favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ HAI: RUTH (XXXII)

ĐIỀU TRA

XV

Ngoài căn phòng mẹ cho, Niels Heinrich còn một chỗ trọ khác trên tầng năm tiệm của một người thợ thiếc ở phố Rheinsberger. Hắn chuyển khỏi đó vào hôm sau cuộc nói chuyện với Christian. Hắn làm thế vì có quá nhiều người biết hắn trọ ở đây. Hắn cũng không thể ngủ ở đó thêm được nữa. Hắn ngủ nhiều lắm là nửa giờ; rồi nằm thức hút thuốc, trở mình hết sang bên này lại sang bên kia. Thỉnh thoảng lại bật lên một tiếng cười khô khan, lạch cạch, những khi sự nhớ lại điều người đàn ông Wahnschaffe đó đã nói trở nên đặc biệt sống động.

Dù sao, người đàn ông đó là ai chứ? Mày có thể nghĩ cho đến khi óc nát ra. Người đàn ông đó!

Tính tò mò giống như một đám cháy lớn trong lòng Niels Heinrich.

Hắn lấy một phòng trên phố Demminer với người bán tạp phẩm tên Kahle. Căn phòng đó ở ngay trên cửa hiệu. Biển hiệu lớn “Trứng, Bơ, Pho Mát” hầu như che hết cả ô cửa sổ thấp; thế nên cái lỗ đó tối mò. Thêm vào đó sàn và tường mỏng đến mức người ta có thể nghe được tiếng chuông dưới hiệu, tiếng khách mua hàng nói chuyện, và tất cả những tiếng động khác. Trong đó hắn lại nằm hút thuốc và nghĩ đến người đàn ông kia.

Người đàn ông kia và hắn - thật không đội trời chung. Đó là kết cục những suy nghĩ của hắn.

Kahle yêu cầu hắn phải trả tiền thuê phòng trước. Niels Heinrich nói rằng yêu cầu đó xúc phạm danh dự của hắn; hắn lúc nào cũng trả tiền nhà vào ngày cuối tháng. Kahle trả lời rằng đúng là có thể như thế thật, nhưng ông ta có thói quen lấy tiền thuê nhà trước. Vợ Kahle - gầy như cây đinh và tóc vấn cao - vừa la hét vừa văng tục. Niels Heinrich đành nhượng bộ với ít lời lăng mạ khô khan và hứa sẽ trả tiền nhà vào ngày thứ ba.

Hắn thử làm việc trong một nhà máy. Nhưng búa và khoan cứ như cố tình cưỡng lại hắn vậy; bánh xe và băng chuyền dường như xoáy tít qua người hắn, và giờ làm việc đều đặn làm hắn ngạt thở. Sau giờ nghỉ trưa người ta thấy một trong những cỗ máy đã hỏng. Một đinh ốc bị lỏng, và chỉ nhờ tính cẩn thận của người thợ máy nên mới không xảy ra thảm họa. Anh ta tuyên bố với cả đốc công lẫn kĩ sư rằng rắc rối này là do hành động cố ý của một thằng đểu; nhưng sự điều tra không mang lại kết quả gì.

Niels Heinrich thầm nhủ rằng hắn đã thất bại trong công việc; và vì đang cần tiền nên đến gặp mụ quả phụ. Mụ ta nói mình chỉ có sẵn mười sáu mark thôi. Mụ ta cho hắn sáu. Thế chả đủ. “Trông mày kinh quá, con ạ!” mụ ta kêu lên, hoảng sợ. Hắn thô bạo bảo mụ ta rằng đừng có mà lên mặt, và nói thêm rằng tất nhiên mụ không thể chờ mong hắn thỏa mãn bằng mấy đồng xu bẩn đó được. Mụ ta rên rỉ và giải thích rằng công việc làm ăn ế ẩm quá chừng; hầu như chẳng còn ai bỏ tiền ra đi xem bói nữa. Mụ ta dường như chẳng còn gì ngoài vận rủi và đã mất kĩ năng. Niels Heinrich hằm hằm trả lời rằng hắn sẽ đi thuộc địa; tuần sau hắn sẽ ra khơi, và rồi mụ ta sẽ không còn phải gặp hắn nữa. Mụ quả phụ mủi lòng, và chìa ra ba đồng tiền vàng nhỏ.

Hắn đưa một đồng cho Kahle.

Rồi hắn đến quán rượu gin của Griebenow, sau đó đến tiệm nhảy, cuối cùng thì đến cái hang ổ đầy tai tiếng dưới một tầng hầm.

