favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

QUYỂN THỨ HAI: RUTH (V)

CHUYỆN TRÒ TRONG ĐÊM

XIII

Những người sống trong tòa nhà đó đang chậm chạp trở về để nghỉ đêm. Xe đẩy nặng nề chạy ầm ầm ngoài phố. Những thằng bé thổi còi điếc tai. Cửa ngoài đóng lại đánh sầm. Những bức tường rung lên vì hàng trăm bước chân. Trong sân có người nào đó đang đóng đinh vào một cái hộp. Đâu đó một giọng chói tai đang hát. Những tiếng động ầm ĩ phát ra từ những quán rượu tại các góc phố. Có một tiếng cười độc ác vọng xuống từ bên trên.

Christian mở cửa sổ. Trời ấm áp. Những nhóm thợ hiện ra từ phố Malmoer rồi tản mác. Tại một góc phố có một hiệu bán rau quả. Đứng đằng trước nó là một bà già xách cái rổ không có nắp, bên trong có những thứ rau củ bẩn thỉu và một con gà tơ chết với cái cổ đẫm máu. Christian có thể trông thấy những thứ đó, bởi vì ánh sáng từ cây đèn đường đang chiếu xuống chúng.

“Bà ta sẽ nhận đứa trẻ để lấy bốn ngàn,” Karen nói.

Christian lén lút liếc nhìn cái nôi. Đứa trẻ sơ sinh vừa đẩy chàng ra xa vừa hút chàng lại gần. “Cô nuôi nó thì hơn,” chàng nói.

Nghe vang lên những giọng nói trống rỗng phát ra từ căn hộ kế bên. Hofmann đã về nhà. Ông ta đang nói chuyện, và một giọng trẻ con trong trẻo trả lời lại ông ta.

Tiếng đồng hồ tích tắc. Dần dà những tiếng động hỗn loạn trong tòa nhà đó hòa trộn vào nhau thành tiếng vo ve.

Karen ngồi xuống bên bàn và xâu chuỗi những hạt thủy tinh. Mái tóc cô ta dạo gần đây thậm chí còn vàng và rối bù hơn; nhưng nét mặt lại có vẻ kiên quyết hơn. Khuôn mặt cô ta, không còn sưng phù do uống rượu nữa, đã thanh tú và có những sắc thái tinh khiết hơn.

Cô ta nhìn Christian, và, trong một khoảnh khắc, đã có một cảm giác hầu như điên rồ; cô ta khát khao muốn biết một niềm khao khát nào đó. Nó giống như tia lửa rực rỡ cuối cùng trong lò than củi đã tắt ngấm.

Tia lửa đó đỏ thẫm lại rồi lụi tàn.

“Hãy kể cho tôi nghe về Hilde Karstens và cha nuôi của cô, Karen,” Christian nói một cách thuyết phục. “Cô đã hứa rồi mà.”

“Vì Chúa, xin hãy để cho tôi được yên! Lâu quá rồi tôi không còn nhớ nữa đâu!” Cô ta hầu như rên rỉ những lời trên. Cô ta đưa hai bàn tay lên ôm đầu và tựa hai khuỷu tay lên hai đầu gối. Tư thế ngồi của cô ta luôn luôn có vẻ khoe tính dâm đãng. Đàn bà ngồi như thế trong những quán rượu mạt hạng.

Nhiều phút trôi qua. Christian ngồi xuống bên bàn đối mặt với cô ta. “Tôi muốn tống khứ thằng oắt kia đi,” cô ta thách thức nói. “Tôi không thể chịu đựng nổi việc trông thấy nó. Đưa bốn ngàn đi – làm đi! Tôi không thể, tôi không thể chịu đựng nổi việc trông thấy nó!”

“Nhưng những kẻ xa lạ sẽ bỏ mặc cho nó ốm, hay có lẽ còn chết nữa,” Christian nói.

Một nụ cười toe toét, nửa thô tục nửa u ám, vụt ngang qua mặt cô ta. Rồi cô ta trở nên nhợt nhạt. Cô ta lại trông thấy cái hình ảnh trong gương đó của chính mình: nó đến từ xa, tận đầu bên kia đường hầm. Cô ta rùng mình, và Christian nghĩ rằng cô ta lạnh. Chàng đi lấy một chiếc khăn choàng rồi phủ lên đôi vai của cô ta. Trong những điệu bộ của chàng, lúc làm thế, có vẻ gì đó nghĩa hiệp một cách trang nhã. Karen xin một điếu thuốc. Cô ta hút thuốc như người đã quen với việc đó, và cái cách cô ta cầm điếu thuốc, để khói tuôn ra khỏi miệng, hay cuộn tròn bay ra từ giữa đôi môi chìa ra cũng có vẻ khiêu dâm một cách tinh vi.

