Bên cạnh đó, người ta còn nói rằng anh ta đã cắt đứt với tất cả bạn bè. Sao anh không đến gặp anh ta? Anh ta đang ở trong thành phố này đấy. Những chuyện như thế này thông thường có thể được điều chỉnh một cách thân thiện trước khi chuyện tai tiếng lan đi quá xa.”

“Tôi sẽ hỏi thăm ngay lập tức,” Wolfgang nói, và vươn rất thẳng thân mình lên. “Tôi sẽ thăm dò thấu đáo chuyện này, và nếu như phát hiện ra rằng tin đồn kia chỉ là trò vu khống thì tôi sẽ bắt những kẻ đã lan truyền nó phải chịu trách nhiệm một cách nghiêm khắc.”

“Phải, đó dường như là việc đúng đắn để làm đấy,” Sassheimer mát mẻ trả lời.

Wolfgang về nhà. Tất cả nỗi căm thù anh trai cũ trong lòng anh ta lại bùng cháy lên. Trước tiên vì Christian là con người sáng chói làm lu mờ tất cả những người khác; giờ đây chàng còn đe dọa sẽ mang ô nhục và nguy hiểm về cho nhóm người thân thiết nhất của một con người.

Nỗi căm thù hầu như bóp nghẹt anh ta.

II

Cuộc hỏi ý kiến và gặp mặt đã sắp kết thúc. Nét mặt ông Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật Wahnschaffe đã có vẻ mệt mỏi. Người cuối cùng chia tay ông ta là một người Nhật, một ủy viên hội đồng trong bộ chiến tranh ở Tokio. Một trong những ông giám đốc đã có mặt trong cuộc hội nghị này, nó quan trọng và dính líu đến những vấn đề chính trị có ảnh hưởng rộng rãi. Ông này đã sắp ra về thì ông Wahnschaffe ra hiệu bảo ông ta hãy ở lại.

“Ông đã chọn được kỹ sư đi Glasgow chưa?” ông ta hỏi. Ông ta tránh nhìn mặt ông kia. Điều làm cho ông ta khó chịu ở những người đàn ông xung quanh mình là một vẻ mặt tham lam quyền lực, tài sản, và thành công nào đó, mà họ mang như bộ đồng phục bằng kim loại vậy. Ông ta hầu như không trông thấy vẻ mặt nào khác nữa.

Ông giám đốc nhắc đến một cái tên.

Ngài Wahnschaffe gật đầu. “Người Anh thật kỳ lạ,” ông ta nói. “Rồi họ sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào chúng ta cho mà xem. Không những họ không còn có thể chế tạo ra những cỗ máy như thế này nữa, mà chúng ta còn phải cử chuyên gia sang triển khai chế tạo chúng và hướng dẫn cách vận hành nữa. Mười năm trước ai mà nghĩ chuyện này có thể xảy ra kia chứ?”

“Họ thẳng thắn thừa nhận mình yếu kém hơn trong lĩnh vực này,” ông giám đốc trả lời. “Một trong những quý ông đến từ Birmingham, mà chúng tôi vừa mới dẫn đi thăm nhà máy, đã bày tỏ nỗi kinh ngạc tột độ trước sự tiến bộ không thể cưỡng lại nổi của chúng ta. Ông ta nói thật phi thường. Tôi đã nói với ông ta cái lý do khiêm tốn nhất mà mình có thể nghĩ ra được. Tôi cắt nghĩa rằng chúng ta không có cái thể chế nghỉ cuối tuần kiểu Anh, và vì thế mà thêm được năm sáu giờ mỗi tuần vào hoạt động sản xuất.”

“Thế lời giải thích đó có làm cho ông ta được thỏa mãn hay chăng?”