Hắn đã thay đổi – ai cũng nói thế, và trừng trừng nhìn họ một cách xấu xa. Hắn thấy chẳng còn gì ngon lành nữa. Mọi điều đều rời rạc; thế giới dường như đang tách rời nhau ra. Tay hắn ngứa ngáy muốn giật phăng mấy cây đèn ra khỏi móc. Hắn muốn nổi điên lên khi thấy có hai người đang thì thầm nói chuyện với nhau; hắn chỉ muốn xách một cái ghế lên, phăng cho vỡ sọ chúng ra. Có một ả đàn bà ve vãn hắn; thế là hắn túm cổ ả quá thô bạo đến mức ả phải hét toáng lên vì kinh hãi. Tình nhân của ả rút dao gọi hắn ra nói chuyện; mắt cả hai tóe lửa căm thù. Chủ quán, và những kẻ sẽ gặp bất lợi nếu nơi này xảy ra ẩu đả, can ngăn chúng. Mặt gã kia vẫn đằng đằng sát khí, nhưng Niels Heinrich lại bật lên tiếng cười như dê. Mày làm đếch gì được tao? Tất cả chúng mày làm đếch gì được tao? Đồ con lợn! Tất cả chúng mày, tất cả - lũ lợn chúng mày ấy! Bọn mày thì nghĩa lý chó gì?

Nhưng có bốn chữ nhỏ mà hắn không thể gạt đi được. “Tôi sẽ chờ anh.” Đám vô lại ở xung quanh hắn cứ liến thoắng và thèm thuồng nói thế. “Tôi sẽ chờ anh.” Thế nào mà người đàn ông đó đã đứng trước mặt hắn! Niels Heinrich cắn môi; rồi ghê tởm chính thịt mình.

“‘Tôi sẽ chờ anh.’ Được thôi, anh bạn! Mày có thể chờ cho đến khi bầm tím mặt mày đấy.

“‘Tôi sẽ chờ anh.’ Mẹ kiếp, một người đàn ông không thể được nghỉ ngơi sao? Ngậm mồm lại không tao đấm cho răng văng vào trong họng luôn bây giờ.

“‘Tôi sẽ chờ anh.’ Phải, rồi một ngày nào đó mày sẽ được gặp tao - dưới địa ngục.

“‘Tôi sẽ chờ anh.’”

Những nhân chứng mới đã xuất hiện. Cả trên phố Wisbyer lẫn phố Stolpische đều có người thấy Ruth Hofmann lần cuối đi cùng với một cô gái và một con chó đồ tể khổng lồ. Tất cả những ngôi nhà khả nghi trong ngõ Prenzlauer đều bị lục soát. Có nhiều tửu điếm dưới hầm, nhưng quán “Chốn Nghỉ Ngơi Của Adele” đặc biệt được chú ý. Ở đó người ta tìm thấy một con chó giống con được miêu tả - một con chó vô chủ, chắc chắn là thế. Có người nói nó từng của một người da đen làm việc trong gánh xiếc; những người khác nói nó đâu như từ các sân nhốt súc vật đến.

Người ta phát hiện thấy những dấu vết của vụ giết người dưới tầng hầm đó. Một tấm ván bị mối ăn đen những máu được tìm thấy sau bức vách ngăn. Lúc tội ác diễn ra nó hẳn nằm trên hai khung gỗ vẫn còn dưới hầm. Con chó vô chủ tru lên lúc người ta dẫn nó xuống tầng hầm này. Khoảng từ mười lăm đến hai mươi người, gồm chủ quán, ả phục vụ, đám hay đến quán này, và những người ở trong ngôi nhà đó, đã bị chất vấn cặn kẽ. Trong số những người ở trong ngôi nhà đó thì Molly Gutkind có vẻ rất khả nghi vì lý do những câu trả lời lúng túng và thái độ lo âu. Cô ta bị bắt giữ trong vai trò nhân chứng.

Niels Heinrich đã gặp cô ta vào đêm trước hôm đó. Sự điều tra riêng của hắn xác nhận những tin đồn trước đó đã đến tai hắn. Chắc chắn là cô ta đã cho một thằng bé nào đó trú ẩn. Hắn quyết tâm sẽ dùng biện pháp mạnh. Gì chứ chuyện đó thì hắn là chuyên gia rồi.

