QUYỂN THỨ NHẤT: EVA (XXVIII)
ĐÔI BÀN CHÂN TRẦN
I
Cùng với tiểu thư Stohr, nữ bá tước Brainitz đi du lịch vòng quanh thế giới.
Bà là khách của công chúa Neukirch già không thể tin nổi ở Berchtesgaden. Nhưng bà buồn chán kinh khủng, nên trốn sang Venice, Ravenna, và Florence. Được trang bị một cuốn sổ tay hướng dẫn du lịch, và được một người dẫn đường hộ tống, bà “đã làm” những phòng triển lãm nghệ thuật, những nhà thờ, những vương cung thánh đường, những cung điện, những lăng tẩm, và những đài tưởng niệm, và sự không biết mệt mỏi của bà bắt tiểu thư Stohr phải tuyệt vọng.
Bà cãi nhau với những người chèo gondola về tiền đò, với những người hầu bàn về tiền boa, với những chủ hiệu về giá bán các mặt hàng. Bà nghĩ tất cả mọi đồng tiền đều giả mạo, và trong nỗi kinh sợ bụi bặm và vi trùng của mình bà không chạm vào bất cứ quả đấm cửa hay cái ghế, tờ báo hay bàn tay của bất cứ người nào. Bà tắm rửa liên tục, kêu thét không ngừng nghỉ, và ăn ngon miệng đến mức khiến cho những người ngồi cùng bàn ăn với mình tại khách sạn phải kính sợ.
Bà rời khỏi mảnh đất của phép màu và gian lận lặt vặt với trái tim đầy thù oán. Bà đến thăm mấy người cháu trai, anh em Stojenthin, ở Berlin. Họ rất vui sướng trước việc bà đến, và mượn bà một ngàn mark về tiền hàu và champagne. Rồi bà đi tiếp đến Stargard, để được ở bên cạnh chị em mình là Hilde Stojenthin và Else von Febronius.
Bà rất vui với những quý bà trung lưu ở Stargard, những người khẽ nhún đầu gối chào bà như chào một nữ hoàng. Bà lên mặt với họ từ trên một cái sofa cao bọc vải trúc bâu lốm đốm tại những bữa trà của họ. Bà chiêu đãi cử tọa tận tình chăm chú của mình những câu chuyện về giới thượng lưu. Thỉnh thoảng tính chất những giai thoại này khiến cho bà quả phụ ông quan tòa phải thi hành một cái véo cảnh báo vào cánh tay bà chị em quý tộc của mình.
Bà von Febronius ốm từ đầu mùa Đông. Việc mặc phong phanh bất cẩn trong một chuyến đi chơi bằng xe trượt tuyết đã mang lại một cơn viêm phổi. Hậu quả đe dọa sẽ nghiêm trọng. Bà bá tước, không chỉ sợ mình ốm mà còn ghét người khác ốm, trở nên bồn chồn và nói đến chuyện ra đi.
“Khi chồng ta thấy kết cục của mình đang tiến lại gần, ông ấy đã gửi ta đến Mentone,” bà nói với tiểu thư Stohr. “Ông ấy ngu ngốc và thiếu thấu hiểu – đàn ông nào chả thế - nhưng về mặt này đã tỏ ra có cảm giác tinh tế một cách đáng khen ngợi. Ta sinh ra tuyệt đối không phải để chịu đựng cảnh đau đớn. Từ thiện không có mặt trong số những tài năng của ta.”
Tiểu thư Stohr khoác lên mặt vẻ mục sư rồi ngước mắt nhìn trời. Cô ta biết bà chủ mình đủ để nhận ra cái giai thoại về ông bá tước sắp chết và cuộc viễn chinh đi Mentone này là sản phẩm của trí tưởng tượng. Cô ta nói: “Người ta nên tự chuẩn bị cho mình kết cục cuối cùng kịp thời, thưa bà.”