Vài phút nữa lại trôi qua. Cô ta rõ ràng là đang vật lộn với sự thú tội. Những ngón tay căng thẳng bóp nát một hạt thủy tinh.

Rồi bất thình lình cô ta nói: “Có nhiều người không hề được sinh ra một chút nào. Có lẽ chúng tôi sẽ yêu họ. Có lẽ chỉ có những kẻ xấu xa mới được sinh ra thôi, bởi vì chúng tôi quá thấp kém để xứng đáng với những người tốt đẹp. Khi còn nhỏ tôi đã trông thấy một thằng bé mang bảy con mèo con trong bao tải đến hồ nước để nhận cho chúng chết đuối. Tôi ở ngay đó khi nó đổ chúng xuống nước. Chúng vật lộn hết sức, lại ngoi lên và cố gắng bơi vào bờ. Nhưng ngay khi một cái đầu bé nhỏ vừa mới ngoi lên, thì thằng bé lại đánh mạnh nó bằng một cây gậy. Sáu con đã chết đuối, và chỉ có con xấu xí nhất là xoay xở chui được vào một bụi cây rồi bỏ chạy. Những con đã chết đuối – chúng xinh đẹp và dễ thương.”

“Cô đang chảy máu đấy,” Christian nói. Hạt thủy tinh vỡ đã cắt đứt bàn tay của cô ta. Christian lau máu bằng chiếc khăn tay của chàng. Cô ta im lặng để cho chàng làm việc đó, trong khi nhìn chăm chú vào những cảnh mộng cũ hết đến gần lại lùi xa. Sự căng thẳng lên cao đến mức Christian hầu như không dám thở. Trên đôi môi chàng lảng vảng cái nụ cười lạ lùng, lập lờ đó nó vẫn luôn đánh lừa những con người liên quan đến lòng thương cảm của chàng.

Chàng dịu dàng nói: “Bây giờ thì cô đã có điều gì đó rõ ràng trong tâm trí rồi đó, Karen à.”

“Phải, đúng vậy,” cô ta nói, và trở nên tái nhợt kinh khủng. “Anh muốn biết chuyện gì đã xảy ra với Hilde Karstens và lão đóng tủ. Vào khoảng thời gian đó mẹ tôi đang sống cùng với lão ta. Hilde mười lăm tuổi còn tôi mười ba. Cô ấy và tôi là những người bạn tốt của nhau, lúc nào cũng quấn quít, thậm chí cả vào đêm thủy triều dâng lên những cồn cát đó. Đàn ông phát điên vì cô ấy. Chúa ơi, cô ấy thật xinh đẹp và ngọt ngào. Nhưng cô ấy cười nhạo bọn họ. Cô ấy nói: ‘Đến mười tám tuổi tôi sẽ cưới một người đàn ông - một người đàn ông thực thụ có thể làm được mọi chuyện; cho đến lúc đó, đừng làm phiền tôi.’ Tôi đã không đến buổi vũ hội ở ‘Cái Bình của Hosing’; tôi phải ở nhà để giúp mẹ ngâm cá. Mọi chuyện đã xảy ra chính vào lúc đó. Tôi không bao giờ có thể hiểu nổi Hilde Karstens đã leo lên những ngọn đồi hoang đó một mình như thế nào. Có lẽ cô ấy tự nguyện đi với gã hoa tiêu. Đó là một gã hoa tiêu; đó là tất cả những gì chúng tôi biết về hắn. Đêm đó là lần đầu tiên hắn đến ‘Cái Bình’ và, dĩ nhiên, sau đó không ai còn trông thấy hắn nữa. Hắn hẳn phải tấn công và làm hại cô ấy ở gần những ngọn đồi kia, bởi vì nếu không, thì cô ấy hẳn đã không đi ra biển. Tôi biết Hilde Karstens; cô ấy đã tuyệt vọng. Tối hôm đó những con sóng đã đưa thi thể của cô ấy vào bờ. Tôi đã ở đó. Tôi quỳ sụp xuống ôm ghì lấy mái tóc ướt át, đã chết của cô ấy. Họ lôi tôi khỏi cô ấy, nhưng tôi lại quỳ sụp xuống. Phải mất ba người đàn ông mới lôi được tôi về nhà. Mẹ nhốt tôi lại và bảo tôi phải sàng đậu lăng, nhưng tôi nhảy ra ngoài cửa sổ và chạy đến nhà Hilde. Họ nói người ta chôn cô ấy rồi. Tôi chạy đến nghĩa trang nhà thờ và tìm kiếm mộ của cô ấy. Người phu đào huyệt chỉ nó cho tôi, nó nằm ở một góc xa tít. Họ tìm tôi suốt đêm và tìm thấy ở bên cạnh nấm mồ đó và phải lôi tôi về nhà. Một nửa ngôi làng đã đến xem. Vì tôi trốn không sàng đậu lăng nên mẹ đánh tôi bằng cán mai đến mức da tróc khỏi thịt. Và trong khi tôi nằm đó không thể cựa quậy thì bà ta đến gặp ông thầy giáo và họ viết một bức thư gửi cho lão địa chủ hỏi lão có nhận tôi vào làm việc cho điền trang không. Ngôi nhà trống không, và lão đóng tủ vào bếp là nơi tôi đang nằm. Lão đã say túy lúy. Lão trông thấy tôi đang nằm dài ở đó bên cạnh lò sưởi, và nhìn chòng chọc và nhìn chòng chọc. Rồi lão bế tôi vào phòng ngủ.”