Ấn tượng chung của hắn là cô ta khó có thể trở thành nguồn nguy hiểm trực tiếp với mình được, nhưng đã có ý niệm chung về chuyện hẳn đã xảy ra. Và khi hắn nhớ lại điều Wahnschaffe nói với mình liên quan đến em trai Ruth, thì mối liên hệ đã hoàn toàn rõ ràng. Giá mà tóm được thằng bé đó, thì hắn sẽ lo sao cho cái lưỡi chết tiệt của nó không ve vẩy ít nhất là trong một thời gian. Xúi quẩy sao mà đúng thằng oắt đó lại mò đến nhà Con Giòi Bé Bỏng. Bây giờ hắn phải bằng cách nào đó biến con điếm này thành ra vô hại. Dù hắn không thể thu được ba lời mạch lạc từ cô ta, và dù run rẩy như cọng rơm trước cái nhìn trừng trừng của hắn, thì cô ta vẫn để lộ ra điều mình biết nhờ nghe được những lời nói mê sảng của thằng bé và biết hết từ điều sau đó đã được tiết lộ. Nước mắt ngắn nước mắt dài cô ta thú nhận rằng từ lúc đó mình không ra khỏi nhà vì sợ gặp người khác. Niels Heinrich băng giá nói với cô ta rằng nếu có quan tâm chút nào đến cuộc sống của chính mình và không muốn làm hại thằng bé, thì tốt nhất là không nên cư xử ngu ngốc như đã cư xử với hắn. Hắn biết kẻ sẽ vặn cổ cô ta trong năm phút nếu nghe được những điều cô ta vừa nói. Tốt hơn cô ta nên lên tàu rồi chuồn đi cho mau. Nhà cô ta ở đâu – Pasewalk hay Itzehoe? Và nếu cô ta không thể biến đi cho mau, thì hắn sẽ giúp một tay! Nghe nói thế cô ta khóc nức nở và nói rằng mình không thể về nhà được. Cha đã dọa sẽ giết cô ta; mẹ nguyền rủa vì nỗi nhục mà cô ta bắt họ phải chịu. Hắn nói nếu mai quay lại mà vẫn còn thấy cô ta ở đây, thì sẽ phải nhảy điệu ít dễ chịu hơn đấy.

Hôm sau cô ta bị bắt. Hôm sau nữa Niels Heinrich nghe nói rằng Con Giòi Bé Bỏng, thừa lúc bạn tù không cảnh giác, đã tự treo cổ chết trong đêm trên thanh cửa sổ xà lim.

Hắn gật đầu tán thưởng.

Nhưng sự an toàn về hướng này không có nhiều ý nghĩa với hắn. Tấm lưới đang bị kéo chặt hơn. Có tiếng thì thầm ở khắp mọi nơi. Những cái liếc mắt lén lút dõi theo hắn. Hắn thường đột ngột quay lại như thể sẽ tóm được kẻ đi theo mình. Tiền càng ngày càng khó kiếm hơn. Tất cả những gì Karen để lại mang về cho hắn chưa đến năm mươi taler. Và bây giờ hắn tràn đầy ghê tởm tất cả những gì từng làm mình khoái trá. Không phải là cắn rứt lương tâm; hắn thì biết gì sự đó. Đó là nỗi khinh bỉ cuộc sống. Hắn khó lòng có thể tự ép mình phải dậy vào buổi sáng. Ngày giống như pho mát ôi chảy. Thỉnh thoảng hắn lại nghĩ đến việc chạy trốn. Hắn đủ thông minh; hắn có thể biến đám gián điệp và thám tử thành lũ ngốc mà không cần phải cố gắng nhiều. Hắn sẽ tìm được nơi bọn chúng không biết đâu mà lần; hắn lên kế hoạch hết rồi: đầu tiên sẽ đi bộ, rồi đón tàu lửa, tiếp theo là lên một con tàu thủy - nếu cần sẽ đi chui vé trong khoang chở than. Trước đây có người từng làm thế và đã thành công rồi. Nhưng để làm gì? Trước hết hắn phải gạt hết mọi chuyện giữa mình với - người đàn ông đó đã! Đầu tiên hắn phải tìm hiểu xem người đàn ông đó biết gì và dạy cho anh ta biết thế nào là lễ độ đã. Hắn không thể để cho mối nguy hiểm đó tồn tại ở đằng sau mình được. Người đàn ông đó đang chờ hắn. Được thôi. Hắn sẽ đến.