Bà bá tước phẫn bộ. “Stohr thân mến của ta, xin miễn cho ta sự khôn ngoan tinh thần của cô! Nó chỉ phù hợp với những lúc rắc rối mà thôi. Những lời an ủi của mục sư không hợp khẩu vị ta đâu. Nhiệm vụ thực sự của cô không phải là thuyết giáo chân lý với ta, mà là gợi cho ta những ảo tưởng dễ chịu kia.”
Một tối bà von Febronius muốn gặp bà bá tước. Bà này đi. Nhưng nỗi khiếp sợ làm bà tái mặt. Bà đội mũ, quấn mặt trong một tấm mạng che và hai bàn tay đeo găng. Vừa thở dài bà vừa ngồi xuống bên cạnh giường bà em gái, cẩn thận giữ khoảng cách, để ở ngoài hơi thở của bệnh nhân.
Bà von Febronius bao dung mỉm cười. Trận ốm đã xoa phẳng những nếp nhăn vì bận tâm vặt vãnh và đau buồn trên khuôn mặt bà, và, giữa những cái gối trắng, trông bà giống cô con gái Letitia của mình một cách đáng kinh ngạc. “Em xin lỗi vì đã làm phiền chị, Marion ạ,” bà bắt đầu, “nhưng em phải nói chuyện với chị. Có chuyện đang đè nặng lên tâm trí em, nên em phải giãi bày với ai đó. Vấn đề này nên được nói với người biết em, và không nên bị chôn cùng với em.”
“Chị xin em, Elsie, em gái tội nghiệp của chị, đừng nói về những nấm mồ hay những chuyện như thế,” bà bá tước kêu lên bằng giọng rên rỉ. “Chị sẽ ăn không ngon miệng cả một tuần đấy. Nếu như em ném những chai thuốc ra ngoài cửa sổ, và bảo tất cả những tên lang băm rằng hãy xéo đi với quỷ, thì ngày mốt em sẽ khỏe thôi. Và, vì Chúa, đừng xưng tội. Việc đó khiến người ta nghĩ đến những việc vô cùng đáng sợ.”
Nhưng bà von Febronius nói tiếp: “Chẳng ích gì đâu, chị Marion ạ. Em phải nói với chị việc này. Lý do em tìm đến chị là vì chị đã thực sự rất tốt bụng và tử tế với Letitia, và vì Hilde, biết điều và trung thành, sẽ không thực sự hiểu. Chị ấy suy nghĩ quá cổ hủ.”
Bây giờ bà mới thì thầm kể lại chuyện Letitia đã được sinh ra như thế nào. Một trận ốm trong thời trai trẻ đã cướp đi khả năng sinh sản của chồng bà; nhưng ông ta khao khát muốn có một đứa con trai, một đứa con. Nỗi khát khao này đã làm im lặng tất cả những lưỡng lự và tình cảm mâu thuẫn một cách quá dứt khoát đến mức ông ta chọn một người lạ thoải mái để tiếp nối nòi giống của mình. Ông ta đã thuyết phục được bà, vợ ông ta, người ông ta yêu hơn hết thảy, sau một cuộc chiến đấu dài lâu. Cuối cùng bà phải nhượng bộ lời yêu cầu chưa từng có của ông ta. Nhưng khi đứa trẻ được sinh ra, thì một nỗi u sầu ngày càng tăng xâm chiếm chồng bà. Nó trở nên không thể chữa khỏi, và dưới sự điều khiển của nó ông ta đã hủy hoại điền trang của mình và cuối cùng là chính mình. Ông ta chẳng cảm thấy chút nào cái niềm hạnh phúc mà mình đã chờ mong. Ngược lại, ông ta luôn luôn tỏ ra với Letitia một thái độ ghét bỏ khinh miệt, cố gắng tránh xa nàng hết sức.