“Ông ta hỏi: ‘Ông thực sự nghĩ đó là nguyên nhân của việc các ông vượt lên trước chúng tôi hay sao?’ Tôi nói rằng thời gian cả đất nước chúng ta hoạt động đã nhiều hơn đến vài ngàn giờ mỗi năm. Ông ta lắc đầu và nói rằng chúng ta đã cực kỳ đầy đủ thông tin và cần cù, nhưng rằng, nếu xem xét kỹ, thì chúng ta đã cạnh tranh một cách không công bằng.”

Ông Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật nhún vai. “Những lời cuối cùng của họ bao giờ cũng thế - không công bằng. Tôi không hiểu ý họ đấy. Họ công bằng hơn chúng ta ở điểm nào nhỉ? Họ dùng những từ đó như phương kế cuối cùng mà thôi.”

“Họ không có nhiều thiện ý với chúng ta,” ông giám đốc nói.

“Phải. Thật đáng tiếc; nhưng họ đúng là như thế thật.” Ông ta gật đầu với ông giám đốc, ông này cúi chào rồi ra khỏi phòng.

Ngài Wahnschaffe tựa mình vào ghế, chán ngán liếc nhìn đống tài liệu nằm rải rác trên cái bàn làm việc khổng lồ, rồi đưa bàn tay xanh xao lên che mắt. Đó là cách ông ta nghỉ ngơi và tập trung suy nghĩ. Rồi ông ta ấn một trong vô số những cái nút điện trên mép bàn làm việc. Một người thư ký bước vào. “Còn ai khác nữa không?”

Viên thư ký trao cho ông ta một tấm thiếp, và nói: “Quý ông này đến từ Berlin, và nói rằng có một cuộc hẹn với ngài, thưa ngài.”

Tấm thiếp như sau: “Willibald Girke, Thám Tử Tư. Chi Nhánh Thám Tử Tư Girke và Graurock. Số 2 Phố Puttbuser, Thành Phố Berlin.”

III

“Ông có gì mới để báo cáo không?” ông Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật hỏi.

Chỉ cần một cái liếc mắt nhanh thôi cũng có thể cho ông ta thấy trên bộ mặt kia cái lòng tham lam quyền lực và tài sản và thành công rõ mồn một và đáng khinh đó nó không chùn bước trước bất cứ sự suy đồi và nỗi khiếp sợ nào trong quyết tâm sắt đá của mình.

“Những tin tức được viết ra giấy của ông đã không làm cho tôi được thỏa mãn, vì thế nên tôi gọi ông đến đây để định nghĩa cho tôi nghe những phương pháp sẽ được sử dụng trong những cuộc điều tra của ông một cách kỹ lưỡng hơn.” Lối nói trang trọng đó hòng để che giấu sự không chắc chắn và nỗi xấu hổ trong thâm tâm ngài Wahnschaffe.

Girke ngồi xuống. Giọng ông ta mang âm hưởng địa phương Berlin. “Chúng tôi đã rất tích cực. Có rất nhiều tài liệu. Nếu ông cho phép, tôi xin đệ trình chúng ngay bây giờ.” Ông ta lấy từ trong túi mình ra một cuốn sổ tay, rồi lật giở các trang.

Hai tai ông ta rất to và vểnh xa đầu. Điều này gây ấn tượng với người ta như sự thích nghi kỳ lạ của một cơ quan với hoạt động và môi trường của nó. Ông ta nói vội vàng; ông ta lắp bắp nói không hết câu. Chốc chốc ông ta lại căng thẳng và do dự chòng chọc nhìn đồng hồ của mình. Ông ta gây ấn tượng là người đàn ông mà cuộc sống trong một thành phố lớn đã làm cho say sưa, người không được thảnh thơi ăn và ngủ do thiếu thời gian, người mà tâm trí bị xé vụn vì không ngừng chờ đợi những cuộc gọi điện thoại, những bức thư, những bức điện tín, và báo chí.