Dù có thể lý lẽ trên chỉ che đậy một thôi thúc mạnh mẽ hơn nỗi căm ghét và tính tò mò hung ác, thì bản thân thôi thúc đó vẫn có sức mạnh ghê gớm và cưỡng bách. Có mấy lần hắn đã khởi sự lên đường lo việc đó. Lúc đầu hắn bình tĩnh và quả quyết, nhưng cứ thấy con phố và tòa nhà đó là lại trở lui. Nỗi bồn chồn trong lòng hắn trở thành cơn phẫn nộ tắc nghẹn, cuối cùng thì không thể chịu đựng nổi tình trạng hồi hộp đó nữa. Hôm đó là thứ Sáu; hắn trì hoãn thêm một ngày nữa. Sang thứ Bảy hắn trì hoãn đến tối; rồi hắn đi. Hắn lang thang quanh tòa nhà đó một lát, lảng vảng chỗ lối vào và trong sân. Rồi hắn thấy ánh sáng trong phòng Christian và vào.

XVI

Letitia cùng với bà bá tước và toàn bộ đoàn của bà chuyển vào trong một căn hộ sẵn đồ đạc lộng lẫy trên phố Hoàng Thân Bismarck cạnh Reichstag [Quốc hội Đức trước 1933 – ND]. Crammon ở khách sạn Rome. Ông không thích những khách sạn hiện đại ở Berlin, với vẻ bề ngoài xa hoa giả tạo của chúng. Thực ra là ông không thích thành phố, và việc phải ở thành phố khiến ông ngày nào cũng thấy không thoải mái. Thậm chí khi đi tản bộ trên đại lộ Unter den Linden hay trong công viên Tiergarten ông cũng là một hình ảnh không có niềm vui. Cổ chiếc áo choàng lông thú dựng lên, chẳng thấy mặt đâu chỉ thấy đôi mắt buồn rầu và cái mũi nhỏ nhưng có hình dáng hơi kém sang.

Đi dạo một mình càng làm cho chứng bệnh tưởng trong ông nặng hơn.

“Con ơi, con đang làm ta phá sản đấy,” một sáng Chủ Nhật ông nói với Letitia, lúc nàng vạch cho ông thấy chương trình tiêu khiển trong tuần đó của mình.

Nàng kinh ngạc nhìn ông. “Nhưng bác gái thu được hai mươi ngàn một năm từ chủ nhà Brainitz,” nàng kêu lên. “Ông nghe chính miệng bác ấy nói thế rồi kia mà.”

“Ta nghe rồi,” Crammon đáp. “Nhưng chẳng thấy gì cả. Tiền là thứ người ta phải thấy mới tin được.”

“Ôi, ông mới tầm thường làm sao!” Letitia nói. “Ông nghĩ bác gái đang nói dối sao?”

“Không hoàn toàn là như thế. Nhưng mối quan hệ cá nhân của bà ấy với số học có thể được gọi là khá duy tâm. Từ quan điểm của bà ấy thì một con số không không ít thì nhiều quan trọng không hơn gì một hạt đậu không ít thì nhiều trong một bao đậu. Nhưng một con số không là điều gì đó khổng lồ, con yêu của ta à, điều gì đó bị quỷ ám. Đó là cái bụng vĩ đại của thế giới; nó toàn năng hơn những bộ óc của một Aristotle hay những đạo quân của một đế chế. Hãy tôn kính nó, ta xin con đấy.”

“Ông mới khôn ngoan làm sao, khôn ngoan làm sao,” Letitia nói, buồn bã. “Nhân tiện,” nàng nói thêm bằng giọng có sức sống hơn, “bác gái đang ốm đấy ạ. Bác ấy bị đau tim. Bác sĩ đã khám và kê đơn thuốc cho bác ấy rồi; ông ta sẽ cho bác ấy uống một môn thuốc mới - một sự hòa trộn giữa bromine và calcium.”

“Tại sao phải đúng là bromine và calcium?” Crammon khó chịu hỏi.

“Ôi, chà, bromine thì tĩnh còn calcium lại động,” Letitia líu lo, hoàn toàn hú họa, do dự, dừng lời, rồi bật lên tiếng cười đáng yêu của mình. Crammon, giống như một ông giáo, cố gắng giữ thể diện của mình một lát, nhưng cuối cùng cũng phải bật cười theo. Ông ngồi phịch vào một cái ghế bành sâu, kéo cái bàn nhỏ trên có bát trái cây và những con dao vàng nhỏ lại gần, rồi bắt đầu gọt một quả táo. Letitia, ngồi đối diện ông bàn tay cầm cuốn sách đóng, nhìn ông với vẻ chú ý tinh vi và ranh mãnh. Nàng thích những điệu bộ duyên dáng của ông. Sự tương phản mà ông tạo ra giữa thân hình mũm mĩm và những cử chỉ duyên dáng vẫn luôn làm nàng thích thú.