Cô ta dừng lời và nhìn quanh, như thể đang ở một nơi xa lạ và Christian là một kẻ xa lạ đáng sợ.

“Lão ta xé toạc quần áo của tôi, váy của tôi, áo lót của tôi, sơ mi của tôi, và mọi thứ, và hai bàn tay lão ta run rẩy. Trong đôi mắt lão là ánh sáng lấp lánh như cồn đang cháy. Và khi tôi đã nằm trần truồng trước mặt thì lão không ngừng vuốt ve bằng hai bàn tay run rẩy của mình. Tôi cảm thấy như thể mình hẳn sẽ phải nạo óc ra khỏi cái sọ của lão; nhưng tôi chẳng thể làm gì được. Tôi cảm thấy tê liệt còn đầu thì nặng như sắt. Đến già tôi cũng không thể nào quên được bộ mặt của lão ta ở trên tôi lúc đó. Một con người không thể nào quên được những chuyện như thế - không bao giờ trên cõi đời này. Và ngay khi tôi vừa có thể cựa quậy được, thì lão loạng choạng đi vào một góc rồi ngã nằm bẹp dí ở đó, trong phòng tối như hũ nút.” Cô ta thở dài thườn thượt. “Chuyện là như thế đó. Nó bắt đầu như thế đó.”

Nãy giờ Christian vẫn nhìn không rời mắt khỏi cô ta dù chỉ một lát.

“Sau đó,” cô ta nói tiếp, “người ta bắt đầu nói, ‘Cô em, đôi mắt cô táo tợn lắm đấy.’ Ồ, đúng là như thế. Tôi không thể nói cho mọi người biết tại sao lại như thế được. Lão mục sư ngu ngốc nói đến một nỗi hổ thẹn bí mật nào đó và hướng linh hồn tôi về phía Chúa. Lão làm tôi bật cười. Khi tôi đến phục vụ ở điền trang, thì bọn họ ghen tức vì thức ăn của tôi. Tôi phải hầu hạ lũ trẻ, đi lấy nước, đánh bóng những đôi giày ống, lau chùi những căn phòng, chạy việc vặt cho Bà Lớn. Có một gã giám thị theo dõi tôi – đó là một gã đàn ông có đôi mắt kèm nhèm và sứt môi. Một đêm khi tôi trở về căn phòng nhỏ của mình, thì gã đã ở sẵn trong đó và vồ lấy tôi. Tôi tóm lấy một cái hũ bằng đá và đập vỡ nó vào đầu gã. Gã rống lên như con bò, và mọi người vội vàng chạy vào – lũ đầy tớ, ông chủ và bà chủ. Tất cả bọn họ đều la hét và rít lên, và gã giám thị nói với họ một lời nói dối ghê tởm về tôi, và ông chủ nói: ‘Cút đi, đồ đĩ điếm!’ Được thôi, tại sao lại không nhỉ, tôi nghĩ. Và trong chính cái đêm đó tôi đã buộc những manh giẻ rách ít ỏi của mình lại, rồi đi. Nhưng đêm hôm sau tôi lại lẻn về, vì không thể tìm được ở đâu một nơi trú ẩn. Tôi bò quanh ngôi nhà đó, không phải vì mệt hay đói, mà để làm nhục họ vì điều họ đã gây ra cho tôi. Tôi muốn châm lửa đốt cho ngôi nhà đó cháy trụi để trả thù. Nhưng tôi không dám, tôi đi lang thang quanh quẩn ngoài đồng quê trong ba ngày, và đêm nào cũng quay trở về ngôi nhà đó. Tôi không thể ngủ và lúc nào cũng trông thấy ngọn lửa mà đáng lý ra tôi nên đốt lên, ngôi nhà và chuồng ngựa cháy bùng lên, gia súc cháy và cỏ khô bay, xà nhà bốc khói và những con chó cháy sém giật mạnh dây xích chúng. Và tôi hầu như có thể nghe thấy chúng rên rỉ - những con chó và lũ trẻ đã hành hạ tôi đến thế, và mụ chủ nhà đứng dưới cây thông nôen trong bộ váy lụa phát quà cho tất cả mọi người trừ tôi. Ồ, phải, tôi đã nhận được ba quả táo và một nắm hạch, và rồi bà ta bảo tôi đi giặt bít tất dài cho Anne Marie mau. Nhưng cuối cùng thì sức lực của tôi cũng cạn kiệt, do cứ đi lang thang quanh quẩn tìm kiếm cơ hội như thế. Ông cảnh sát nông thôn tìm thấy tôi và muốn hỏi han. Nhưng tôi ngất đi nên ông ta chẳng tìm hiểu được gì. Giá mà tôi đã đốt ngôi nhà đó, thì mọi chuyện hẳn khác, và tôi hẳn không phải đi với gã đại úy đó khi mẹ tôi lại tóm được tôi bằng những móng vuốt của bà ta. Tôi đồng ý đi với hắn để đổi lấy một chiếc váy nhung xanh và đôi giày da sơn rẻ tiền. Và phải đến sau này tôi mới được nghe nói đến cuộc mặc cả giữa mẹ tôi và hắn.”