Ông ta nói một cách vội vàng đơn điệu. “Căn hộ trên phố Kronprinzenufer có người ở. Nhưng không rõ con trai ông có thể được xem như vẫn còn sống ở đó hay không. Tháng vừa rồi anh ta chỉ qua có bốn đêm ở đó. Dường như anh ta đã chuyển nhượng căn hộ này cho một sinh viên y, Amadeus Voss. Chúng tôi đã và đang theo dõi quý ông này như ông đã chỉ đạo. Lối sống của người đàn ông trẻ này thật là lạ thường nhất, xét từ quan điểm nguồn gốc và cảnh nghèo khổ khét tiếng của anh ta. Dĩ nhiên, việc anh ta lấy tiền ở đâu đã rõ ràng. Anh ta đã trúng tuyển vào trường đại học đó; và con trai ông cũng vậy.”

“Chúng ta hãy gạt Voss ra ngoài một lát,” ngài Wahnschaffe ngắt lời, vẫn bị tính ngập ngừng và nỗi hổ thẹn của mình đè nặng. “Ông đã viết thư báo cho tôi biết rằng con trai tôi thuê liên hoàn thực sự là một loạt chỗ ở. Tôi rất mong một lời giải thích cho việc này, cũng như những bằng chứng chính xác về chỗ ở hiện thời của nó.”

Girke lại lật những trang trong cuốn sổ tay của ông ta. “Đây rồi, thưa ngài. Những cuộc điều tra của chúng tôi đã cung cấp một sợi dây xích liền mạch. Từ Kronprinzenufer anh ấy chuyển cùng với người đàn bà mà chúng tôi đã thu thập được đầy đủ dữ kiện đáng tin cậy đến phố Bernauer, trong khu vực Nhà Ga Hỏa Xa Stettiner. Tiếp theo anh ấy chuyển đến số 16 phố Fehrbelliner; rồi đến số 3 phố Jablonski; rồi đến phố Gaudy, rất gần Quảng Trường Exerzier; cuối cùng là đến phố Stolpische tại góc Driesener. Điều kỳ lạ không chỉ ở sự thay đổi nơi cư trú liên tục này, mà còn ở sự xuống cấp về thanh danh dần dần của những khu vực được lựa chọn, xuống đến mức vô sản không thể cứu vãn nổi. Sự này dường như tiết lộ một kế hoạch bí mật và một ý định dứt khoát.”

“Và nó đã dừng lại ở phố Stolpische à?”

“Anh ấy đã ở đó năm tuần, từ ngày hai mươi tháng Hai. Nhưng anh ấy thuê hai căn hộ ở nơi này, một cho người đàn bà mà tôi đã nói đến ở trên và một cho chính mình.”

“Nơi này tít phía Bắc thành phố, có phải không?”

“Xa hết mức ông có thể đến. Phía Tây và phía Bắc nó là những lô đất trống. Về phía Đông những con đường dẫn đến những nghĩa trang Weissensee. Xung quanh là những nhà máy. Đó là một khu vực ô nhiễm, nguy hiểm, và gớm ghiếc. Bản thân ngôi nhà này được xây khoảng sáu năm trước, nhưng đã ở trong tình trạng tệ hại. Có bốn mươi lăm căn hộ có cửa vào từ bên ngoài, và năm mươi chín căn chẳng có gì ngoài cửa vào từ trong sân. Những căn hộ có cửa vào từ trong sân này là nơi cư ngụ của công nhân nhà máy, những người buôn bán vặt, những người làm những nghề không rõ ràng, và những nhân vật rành rành là khả nghi. Karen Engelschall, người đàn bà mà tôi đã nói đến ở trên, có một căn hộ ở bên ngoài, gồm hai phòng và một bếp. Đồ đạc thuộc về một bà quả phụ tên là Spindler. Tiền thuê nhà hàng tháng là tám mươi mark, phải trả trước. Cô ta có một người hầu, một cô gái trẻ tên là Isolde Schirmacher, con gái một thợ may. Con trai ông ở trọ dưới tầng trệt trong một căn hộ ở bên trong với một gã Gisevius nào đó, gác đêm trong xí nghiệp Borsig. Nơi ở của anh ấy gồm một phòng khách được trang bị đồ đạc nghèo nàn và một buồng ngủ tranh tối tranh sáng chẳng có gì ngoài một cái cũi.”