“Ta nghe nói con đang ve vãn bá tước Egon Rochlitz,” Crammon nói, trong khi ăn quả táo của mình với niềm khoái trá ồ ạt. “Ta muốn nói ra một lời cảnh báo. Người đàn ông đó là một Don Juan bừa bãi đầy tai tiếng đấy; tất cả những gì hắn cần là hai bờ hông và một bộ ngực. Vả chăng, hắn nợ nần ngập đầu ngập cổ; hy vọng duy nhất của các chủ nợ của hắn là hắn kết hôn được với một đám giàu. Cuối cùng, hắn là người góa vợ và cha của ba cô gái nhỏ. Bây giờ thì con biết rồi đấy.”

“Ông thật tử tế và tốt bụng quá chừng khi nói cho tôi biết,” Letitia đáp. “Nhưng nếu thích người đàn ông đó, thì tại sao tôi lại không nên thích nữa chỉ vì những đắn đo đạo đức của ông? Gần như tất cả mọi đàn ông đều theo đuổi phụ nữ; tất cả mọi đàn ông đều nợ nần; nhưng rất ít người có những ba cô con gái nhỏ, và tôi nghĩ điều đó thật quyến rũ. Ông ấy thông minh, có học thức, thanh lịch, và có giọng nói hay nhất. Một người đàn ông có giọng nói nghe dễ chịu không thể thực sự tồi tệ được. Nhưng tôi không có ý định kết hôn với ông ấy đâu. Chắc chắn ông không phải là một người cha dượng già tồi tệ, bướng bỉnh đến mức nghĩ tôi định kết hôn với mọi người đàn ông có ... chà, có giọng nói nghe dễ chịu đấy chứ? Hay ông sợ, đồ hà tiện xấu xa, rằng tôi sẽ cố gắng kiếm của hồi môn từ ông? Tôi chắc chắn vì thế nên ông hài hước chẳng vui tí nào. Nào, Bernard, thú nhận đi! Có phải như thế không?”

Mỉm cười nàng đứng trước mặt ông với một động tác ra lệnh đùa cợt. Ngón trỏ một bàn tay ấn vào trán ông; bàn tay kia nàng giơ lên nửa đe dọa, nửa nghiêm trang.

Crammon nói: “Con ơi, thêm một lần nữa con lại quên lòng kính trọng mà ta có quyền được hưởng rồi. Hãy nghĩ đến những sợi tóc bạc, tuổi tác và kinh nghiệm của ta. Hãy khiêm tốn mà học hỏi ta, và đừng chế giễu bậc tiền bối đáng kính của con. Tính hài hước của ta ư? Chà, ta thừa nhận rằng nó không vui nhất thế giới. A, ngày xưa ta từng hài hước hơn. Hình như con không biết rằng Christian Wahnschaffe - người thân yêu với ta hơn hết thảy đàn ông – đang sống đâu đó trong thành phố này, cách rất xa những nơi chúng ta thường hay lui tới, trong những ngôi nhà ổ chuột lầy lội. Cả con, trong một tình trạng cổ xưa nào đó, cũng từng tìm cách cho anh ấy vào tròng. Con còn nhớ chăng? A, lâu quá rồi! Thật là một món bở. Thế mà ta, ngu ngốc như con lừa, lại phản đối cái âm mưu nhỏ, đáng yêu đó. Có lẽ mọi chuyện đã khác. Nhưng phàn nàn thì ích gì. Mọi chuyện giữa chúng ta đã chấm dứt rồi. Ta không có đường nào để đến chỗ anh ấy; nhưng linh hồn ta hướng về phía anh ấy và rầy khổ vì anh ấy, và trong khi ngồi lịch sự thoải mái ở đây, ta cảm thấy như thể mình đang phạm phải hành động của một tên vô lại.”

Letitia mở rất to mắt trong khi ông nói. Đây là lần đầu tiên từ những ngày ở Lâu Đài Wahnschaffe có người nói với nàng về Christian. Hình ảnh chàng xuất hiện, và nàng cảm thấy trong ngực mình đôi cánh kinh sợ đang khẽ khàng vỗ. Có vị ngọt trong cảm giác đó và vị cay ... Người ta phải có khả năng quên lãng như nàng, để có thể bắt lại trong khoảnh khắc, trong hồi chuông hòa âm sâu lắng của một giờ hồi tưởng, tình cảm ngày xưa mãnh liệt.