Cô ta thô bạo đẩy mạnh cái ghế mình đang ngồi ra xa khỏi bàn bằng toàn bộ sức nặng của bản thân, rồi cúi gập người xuống tựa trán lên cạnh bàn. “Trời ơi,” cô ta nói, bị nỗi khiếp sợ số phận mình nhận chìm, “Trời ơi, nếu đốt ngôi nhà đó, thì tôi hẳn không phải để cho người ta lau giày lên người mình. Giá mà tôi đã làm việc đó! Như thế thì hẳn đã tốt!”

Christian im lặng nhìn xuống cô ta. Chàng đưa bàn tay lên che mắt, và gương mặt chàng cũng tái nhợt như bàn tay chàng vậy.

XIV

Trên chuyến tàu giữa Basel [Thành phố ở Thụy Sĩ – ND] và Geneva, Christian được biết từ những người đi chung chuyến tàu với mình rằng một nỗ lực nhằm ám sát Ivan Michailovitch Becker đã được thực hiện ở Lausanne [Một thành phố ở Thụy Sĩ – ND]. Một sinh viên tên là Sonya Granoffska đã bắn ông ta.

Christian không biết gì về những sự kiện giải thích hành động đó. Chàng không đọc báo cũng không quan tâm đến những sự kiện công cộng. Bây giờ chàng mới đặt vài câu hỏi, và được nghe kể việc cả thế giới đang nói đến.

Tờ Matin ở Paris đã cho in một loạt bài báo làm rúng động cả châu Âu, chúng cũng được in lại và bình luận rộng rãi. Chúng đã được một người tên là Jegor Ulitch nào đó ký tên, và bao gồm những lời tiết lộ liên quan đến cách mạng Nga, ủy ban nước ngoài, và những hoạt động của những tên khủng bố đó. Chúng mò tìm chứng cứ bằng một tấm lưới rộng đến mức gia cố nhiều cho vụ án mà nhà nước Nga tiến hành hòng kết tội người đại biểu của thợ thuyền là Trotzky [Nhà lý luận cách mạng Bolshevik và Marxist người Nga – ND], người lúc bấy giờ đang bị xét xử ở Petrograd, và vì thế mà góp phần vào việc kết tội chính mình.

Jegor Ulitch ở sau hậu cảnh. Những người có kiến thức đặc biệt khẳng định rằng không có người nào như thế cả, và rằng cái tên đó là mặt nạ được đeo bởi một tên phản bội cách mạng. Tờ Gaulois Báo Geneva xuất bản những bài tấn công cay độc nhằm vào nhà văn không được biết đến đó. Ulitch không do dự đáp lại. Để tự biện hộ, ông ta cho xuất bản những bức thư và tài liệu bí mật buộc tội mạnh mẽ một số lãnh đạo của đảng cách mạng.

Người ta đang cho rằng tác giả những bài báo trên tờ Matin là Becker với sự dứt khoát ngày càng tăng. Báo chí công khai nói lên mối hồ nghi này, và hằng ngày đều báo cáo những hoạt động được cho là của ông ta. Trong cuộc bãi công của thợ đóng tàu ở Marseilles [Thành phố cảng ở miền Đông Nam nước Pháp – ND], người ta nói rằng ông ta đã xuất hiện tại cuộc họp của những người bãi công trong bộ quần áo giáo trưởng Nga; một báo cáo quả quyết rằng ông ta đã gửi một bức thư khiêm tốn đến cho nữ hoàng Nga, một báo cáo khác thì quả quyết rằng ông ta đã trở thành một kẻ ngoài vòng pháp luật chạy trốn hết từ nơi này sang nơi khác, một báo cáo khác nữa thì quả quyết rằng ông ta đã thành công trong việc điều đình giữa cảnh sát Nga và những người đồng hương bị lưu đày của mình, và rằng từ đó những cường quốc phương Tây, uể oải một cách hèn hạ trước chế độ Độc Tài, đã phần nào nới lỏng sự cảnh giác tàn bạo của họ.