Ngài Wahnschaffe mở to hai mắt, dưới ảnh hưởng của một nỗi hoảng sợ mà ông ta không thể hoàn toàn kiểm soát được. “Lạy Chúa,” ông ta nói, “ý nghĩa của chuyện này có thể là gì vậy?”

“Quả thực là một bí ẩn, thưa ngài. Chúng tôi chưa từng gặp vụ nào tương tự. Dĩ nhiên, có rất nhiều chỗ cho giả thiết. Rồi còn có niềm hy vọng rằng những sự kiện trong tương lai sẽ soi sáng mọi chuyện nữa.”

Ngài Wahnschaffe đã lấy lại tính tự chủ của mình, và lạnh lùng gạt những nỗ lực an ủi của ông kia đi. “Và thông tin liên quan đến người đàn bà kia của ông là gì?” ông ta hỏi bằng giọng trịnh trọng nhất của mình. “Về hướng đó ông đã thu được những kết quả nào?”

“Tôi cũng đang định nói về chuyện này đây, thưa ngài. Chúng tôi đã cố gắng hết sức, và thành công trong việc lật tẩy những việc xảy ra trước đây trong cuộc đời người đàn bà này. Đó là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, và chúng tôi phải cử một số đặc vụ đến những vùng đất khác nhau của tổ quốc. Không thể khám phá ra tên và nghề nghiệp của cha cô ta, bởi vì cô ta là trẻ vô thừa nhận. Mẹ cô ta là một người Frisia. Bà ta làm quản gia cho một điền trang nhỏ cạnh Oldenburg. Sau đó bà ta sống với một người thu thuế có lương hưu. Sau khi ông này chết thì bà ta mở một cửa hiệu nhỏ ở Hanover, nhưng việc kinh doanh thất bại. Vào năm 1895 bà ta bị kết tội lừa đảo, và phải sống ba tháng trong nhà tù ở Cleve. Sau đó chúng tôi mất dấu vết của bà ta, cho đến khi bà ta có mặt ở Berlin vào năm 1900. Ban đầu bà ta sống ở Rixdorf. Sau đó thì đi thuê nhà - đầu tiên là ở trên phố Brusseler đằng sau bệnh viện Virchow, hiện nay là trên quảng trường Zionskirch. Bà ta bị buộc tội thuê nhà vì những mục đích vô đạo đức, nhưng người ta chẳng thể chứng minh được điều gì chống lại bà ta. Bà ta giả vờ mình là một người thêu thùa nghệ thuật, nhưng thật ra là hành nghề bói toán và lên đồng. Nhìn cách sống của bà ta thì có thể đoán được rằng nghề này kiếm được khá tiền. Bà ta chỉ có hai người con, Karen, và một người con trai, giờ đây hai mươi sáu tuổi, tên là Niels Heinrich, kẻ mà cảnh sát biết là một tên vô lại xỏ lá và có vài dịp đã chạm trán với pháp luật. Từ khi còn bé tí Karen đã có một sự nghiệp ám muội rồi. Rõ ràng bà mẹ cô ta đã khích lệ cô ta làm mọi việc. Người ta đồn rằng vào năm cô ta mười bảy tuổi mẹ cô ta đã bán cô ta cho một thuyền trưởng tàu Hà Lan lấy năm trăm gilder. Cô ta đã sinh ra hai đứa con hoang, tại Kiel vào năm 1897 và tại Konigsberg vào năm 1901. Cả hai đều chết ngay sau khi được sinh ra. Thêm vào những thành phố đã được nêu trên, cô ta còn sống ở Bremen, Schleswig, Hanover, Kuxhaven, Stettin, Aachen, Rotterdam, Elberfeld, và Hamburg. Tại hầu hết tất cả những nơi này cô ta đều là gái điếm có đăng ký. Chúng tôi mất dấu cô ta vào khoảng giữa năm 1898 và 99. Hoàn cảnh của cô ta hình như tạm thời được cải thiện trong năm đó. Theo một người cung gấp thông tin thì cô ta đã đi theo một họa sĩ người Đan Mạch đến Wassigny ở miền Bắc nước Pháp. Từ Hamburg, nơi cô ta dần dần ngày càng chìm sâu hơn, cô ta đã được đưa đến Berlin theo cái cách mà liên quan đến nó chúng tôi đã có niềm vinh dự được đáp lại ông bằng bản miêu tả trong báo cáo ngày mười bốn tháng Hai của chúng tôi.”