Nàng hỏi ông. Ban đầu ông trả lời miễn cưỡng, từng câu một; rồi, bị thái độ nóng nảy của nàng thúc giục, câu chuyện của ông tuôn trào. Vẻ kinh ngạc hoàn toàn của Letitia làm ông phổng mũi; ông vẽ bức tranh của mình bằng những màu sắc dữ dội. Gương mặt nàng phản chiếu những tình cảm thoảng qua trong linh hồn. Trong trí tưởng tượng nhanh nhạy và trái tim nồng nhiệt của nàng mọi thứ đều có vẻ cụ thể và sống động ngay tức thì. Letitia không cần những lời giải thích; tất cả đều ở bên trong nàng. Nàng đăm đăm nhìn vào khoảng tối tăm xa lạ đầy linh cảm và sự thấu hiểu đó. Thật ra, tất cả dường như đều quen thuộc với nàng, quen thuộc như bài thơ, như thể nàng đã sống với Christian trong suốt khoảng thời gian đó, và biết nhiều hơn những điều Crammon có thể nói, nhiều hơn vô cùng, vì nàng hiểu hết, tư tưởng và hình hài, định mệnh và nỗi đau của nó. Nàng đỏ mặt kêu lên: “Tôi phải đến gặp anh ấy.” Nhưng sau khi vẽ lên cuộc gặp gỡ đó, nàng trở nên hốt hoảng, và tưởng tượng ra vẻ say sưa mà mình sẽ dùng, và thái độ thiếu sôi nổi của Crammon làm nàng khó chịu, và những lời than vãn phàn nàn của ông dường như vô nghĩa với nàng.

“Tôi luôn luôn cảm thấy,” nàng nói, với đôi mắt sáng rực, “rằng có một sức mạnh tiềm ẩn trong anh ấy. Bất cứ khi nào tôi có những ý nghĩ vặt vãnh xấu xa và anh ấy nhìn tôi, là tôi lại thấy hổ thẹn. Ngay hồi ấy anh ấy cũng đọc được những ý nghĩ rồi, nhưng không biết điều đó.”

“Ta từng nghe con nói những điều thông minh hơn bây giờ đang nói,” Crammon nói, giễu cợt. Nhưng nhiệt tình trong nàng làm ông xúc động, và dâng trào trong ông lòng ghen tị với tất cả những người đàn ông chìa bàn tay họ ra sau nàng.

“Tôi sẽ đi gặp anh ấy,” nàng nói, mỉm cười, “và giúp cho trái tim mình được thanh thản trong sự hiện diện của anh ấy.”

“Hồi chơi bóng trong căn phòng tuyệt đẹp lúc chớp lóe đó con khôn ngoan hơn,” Crammon nói rì rầm, chìm vào kỉ niệm. “Con điên sao, con gái bé bỏng của ta, mà đi đóng vai trò Magdalene?”

“Tôi thích, chỉ một lần thôi, được sống một tháng trong nỗi cô đơn tận cùng,” Letitia nói, thiết tha.

“Rồi sau đó?”

“Sau đó có lẽ tôi sẽ hiểu được cuộc đời. A, mọi sự thật bí ẩn và u buồn.”

“Tuổi trẻ! Tuổi trẻ! Những lời nói của ngươi mới xúc động và ngớ ngẩn làm sao!” Crammon thở dài, với lấy thêm quả táo nữa.

Đến đây người thợ may mang áo dài mặc buổi tối mới đến cho Letitia. Nàng lui về phòng mình, và lại xuất hiện ngay sau đó, phấn khích nhờ tấm áo, và yêu cầu Crammon phải khâm phục, vì nàng cảm thấy mình đáng được khâm phục. Nhưng nước bóng của nỗi u sầu vẫn sáng lờ mờ quanh nàng, và ngay cả trong khi đang tưởng tượng thấy những ánh mắt khâm phục sẽ nhanh chóng dán vào mình – vì một mình Crammon là không đủ với nàng – nàng vẫn mơ về việc từ bỏ và lánh xa thế giới trần tục với cảm giác xa hoa.

Và trong khi đi gặp bác gái để được nghe những lời khâm phục ồn ào hơn của quý bà đó, nàng vẫn mơ về việc từ bỏ và lánh xa thế giới trần tục.

Người ta mang đến cho nàng một bó hoa hồng. Nhưng ngay cả khi đang thả hồn hoàn toàn theo cách đặc trưng của mình vào vẻ đẹp và hương thơm của nó, thì nàng vẫn trở nên xanh xao và nghĩ đến cuộc sống khó khăn và ảm đạm của Christian; và quyết tâm sẽ đến gặp chàng. Có điều đêm hôm đó sẽ có khiêu vũ ở nhà hoàng thân Radziwill.