Tuy vậy khuôn mặt của Becker vẫn cứ là một bí ẩn và một nguồn gây lúng túng, và chỉ riêng việc biết về cuộc sống của ông ta thôi cũng đủ gây nên tình trạng bồn chồn to lớn rồi.

Và Christian đi tìm ông ta. Chàng đi tìm ông ta ở Geneva, Lausanne, Nice và Marseilles. Cuối cùng chàng đi theo lời gợi ý đưa mình đến Zurich [Thành phố lớn nhất ở Thụy Sĩ – ND]. Ở đó chàng tình cờ gặp ủy viên hội đồng Nga ở lãnh thổ Koch, người giới thiệu chàng với vài đồng bào của mình. Những người này cuối cùng cũng trao địa chỉ của Becker cho chàng.

XV

“Tôi chưa bao giờ để mất dấu anh,” Becker nói. “Alexander Wiguniewski đã viết thư về anh cho tôi, và cho tôi biết rằng anh đã thay đổi những điều kiện sống của mình. Nhưng những lời gợi ý của anh ta quá mơ hồ; thế nên tôi bèn ủy quyền cho bạn bè của mình ở Berlin đi thăm dò, và họ đã thông tin một cách chính xác hơn.”

Họ ngồi trong phòng uống rượu vang ở một khu vực tối tăm. Họ là những vị khách duy nhất. Trần nhà ám khói có gắn những gạc hươu lớn, trên đó người ta buộc những bóng đèn điện để trang trí.

Becker mặc áo litevka sẫm màu cài khuy đến tận cằm. Ông ta trông có vẻ nghèo khổ và ốm yếu; thái độ của ông ta có vẻ phù du phảng phất. Thỉnh thoảng vẻ tĩnh lặng buồn bã lại bao phủ lấy khuôn mặt của ông ta, giống như vẻ tĩnh lặng của những con sóng nơi một con tàu đã chìm xuống. Những lúc im lặng khuôn mặt ông ta dường như rộng lớn hơn, và cái nhìn chăm chú dường như dán vào nơi trống rỗng ở bên ngoài và ngọn lửa ở bên trong.

“Ông vẫn liên lạc với Wiguniewski và ... những người khác chứ?” Christian hỏi; và đôi mắt chàng dường như tinh vi phản đối chính thái độ buồn tẻ thiếu cá tính của mình.

Becker lắc đầu. “Tất cả bạn bè cũ của tôi đều quay lưng lại với tôi rồi,” ông ta đáp. “Tự đáy lòng tôi vẫn hòa hợp với họ một cách sâu sắc; nhưng không còn cùng chung quan điểm nữa.”

“Người ta phải tuyệt đối cùng chung quan điểm với bạn bè mình sao?” Christian hỏi.

“Đúng, miễn là những quan điểm đó nói lên mục tiêu chủ đạo trong đời mình. Câu trả lời cũng lệ thuộc vào mức độ mối cảm tình tồn tại giữa mọi người. Tôi đã cố gắng thuyết phục họ, nhưng không đủ sức. Họ đơn giản là không hiểu. Bây giờ tôi không còn cảm thấy niềm thôi thúc muốn làm lay động và đánh thức con người dậy nữa, trừ phi có ai đó ném sự ngu xuẩn dưới dạng một cuộc bút chiến của mình vào tôi, hay trừ phi tôi cảm thấy quá gần gũi với một người nào đó đến mức bất cứ mối bất hòa nào giữa chúng tôi cũng đều sẽ đánh cắp đi sự bình yên của tôi hay đè nặng lên trái tim tôi.”

Christian không để ý đến ý nghĩa của những lời nói trên nhiều bằng ngữ điệu mê hoặc, âm hưởng hiền dịu trong giọng nói, ánh mắt lơ đễnh nhưng thấu suốt, và khuôn mặt bệnh hoạn, tử vì đạo của Becker. Và chàng nghĩ: “Tất cả những gì họ nói về ông ta đều sai cả.” Trong lòng chàng tràn ngập một niềm tin mãnh liệt.

XVI

Một đêm, khi đi dạo bên nhau, Becker đã nói về Eva Sorel. “Cô ấy đã giành được một vị trí đặc biệt,” ông ta nói. “Tôi nghe người ta nói rằng cô ấy mới là người cai trị thực sự của nước Nga và đang có được ảnh hưởng quyết định lên nền ngoại giao châu Âu. Cô ấy đang sống trong xa hoa không gì sánh kịp. Đại công tước đã tặng cho cô ấy tòa cung điện nổi tiếng của hương hồn công tước Biron bất hạnh. Cô ấy tiếp đón những ông bộ trưởng nhà nước và những ông đại sứ nước ngoài như quốc chủ đội mũ miện. Paris và London phải tính đến cô ấy, mặc cả với cô ấy, hỏi ý kiến cô ấy. Người ta sẽ còn nghe nói nhiều về cô ấy. Tham vọng của cô ấy thật là phi thường.”