Girke hít vào một hơi dài. Thành tựu của ông ta trong cấu trúc kiến trúc của nó dù sao chăng nữa cũng lại gây ấn tượng lên ông ta. Ông ta tận hưởng sự sắp xếp tài liệu có phương pháp được lượm lặt từ rất nhiều nguồn, và ném một cái liếc mắt đắc thắng về phía ông Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật. Ông ta không trông thấy vẻ mặt sắt đá của ông này, mà vẫn tiếp tục cuộc tuần du khải hoàn của mình. “Sau khi về Berlin cô ta đã tìm được mẹ mình, và họ lại nhanh chóng trở nên rất thân mật. Bà ta đến thăm cả hai người ở Kronprinzenufer và ở tất cả những nơi khác. Gã anh trai Niels Heinrich cũng đến gặp Karen – hai lần ở phố Fehrbelliner, một lần ở phố Gaudy, và năm lần ở phố Stolpische. Những cuộc cãi vã đã nổ ra giữa ba con người này, lần sau ầm ĩ hơn lần trước. Vào ngày mười một tháng này, vào lúc năm giờ chiều, Niels Heinrich đã rời khỏi căn hộ của em gái hắn trong một cơn phẫn nộ, phun ra những lời hăm dọa và khoác lác và đã tạo nên một cảnh tượng om sòm ở trong một quán rượu. Vào ngày mười hai hắn đã ra khỏi ngôi nhà đó cùng với con trai ông. Họ đi cùng nhau đến phố Lothringer; ở đó con trai ông đã đưa tiền cho gã kia. Vào ngày mười sáu hắn đi đi lại lại trước ngôi nhà trên phố Kronprinzenufer đến tận tối. Khi con trai ông, đi cùng với gã sinh viên Voss, xuất hiện trên con phố đó, thì hắn tiến lại gần họ. Sau vài ba câu trao đổi con trai ông lại đưa cho hắn tiền, những đồng tiền vàng cũng như một tờ tiền giấy. Con trai ông và Voss cùng nhau đi tiếp đến công viên Tiergarten, và trong khoảng thời gian đó Voss dường như đã phê bình con trai ông dữ dội. Không biết chủ đề cuộc nói chuyện giữa họ là gì. Đặc vụ của chúng tôi đã không thành công trong việc tiếp cận họ đủ gần, còn tôi thì hôm đó lại bận những công việc khác. Tuy vậy, chúng tôi đã được thông báo một cách đáng tin cậy, bởi những biệt đội trong ngôi nhà trên phố Kronprinzenufer, rằng Voss thường hay có thái độ cực kỳ xấc láo và hung hăng gay gắt đều hướng về phía con trai ông.”

Albrecht Wahnschaffe trắng bệch mặt. Để che giấu cơn náo động trong linh hồn mình, ông ta đứng dậy tiến lại gần cửa sổ.

Những nền móng đang lung lay. Những làn khói đen đang che mờ đỉnh cao cuộc sống nơi ông đã đứng, đúng như khói và muội do gió thổi xuống từ trên những ống khói vĩ đại đang che mờ tất cả mọi thứ ở ngoài kia. Những tiếng động hỗn loạn của lao động cực nhọc và tiếng máy móc ầm ĩ văng vẳng trôi giạt đến tai ông. Tuyết bẩn đóng trên những mái nhà và gờ chỉ.