“Điều đó không làm chị ngạc nhiên chút nào,” bà bá tước nhận xét. “Em kinh ngạc thì đúng là thơ ngây khác thường đấy. Một đứa trẻ xa lạ thì vẫn cứ là một đứa trẻ xa lạ mà thôi, dù cho nó đã rơi vào trong tổ như thế nào. Nhưng chuyện này quả thực giống truyện cổ tích. Thú thực chị đã đánh giá thấp em. Một câu chuyện mới phức tạp một cách thú vị làm sao! Nhưng cha đứa trẻ là ai mới được chứ? Ai là người chịu trách nhiệm cho cuộc sống của thiên thần thân yêu đó? Ông ta xứng đáng một sự khen ngợi to lớn vì thành tựu của mình.”
Bà von Febronius nêu tên người đó. Bà bá tước hét lên, nhảy bật dậy như bị kim châm. “Crammon ư? Bernard von Crammon ư?” Bà đau đớn siết chặt hai bàn tay. “Thật sao? Cô không nằm mơ đấy chứ? Suy nghĩ cẩn thận nào, em yêu của chị! Đây hẳn phải là một cơn sốt nóng. Ồ, chắc chắn rồi, chỉ là mê sảng thôi. Uống một chút nước đi nào, chị xin em, rồi hãy suy nghĩ cho cẩn thận, và đừng có nói vớ vẩn nữa.”
Bà von Febronius kinh ngạc tột độ chòng chọc nhìn chị mình. “Chị biết ông ấy sao?” bà hỏi.
Giọng bà bá tước cay đắng. “Tôi có biết hắn không ư? Có đấy. Và hãy cho tôi biết thêm một điều nữa: Cái – cái – sinh vật này có biết không? Hắn có vẫn luôn luôn biết hay không?”
“Ông ấy biết. Hai năm trước ông ấy đã gặp Letitia trong ngôi nhà cũ của bọn em. Từ bấy đến nay ông ấy vẫn biết. Nhưng chị hành động cứ như thể ông ấy là hiện thân của ma quỷ vậy, Marion ạ. Chị đã cãi nhau với ông ấy hay gì? Chị lúc nào cũng cứ thổi phồng lên như thế!”
Bà bá tước bị kích động đi đi lại lại. “Hắn biết, đồ xấu xa! Hắn vẫn luôn biết, đồ đểu! Thế mà hắn giả vờ! Đồ đạo đức giả! Đồ đểu xấu xa, ta sẽ cho hắn biết tay! Ta sẽ lôi cổ hắn ra!” Bà quay sang phía bà em gái mình. “Thứ lỗi cho chị, Elsie, chị không kiềm chế được cơn giận của mình. Em đúng. Tên hắn đánh thức nỗi tức giận vì cuộc kháng cự từ vài năm trước. Thú thực máu tôi đang sôi lên đây. Khi còn trẻ có lẽ hắn là một người đàn ông có danh dự và là một quý ông. Hắn hẳn phải thế, bằng không cô đã không đồng ý một cuộc phiêu lưu như vậy. Nhưng tôi do dự không muốn nói ngày nay hắn là con người như thế nào. Hắn vẫn tuyệt đối kín đáo; cô không cần phải lo lắng về mặt đó. Nhưng tôi khẳng định rằng ngay cả tự do cũng có những giới hạn của nó. Khi những giới hạn này bị vượt qua, người đứng đắn sẽ lắc đầu, và đức hạnh trông cũng chỉ giống như đê tiện mà thôi. Voilà [Thế đấy - tiếng Pháp – ND].”
“Tất cả những điều chị nói đều tối tăm đối với em,” bà von Febronius kiệt sức đáp, “và em thực sự không hề muốn hiểu chúng chút nào. Em muốn nói cho chị biết cái bí mật nặng nề này. Hãy giữ nó cho riêng mình. Đừng bao giờ tiết lộ ra, trừ phi để ngăn chặn một tai họa nào đó, hay để phục vụ Letitia. Em không thực sự hiểu làm sao một sự tiết lộ có bao giờ sẽ phục vụ cho mục đích. Nhưng em thấy được an ủi khi có một người khác, ngoài chính em và người đàn ông đó, biết sự thật.”
Bà bá tước trầm ngâm chăm chú nhìn bà em gái mình. “Đời em không thực sự vui vẻ phải không, Elsie?”