“Phải thấy trước rằng cô ấy sẽ tiến xa,” Christian nhẹ nhàng nói. Càng lúc chàng càng muốn nói với Becker về công việc của mình và giải thích vì chuyện gì mà chàng đã đến đây. Nhưng chàng không tìm được lời thích hợp.

Becker tiếp tục: “Linh hồn của cô ấy buộc phải để mất sự hài hòa nó trị vì thể xác của cô ấy một cách nghiêm khắc đến thế. Đó là một quá trình bồi thường tất yếu. Cô ấy khao khát quyền lực, sự thấu suốt, kiến thức về điều mờ ảo và phức tạp. Cô ấy chơi đùa với số phận của con người và các quốc gia. Có lần cô ấy đã nói với tôi, ‘Toàn bộ thế giới chỉ là một trái tim duy nhất.’ Ồ, người ta có thể phá hủy trái tim duy nhất đó, nó là tất cả nhân loại, trong ngực chính mình. Tham vọng chỉ là một dạng khác của tuyệt vọng; nó sẽ đưa cô ấy đến ranh giới xa nhất của cuộc sống. Ở đó cô ấy sẽ gặp tôi và nhiều người khác đến đó từ một hướng khác, và chúng tôi sẽ lại siết chặt tay nhau thêm một lần nữa.”

Họ đã đến mép hồ. Becker cài khuy áo choàng ngoài của ông ta lại và lật cổ áo lên. Giọng ông ta thấp xuống hầu như chỉ còn là một tiếng thì thầm. “Có lần ở Paris tôi đã trông thấy cô ấy đang đi ngang qua sàn một ngôi nhà cũ. Mỗi tay cô ấy cầm một giá nến, và trên mỗi giá nến có hai ngọn nến đang cháy. Một làn khói nâu nhạt bốc lên từ những ngọn lửa đó, một tấm khăn trùm màu trắng rủ xuống từ đôi vai cô ấy; một cảm giác nhẹ nhàng không ngờ đã xâm chiếm tôi. Có lần khi Eva vẫn còn diễn ở rạp Sapajou, tôi đã trông thấy cô ấy đang nằm trên sàn đằng sau sân khấu, đang nhìn với sự chăm chú mãnh liệt nhất một con nhện đang giăng tơ trong kẽ hở giữa hai tấm ván. Cô ấy giơ cánh tay lên ra lệnh cho tôi đứng yên, và cứ nằm như thế quan sát con nhện. Tôi đã trông thấy cô ấy đang học tập con nhện, và lúc đó tôi biết rằng cô ấy có khả năng chú tâm hoàn toàn như thế nào. Tôi chỉ vừa mới biết điều đó, nhưng cô ấy đã lôi tôi vào cái vòng tròn tồn tại bốc lửa của cô ấy. Cơn khát hình thể, sự sáng tạo, sự tiết lộ và cảnh tượng mới không thể giải của cô ấy đã dạy cho tôi biết người mà cô ấy gọi là thầy là ai. Phải, toàn bộ thế giới chỉ là một trái tim duy nhất, và tất cả chúng ta chỉ phụng sự một vị Chúa duy nhất thôi. Ông ấy và tôi cùng là ngày phán quyết cuối cùng của tôi.”

Christian không ngừng nghĩ: “Mình phải nói với ông ấy thế nào đây?” Nhưng lời thích hợp đã không đến.

“Hôm trước,” Becker nói, “tôi đứng trong một nhà thờ, lặng nhìn bức hình Đức Mẹ đang thực hiện phép màu, và nghĩ về niềm tin đơn giản của quần chúng. Có vài người đàn ông và đàn bà và người già đang quỳ ở đó làm dấu thánh và cúi rạp đầu xuống đất. Tôi chìm đắm vào những đường nét của bức hình, và dần dần sức mạnh bí mật của nó đã trở nên sáng tỏ với tôi. Nó không chỉ là một tấm gỗ được vẽ hình. Trong nhiều thế kỷ bức hình đó đã thấm đẫm những dòng suối của sự cầu nguyện và tôn thờ nồng nhiệt đến với nó từ trái tim của những con người kiệt quệ và mang nặng, và tràn đầy một sức mạnh nó dường như truyền đi tiếp từ nó đến những người sùng đạo rồi lại tự soi mình trong chính nó. Nó đã trở nên một cơ thể sống, một nơi gặp gỡ giữa con người và Chúa. Tràn đầy ý nghĩ này, tôi lại nhìn những người già và những người đàn bà và những đứa trẻ ở đó, và tôi đã nhìn thấy những nét mặt trên bức hình rung động vì thương xót, và tôi cũng quỳ xuống trong bụi và cầu nguyện.”