Phải làm gì đây? Trong luật pháp có những điều khoản dành cho những trường hợp quá khích; nhưng có thu xếp cho Christian bị tuyên bố vô trách nhiệm cũng không xóa đi được vết nhơ. Chẳng còn gì để làm ngoài thuyết phục, ngăn chặn, đề phòng, bưng bít.

Lời nói cuối cùng cũng thoát ra được khỏi cái cổ họng đau đớn của ông ta: “Nó có giao du với những kẻ đáng ngờ nào khác nữa hay không?”

“Không có ai mà tôi biết,” Girke trả lời. “Với những kẻ tầm thường, có; cả trong ngôi nhà lẫn ở ngoài con phố đó. Nhưng anh ấy đi nghe giảng đều đặn, và nghiên cứu ở nhà. Anh ấy không giao du với bạn sinh viên của mình, hay đúng hơn là cho đến gần đây mới giao du. Tuy vậy chúng tôi nghe nói rằng ở trường đại học nhân cách của anh ấy đã gây được sự chú ý. Hai ngày trước có một ngài von Thungen nào đó, người dừng chân trong khách sạn de Rome, đã đến thăm anh ấy. Chúng tôi chưa thể nói sự kiện này có gây ra hậu quả nào hay không.”

Với hàng lông mày tối sầm, ông Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật nói: “Tôi đã mua tất cả tài sản của con trai tôi. Tiền bán được, lên đến mười ba triệu năm trăm ngàn mark, đã được gửi vào ngân hàng Deutsche. Không may sao không có cách thức hợp pháp nào mà bằng cách đó tôi có thể được thông tin về việc sử dụng khoản tiền này, và việc không chỉ thu nhập mà cả vốn có đang được sử dụng hay không. Một số thông tin rõ ràng về điểm này sẽ quan trọng.”

Khoản tiền được nêu lên đã làm cho Girke tràn đầy một cơn rùng mình tôn kính. Ông ta cúi đầu, và nước miếng ứ lên trong miệng ông ta. “Thêm vào con số mười ba triệu đó, con trai ông còn có khoản thu nhập hàng năm của anh ấy nữa, có phải không ạ?”

Ngài Wahnschaffe gật đầu. “Khoản tiền đó công ty trả cho nó hàng quý thông qua một chi nhánh của ngân hàng Dresden.”

“Tôi hỏi, dĩ nhiên, chỉ để trông thấy tình hình được rõ ràng. Xét trên số tiền vô giới hạn đó, thì lối sống của con trai ông thật là bí ẩn, vô cùng bí ẩn đấy ạ. Anh ấy thường xuyên dùng bữa trong những quán trọ và những nhà hàng rất khiêm nhường; anh ấy không bao giờ đi ô tô hay tắc xi, và thậm chí cả tàu điện cũng rất hiếm khi. Anh ấy đi bộ những quãng đường dài, cả buổi sáng lẫn buổi tối.”

Mẩu thông tin này như dao đâm vào ông Ủy Viên Hội Đồng Cơ Mật. Nó gây ấn tượng sâu đậm lên ông ta hơn bất cứ điều gì khác mà ông thám tử đã cho ông ta biết.

“Tôi sẽ lưu ý thích đáng đến những nguyện vọng của ngài trong từng chi tiết cụ thể, thưa ngài,” Girke nói. “Không dễ thu được cái thông tin mà ngài vừa mới nhắc đến. Nhưng tôi sẽ lo sao cho những sự phục vụ của hãng chúng tôi sẽ làm cho ngài được hài lòng, thưa ngài.”

Câu nói đó đã khép lại cuộc gặp gỡ trên.

Thêm vào giỏ hàng thành công