Người phụ nữ đau ốm trả lời: “Vâng, chẳng vui vẻ gì.”
Trong mấy ngày sau đó bà phục hồi được một chút. Rồi đến một cơn tái phát nó không để lại cho người ta chút hy vọng nào. Đến giữa tháng Ba thì bà chết.
Lúc đó bà bá tước đã ở xa. Sự đi và đến của bà vẫn vô mục đích như trước. Nhưng giờ đây bà nung nấu một cảnh tượng ưa thích. Một ngày nào đó bà sẽ gặp Crammon, đương đầu với ông bằng kiến thức của mình, trả thù ông, thách thức ông và tiêu diệt ông, nói tóm lại là tận hưởng chiến thắng huy hoàng. Thỉnh thoảng khi chỉ có một mình, hay thậm chí trước mặt Cô Stohr, người kinh ngạc trước việc này, bà vẫn bất ngờ nhăn vầng trán trẻ thơ của mình, nắm chặt hai nắm tay bé nhỏ lại, bộ mặt đỏ ửng như con tôm hùm, và đôi mắt màu xanh tím rực lửa như sắp đánh nhau đến nơi.
II
Felix Imhof rời bữa tiệc ở nhà Leopoldstrasse, nơi đã diễn ra một cuộc đánh bạc ăn tiền lớn, vào lúc ba giờ sáng. Anh ta đã thắng được vài ngàn mark, và những đồng tiền vàng xủng xẻng trong túi tấm áo choàng ngoài mà anh ta đã bất cẩn nhét chúng vào.
Anh ta cũng đã uống nhiều rượu. Đầu anh ta hơi nặng một chút. Những bước đầu tiên sau khi ra ngoài trời thoáng đãng anh ta đã hơi lảo đảo một chút.
Tuy vậy anh ta vẫn chưa muốn về nhà. Thế nên anh ta đi lang thang đến một tiệm cà phê nơi giới văn nghệ sĩ vẫn thường hay lui tới. Anh ta nghĩ vẫn có thể tìm được vài người mà mình có thể tán gẫu và tranh luận. Đối với anh ta ngày hôm đó đã trôi qua mà vẫn chưa đủ tràn đầy cuộc sống. Anh ta muốn nó đầy đến miệng kia.
Trong phòng, xanh vì khói, chỉ có hai người, họa sĩ Weikhardt, người gần đây mới trở về từ Paris, và một họa sĩ khác, người trông có phần hơi rách rưới và đang nhìn chòng chọc xuống bàn với vẻ chán nản.
Felix Imhof nhập bọn với hai người này. Anh ta gọi cognac, rót rượu hầu họ, nhưng, trước sự khó chịu của anh ta, cuộc nói chuyện đã không được bắt đầu. Anh ta đứng lên mời Weikhardt đi dạo với mình. Anh ta quay sang phía ông kia với thái độ vui vẻ khinh bỉ: “Ồ, đồ ném sơn già. Cây đèn của ông hình như sắp tắt rồi đấy!”
Người đàn ông này không nhúc nhích. Weikhardt nhún vai, nhẹ nhàng nói: “Ông ta không có bánh mì để ăn và chẳng có nơi nào để ngủ.”
Felix Imhof thọc tay vào túi, ném mấy đồng tiền vàng lên bàn. Ông họa sĩ nhìn lên. Rồi ông ta gom đống vàng. “Một trăm sáu mươi mark,” ông ta bình tĩnh nói. “Sẽ trả anh vào mùng một.”
Imhof bật cười vang.
Khi họ đã ra đến ngoài phố, Weikhardt tử tế nói: “Ông ta tin từng lời trong đó. Nếu không tuyệt đối tin, thì ông ta đã không nhận tiền. Từ đây đến mùng một vẫn còn mười một ngày nữa - thời gian dành cho thế giới của những ảo tưởng.”