Nàng gặp Wolfgang Wahnschaffe ở đó, nhưng tránh xa anh ta với tính rụt rè bản năng. Nàng thành công vang dội. Bản chất và số phận nàng lên đến đỉnh cao của cuộc sống và sử dụng một pháp thuật đảm bảo nhờ nó, với tính ranh mãnh thơ ngây, nàng vắt hết được mọi lợi thế khả dĩ.

Trên đường về nhà trong ô tô nàng hỏi Crammon: “Hãy cho tôi biết, Bernard, Judith cũng sống ở Berlin phải không? Ông có bao giờ nghe nói về cô ấy không? Cô ấy có hạnh phúc với người diễn viên đó không? Tại sao chúng ta không đến thăm cô ấy?”

“Sẽ không ai ngăn con đến thăm cô ấy,” Crammon trả lời. Tuyết đang rơi dày. “Cô ấy sống trên phố Matthaikirch. Ta không biết có hạnh phúc không; ta không quan tâm. Người ta sẽ có nhiều việc phải làm nếu cứ khăng khăng đòi tìm hiểu xem những người phụ nữ lôi bạn bè chúng ta đến ghế trường kỷ hôn nhân có phát hiện ra rằng trò chơi đó đáng giá cây nến hay không. Có điều chắc chắn – Lorm vô song và độc nhất vô nhị không còn như trước nữa. Ta từng gọi anh ấy là hoàng tử cuối cùng trong thế giới bị kết tội phải thô tục một cách tuyệt vọng. Còn gì nữa đâu. Anh ấy đang xuống dốc, và vì thế nên bị ta xa lánh. Trên đời không gì buồn hơn một người đàn ông giảm giá trị và một nghệ sĩ đánh mất chính mình. Và đó là lỗi của phụ nữ. A, phải, con có thể cười – nhưng đó là lỗi của phụ nữ đấy.”

“Ông mới tàn nhẫn và ác ý làm sao,” Letitia nói, rồi ngái ngủ tựa má mình lên vai ông.

Nàng quyết tâm sẽ đến thăm Judith. Nàng thấy nó như sự chuẩn bị cho cuộc đến thăm khác khó khăn hơn, mà nhờ nó nàng có thể trì hoãn được một thời gian, và vẫn chưa đủ can đảm để thực hiện. Nó lôi cuốn nàng khi nàng nghĩ đến như cuộc phiêu lưu; nhưng giọng nói bên trong nói với nàng rằng nàng không được để cho nó trở thành một cuộc phiêu lưu.

XVII

Lần nào gặp Johanna Schontag Christian cũng thấy cô dường như gầy gò và tiều tụy hơn. Cô mỉm cười trước ánh mắt soi mói của chàng, và nụ cười đó là để đánh lừa chàng. Cô nghĩ mình giấu giếm giỏi đằng sau tính dí dỏm và những cái khẽ nhăn mặt giống như hề.

Cô thường xuất hiện lúc gần tối để ngồi với Michael một hai giờ. Cô cảm thấy mình có bổn phận phải làm thế. Cô giả vờ vô cùng phù phiếm; nhưng khi phải đảm đương một nhiệm vụ thì lại mô phạm trung thành với việc thực hiện. Hôm cô thấy thằng bé đã bình phục đến mức không cần mình phục vụ nữa, cái vẻ cho biết cô cảm thấy mình vô dụng hiện lên trên mặt cô quá sinh động đến mức Michael phải đăm đăm nhìn cô và đã có ý kiến dứt khoát về tính cách của cô. Dù vẫn nhìn qua nỗi kinh sợ con người như trước, nhưng ánh biết ơn những hy sinh của cô đã long lanh trong đôi mắt nó. Cô bắt đầu khiến nó phải suy nghĩ; cô vừa xa lạ vừa thân quen. Nó vẫn chưa nói chuyện thẳng thắn được, nhưng khi cô đứng lên đi thì nó xin cô hãy ở lại thêm lát nữa. Rồi sự im lặng theo thói quen rơi xuống giữa họ, và Johanna, không thực sự đọc, để cho đôi mắt đau khổ lướt trên trang giấy của một cuốn tiểu thuyết Pháp hay Anh nào đó mà cô đã mang theo bên mình. Nhưng lần này nó hỏi cô một câu, rồi lát sau thì thêm một câu nữa, rồi thêm câu nữa; và bằng cách đó những cuộc chuyện trò xuất hiện trong đó họ tìm hiểu và khám phá ra nhau. Johanna lần lượt có vẻ kẻ cả hoặc chế giễu hoặc như người mẹ hoặc khó hiểu. Cô có rất nhiều vũ khí và mạng che. Những điều nó nói có vẻ giáo huấn hoặc bẽn lẽn, hoặc đột ngột và sôi nổi. Những điều cô nói thường hai lưỡi, nên làm cho nó lúng túng; thế là cô bật cười thình lình, còn nó thì tỉnh ngộ và bị tổn thương.