Christian không bình luận gì. Chàng không được ban cho cái khả năng chia sẻ những cảm xúc như thế. Nhưng những lời nói, vẻ mặt say sưa và ánh sáng rực rỡ chói lòa trong đôi mắt của Becker đã ném lên chàng một tấm bùa mê; và trong niềm hạnh phúc ngất ngây mà giờ đây chàng đang cảm thấy, dường như có thể nhận thấy mục đích của chàng rõ hơn.

Không ngừng đi đi lại lại trong căn phòng không mến khách của khách sạn đó, chàng ngạc nhiên trông thấy mình đang ở trong một cuộc nói chuyện tưởng tượng với Becker, nó rút ra từ chàng một sự hùng biện đã từ chối chàng trước sự hiện diện của người khác.

“Nghe tôi đây. Có lẽ ông có thể hiểu. Tôi có mười bốn triệu, nhưng đó không phải là tất cả. Nhiều tiền hơn nữa đang đổ xuống đầu tôi, hàng ngày hàng giờ, và tôi không thể làm gì để ngăn chặn dòng nước lũ đó. Đối với tôi, tiền không phải chỉ vô nghĩa, mà còn là một sự cản trở thực sự nữa. Tôi rẽ sang hướng nào thì nó cũng cản đường tôi cả. Vì nó mà mọi việc tôi làm đều hiện ra dưới làn ánh sáng sai lầm. Nó không giống như điều gì đó thuộc về tôi, mà giống như điều gì đó tôi mắc nợ; và tất cả những người tôi nói chuyện đều giải thích bằng cách nào đó rằng như thế nào và tại sao tôi lại mắc nợ anh ta hay người khác hay tất cả. Ông có hiểu điều đó không?”

Christian có cảm giác rằng chàng đang nói với Ivan Becker tưởng tượng của mình bằng giọng thân tình, tự nhiên và thuyết phục; và chàng thấy dường như Ivan Becker đã hiểu và tán thành. Chàng mở cửa sổ, và trông thấy một vài ngôi sao.

“Nếu phân phát tiền thì tôi sẽ gây ra một việc ác,” chàng tiếp tục, và lại đi đi lại lại mà không nói rõ ràng một âm thanh nào. “Điều đó đã được chứng minh. Lỗi có lẽ ở tôi; tôi không có cái nghệ thuật làm việc tốt hay hữu ích bằng tiền. Và thật là không dễ chịu khi người ta cứ nhắc nhở tôi ở bất cứ nơi nào tôi đến rằng: ‘Anh có hàng triệu ở phía sau; bất cứ khi nào thấy đủ rồi, anh đều có thể từ bỏ và về nhà.’ Đó là lý do vì sao mọi thứ cứ tuột khỏi tay tôi và không có chỗ đứng an toàn nào dưới hai bàn chân tôi; đó là lý do vì sao tôi không thể sống như hẳn sẽ sống, và không thể tìm thấy niềm vui nào trong bản thân mình. Thế nên, hãy giải thoát tôi khỏi tiền của tôi, Ivan Michailovitch. Tùy ông muốn làm gì với nó thì làm. Nếu cần chúng ta có thể đến gặp một công chứng viên để soạn giấy chuyển nhượng. Cứ phân phát tiền, nếu ông muốn, nuôi người đói, và an ủi người đau khổ. Tôi không thể làm được việc đó; nó đẩy tôi đi. Tôi muốn quẳng gánh nặng của tôi đi. Hãy in những cuốn sách hoặc xây những nơi nương náu hoặc chôn nó hoặc vất nó đi; chỉ xin hãy nhấc gánh nặng đó ra khỏi tôi. Tôi chỉ có thể dùng nó để tọng đầy những cái dạ dày sau đó sẽ nhe răng ra với tôi thôi.”

Và khi thầm nói những lời đó, một vẻ thanh thản đã bao phủ gương mặt chàng. Vầng trán mịn màng của chàng, đôi mắt xanh đậm của chàng, đôi má rộng có phần xanh xao của chàng, đôi môi đỏ khỏe mạnh của chàng, và làn da cạo nhẵn ở xung quanh chúng, tất cả đều tắm mình trong vẻ thanh thản mới mẻ đó.

Chàng thấy dường như hôm sau, khi gặp Becker, có lẽ mình có thể nói được với ông ta đúng như đã nói vào đêm nay, hay ít nhất là gần được như thế.

XVII

Có một người đi qua hành lang hẹp vào căn phòng trang bị đồ đạc nghèo nàn. Có vài người đàn ông trẻ trong sảnh. Một trong số họ trao đổi ít lời với Becker, rồi bỏ đi.

“Đó là đội vệ sĩ của tôi,” Becker giải thích, với nụ cười khẽ. “Nhưng cũng như tất cả những người khác, họ không tin tôi. Người ta đã ra lệnh cho họ không được rời mắt khỏi tôi. Anh không nhận thấy chúng ta ngay lập tức đã bị theo dõi từ những cánh cửa hay sao?”