“Có thể lão ta tin,” Imhof đáp, với một tiếng cười phóng đãng, “có thể. Lão ta thậm chí tin mình đang tồn tại, tuy chẳng còn gì ngoài một cái xác u sầu. Ôi lũ họa sĩ các ông, lũ họa sĩ các ông!” anh ta gào lên đêm tĩnh lặng. “Các ông không có cảm giác cuộc sống. Hãy vẽ cuộc sống! Các ông vẫn đang ngồi cạnh một cái bánh xe quay tơ, thay vì tại một cái bánh xe bằng thép mạnh mẽ nào đó, được một sức mạnh mười sáu ngàn mã lực đẩy đi. Hãy vẽ thời đại của tôi giúp tôi, niềm vui sướng to lớn được tồn tại của tôi! Hãy ngửi, nếm, nhìn, và túm lấy bức tượng khổng lồ đó! Hãy làm cho tôi cảm thấy nhịp điệu lớn lao này, tạo ra những giấc mơ hùng vĩ của tôi. Hãy trao cuộc sống cho tôi - cuộc sống của tôi với lời khẳng định vĩ đại của nó!”
Weikhardt lạnh nhạt nói: “Trước đây tôi đã nghe điều đó - giữa lúc nửa đêm và bình minh. Khi gà trống gáy tất cả chúng ta sẽ bình tĩnh trở lại, và mỗi người sẽ kéo chiếc xe bò mà số phận đã buộc vào anh ta.”
Imhof dừng bước, đặt bàn tay lên vai Weikhardt có phần hơi kịch một chút. Anh ta chòng chọc nhìn ông ta bằng đôi mắt đen đỏ ngầu dữ dội. “Tôi sẽ giao cho ông một phận sự kèm theo đây, Weikhardt ạ,” anh ta nói. “Ông có tài năng. Ông là người duy nhất có tâm trí trên pa lét của mình. Hãy vẽ chân dung tôi. Tôi không quan tâm nó tốn bao nhiêu tiền – hai mươi, năm mươi ngàn. Không quan trọng. Ông vẽ bao lâu tùy thích – hai tháng, hoặc hai năm. Nhưng hãy thể hiện tôi – tôi – tôi tự đáy lòng. Hãy ghi nhớ cái mũi chim kền kền này, cái môi Hapsburg [Thành viên thuộc dòng dõi hoàng tộc Đức, từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XX, đã thống trị đế chế La Mã thần thánh, Tây Ban Nha và Áo-Hung – ND] này, hai cánh tay khỉ đột và hai cẳng chân trục quay, chiếc bành tô này và cái mũ này, và rút ra từ tất cả những thứ đó Ý Tưởng có sinh khí. Kệ mẹ những khuyết điểm trên bản mặt tôi đi, nó trông như thể đã bị một gã thợ gốm vụng về nào đó nặn ẩu ra vậy. Hãy diễn tả tham vọng của tôi, tính hiếu động của tôi, nhịp điệu và tính chất đầy màu sắc bên trong tôi, cơn đói vĩ đại của tôi và tinh thần thời đại ở bên trong tôi. Nhưng ông phải nhanh lên đấy; bởi vì tôi đang tự đốt cháy mình. Chỉ ít năm nữa thôi là tôi sẽ lụi tàn. Linh hồn tôi là cái bùi nhùi. Hãy diễn tả quá trình này bằng tính khách quan thần thánh của nghệ thuật, và tôi sẽ ban thưởng cho ông như một Medici. Nhưng tôi phải thấy được ngọn lửa, ánh sáng chói lọi, cảnh sụp đổ hấp hối, cái run rẩy của nó! Tôi muốn thấy nó, thậm chí nếu như ông có phải ném toàn bộ truyền thống từ thời Raphael và Rubens vào đống giẻ rách để cho tôi có thể thấy được nó cũng mặc!”