Nó bảo cô hãy cho mình biết cô đến từ đâu, cô là ai, cô đang làm gì, và cô kể cho nó nghe về tuổi thơ và ngôi nhà của cha mẹ mình. Với nó là thằng bé chỉ quen thuộc với cảnh nghèo khổ thì câu chuyện đó nghe như truyện thần tiên. Nó nói: “Chị thật xinh đẹp,” và cô thực sự có vẻ như thế với nó, và lòng kính trọng ngây thơ của nó khiến cô đỏ mặt và tặng cho cô chút can đảm trong lòng. Nhưng hai bàn tay cô, nó nói thêm, không phải là tay một tiểu thư giàu có. Cô có vẻ ngạc nhiên, và trả lời với vẻ tự ghét mình rằng hai bàn tay mình, giống như cái bướu của thằng gù hay cẳng chân khoèo của con quỷ đó, là biểu tượng của con người thực sự là cô.

Michael lắc đầu; nhưng bây giờ nó đã hiểu linh hồn tội nghiệp, lạnh lẽo của cô với niềm khát khao và nỗi thất vọng vô bờ bến của nó. Khi nó hỏi mục tiêu trong đời và công việc của cô là gì, thì cô nhìn nó với vẻ ngạc nhiên bối rối. Có mục tiêu hay công việc nào cho một sinh linh như cô chứ? Vào dịp khác, bị khát khao muốn tự hành hạ mình thúc đẩy, cô tiết lộ cho nó biết cuộc đời tuyệt đối trống rỗng của cô. Số mệnh đang chơi với cô một trò đùa dở tệ, một thứ thuốc mà người ta phải nuốt để khỏi bệnh; lại còn chữa ở chỗ không có sự sống nữa chứ.

Cô nói chuyện trong tình trạng căng thẳng này, nhưng bảo nó đừng cay đắng. Không đáng phải thế; thế giới quá tầm thường, xám xịt, và khốn khổ. “Giá đừng có nhiều người như vậy trên thế giới,” cô thở dài, nhăn trán theo cách khôi hài của mình. Nhưng cô cũng hổ thẹn trước thằng bé, và hiểu rằng những lời nói của mình thật báng bổ. Cô đau khổ vì cảm xúc của chính mình, và không hiểu rằng nó truyền hơi ấm sang người khác. Cô rụt rè thử đo khả năng lĩnh hội của thằng bé bằng trải nghiệm kinh khủng của nó, mà cô không biết chi tiết, hay bằng tính thành khẩn ảm đạm của tâm trí nó làm cho thằng bé này có vẻ già trước tuổi. Và cô thậm chí càng chìm sâu hơn vào lòng quý trọng của mình khi thấy nó trầm ngâm và xúc động.

Nhưng chính vết thương bí mật trong tính yếu đuối của cô, mà cô để lộ ra cho nó thấy, và xung đột xé lòng trong cô – làm nó thức tỉnh và lại thiết tha với cuộc sống. Nó nói: “Giá mà chị biết chị Ruth.” Một cái bóng lạ lùng nhưng cũng là một sự tương phản sống của Ruth đến với nó từ Johanna. Nó nói đi nói lại: “Giá mà chị biết chị Ruth.” Khi cô hỏi tại sao, nó chỉ trả lời bằng ánh mắt sáng chói đột ngột mà từ trước đến nay Ruth dường như chỉ ngủ ở trong đó. Nhưng giờ đây hình ảnh cô là ngọn lửa dẫn đường cho nó.

Johanna nói với Christian: “Em không tin người được anh giám hộ cần em nữa. Anh thì chắc chắn là không cần rồi. Thế nên em thành ra thừa thãi, và tốt hơn là nên tránh đường.”

“Anh rất muốn nói chuyện với em,” Christian nói. “Từ lâu anh đã muốn xin em hãy nói chuyện với anh. Ngày mai cũng giờ này em đến, hay anh đến chỗ em được không? Anh sẽ sung sướng làm mọi việc em thích.”

Cô tái mặt, và nói rằng mình sẽ đến.

 

Thêm vào giỏ hàng thành công