Christian lắc đầu.

“Khi người phụ nữ bất hạnh đó chĩa súng vào tôi ở Lausanne,” Becker nói tiếp, run rẩy, “thì đôi môi cô ta đã ném vào tôi mấy từ ‘quân phản bội.’ Tôi đã nhìn vào họng súng màu đen và chờ đợi cái chết. Cô ta bắn trượt, nhưng từ đó tôi bắt đầu sợ chết. Buổi tối hôm đó nhiều bạn bè đã đến gặp tôi, và van xin tôi hãy tự làm rõ và bào chữa cho mình. Tôi đáp lại họ và nói: ‘Nếu như tôi là tên phản bội trong mắt các bạn, thì tôi sẽ không né tránh bất cứ nỗi hãi hùng nào, bất cứ sự khủng khiếp nào của cái vị trí đó.’ Họ đã không hiểu tôi. Nhưng một lời kêu gọi hãy tự phá hủy, tự tiêu diệt và phá hủy bản thân mình đã đến với tôi. Tôi sẽ phải xây dựng cái giàn thiêu mà trên đó tôi sẽ bị thiêu cháy. Tôi sẽ phải trải đau khổ của tôi ra cho đến khi nó tiêm nhiễm vào tất cả những người nào đến gần tôi. Tôi sẽ phải quên những việc mình đã làm và phải từ bỏ hy vọng, phải thấp kém và đáng tởm và là một kẻ bị ruồng bỏ, phải từ chối nguyên tắc và phá vỡ gông cùm và cúi mình trước cái ác, phải chịu đựng đau đớn và gây ra đau đớn, phải xé rách và cày xới trái đất, ngay dù những vụ mùa tốt đã bị phá hủy. Kẻ phản bội - những chữ đó mới ít ý nghĩa làm sao! Tôi đi lang thang quanh quẩn và thèm muốn chính mình. Tôi chạy trốn chính mình, tuy vậy lại kêu gọi chính mình, và tôi là kẻ dâng vật hy sinh và là vật hy sinh. Và điều đó đã khiến cho nỗi đau đớn trên thế giới tăng lên không gì sánh kịp. Linh hồn con người đi xuống nguồn gốc của mọi sự để trở thành anh em với kẻ bị đọa đày.”

Ông ta chắp hai bàn tay lại và trông giống như một người điên. “Thân xác tôi tìm kiếm cõi tục, cặn bã, ô uế, và bóng đêm,” ông ta nói. “Thâm tâm tôi há hoác như một vết thương; tôi cảm thấy roi da và sức nặng của bạc phận và nỗi hãi hùng của thời gian; tôi cầu nguyện cho những lời cầu nguyện; tôi là hình bóng mờ ảo trong cuộc diễu hành ma quái của những thứ được tạo ra trong khó nhọc; nỗi đau buồn tràn đầy trong không khí của thế giới nghiền nát tôi thành tro bụi; mea culpa, mea maxima culpa [Lỗi của tôi, qua lỗi đau buồn nhất của tôi - tiếng Latinh – ND]!

Cảm giác ngượng ngùng đau đớn lớn lên trong Christian. Chàng chỉ nhìn Becker mà thôi.

Bất thình lình, một tiếng gõ cửa lặp đi lặp lại vang lên ở cánh cửa ngoài. Becker giật mình lắng tai nghe. Tiếng gõ cửa to hơn và nhanh hơn.

“Rốt cuộc nó đã đến,” Becker thì thầm trong khiếp đảm. “Tôi phải đi. Thứ lỗi cho tôi, tôi phải đi. Một chiếc ô tô đang chờ tôi. Tôi xin anh, hãy ở lại thêm ít phút nữa.” Ông ta cầm cái va li đang nằm trên giường lên, nhìn quanh một cách lơ đãng, đặt bàn tay giập nát lên áo choàng ngoài, và vội vàng thì thầm, “Cho tôi vay năm trăm franc. Hồi trưa tôi đã tiêu số tiền cuối cùng của mình rồi. Đừng giận tôi; tôi đang rất vội.”

Christian máy móc lôi ví tiền ra đưa cho Becker năm tờ giấy bạc. Ông ta lắp bắp cảm ơn và chào, rồi đi.

Mười lăm phút sau Christian rời khỏi ngôi nhà đó trong tình trạng mất phương hướng. Chàng đi lang thang nhiều giờ trong những thung lũng và trên những ngọn đồi quanh thành phố. Chàng đã đón chuyến tàu đêm để quay về Berlin.

Trong chuyến đi kéo dài nhiều giờ đó chàng đã cảm thấy vô cùng khốn khổ trong thể xác và linh hồn.

 

Thêm vào giỏ hàng thành công