“Anh là một con người táo bạo,” Weikhardt nói bằng cách lạnh nhạt của ông ta. “Nhưng hãy kiên nhẫn với chúng tôi, và kiềm chế mối khâm phục thế kỷ đặc biệt này của anh. Tôi không để cho thời đại biến mình thành điên rồ đâu. Tôi không chia sẻ niềm tôn sùng kính trọng tốc độ và máy móc nó đã chế ngự nhiều người trẻ tuổi như một dạng động kinh mới đâu. Tôi không chút mê thích những đôi giày ống bảy lý, những chuyến tàu tốc hành, những chiến hạm, và chủ nghĩa ấn tượng khoa trương. Tôi tìm kiếm những vị thần của mình ở nơi khác. Tôi không tin mình là họa sĩ anh đang tìm kiếm đâu. Lâu nay anh ở đâu vậy? Lại đi du lịch à?”
“Tôi lúc nào cũng đang trên đường đi đâu đấy,” Felix Imhof đáp. “Đó là một cuộc sống điên rồ. Để tôi kể ông nghe tôi đã sống năm ngày gần đây như thế nào. Đêm thứ Hai tôi đi Leipzig. Sáng thứ Ba lúc chín giờ tôi thảo luận với các nhà văn về vấn đề sáng tạo ra kiểu phê bình mới. Những gã tuyệt diệu - những nhà phê bình sắc sảo và những gã Jacobin đầy trí tuệ, tất cả bọn họ. Rồi tôi đến một cuộc triển lãm đồ gốm. Mua vài món xinh đẹp. Đến trưa tôi đi Hamburg. Trên tàu tôi đọc hai bản thảo và một vở kịch, tất cả đều của một thiên tài trẻ tuổi người sẽ làm cho cả thế giới phải kinh ngạc. Tối hôm đó tham dự cuộc họp ban giám đốc công ty Phát Triển Đông Phi. Tiệc tùng đến tận khuya. Ngủ hai tiếng, rồi đi tiếp đến Oldenburg gặp gỡ các sĩ quan về hưu trong trung đoàn cũ của tôi. Nói chuyện, uống rượu, thậm chí nhảy, dù bữa tiệc toàn đàn ông. Sáu giờ sáng lao đến Quackenbruck, một thị trấn đồng quê nhỏ tồi tàn nằm trên các truông, nơi những sĩ quan tổ chức một cuộc đua ngựa nhỏ. Con ngựa của tôi về nhì. Ra ga lên tàu đi Berlin. Sáng hôm sau họp ở bộ Ngoại Giao, phỏng vấn các đại lý, chứng kiến sự hoạt động kỳ lạ trong bệnh viện, chớp nhoáng ghé Johannisthal, nơi chiếc máy bay mới đang được thử nghiệm; tối hôm đó đến nhà hát Đức, và xem buổi trình diễn vở ‘Peer Gynt’ tuyệt diệu. Uống rượu suốt đêm với các diễn viên. Sáng hôm sau Dresden. Thảo luận với hai người bạn Mỹ. Hôm nay ở nhà. Tuần sau cũng chẳng khác mấy, tuần sau nữa cũng vẫn thế. Tôi nên ngủ nhiều hơn; vấn đề chỉ có thế thôi.” Anh ta vung vẩy cây gậy tre to của mình trong không khí.
“Chừng đó là đủ để dọa bất cứ người nào rồi,” Weikhardt nói, trong sự tương phản giữa sự điềm tĩnh của ông ta với nỗi phấn khích của người bạn đồng hành, thì ông ta là người cảm thấy thoải mái hơn. “Thế còn vợ anh thì sao? Cô ấy nói gì về cuộc sống của anh? Gần đây người ta đã nói với tôi về cô ấy. Cô ấy trông không có vẻ như sẽ để cho mình bị gạt sang một bên đâu.”
Anh ta lại dừng bước. Anh ta đứng đó, hai chân dang rộng, thân hình chồm tới phía trước, tựa người lên cây gậy. “Ôi vợ tôi!” anh ta nói. “Ôi cái tiếng đó! Tôi có một người vợ. A, phải. Xin thề với ông, bạn thân mến của tôi ạ, nếu ông không nhắc đến, thì đêm nay tôi quên hẳn điều đó rồi. Đó không phải là lỗi của cô ta, chắc chắn thế. Cô ta là một Wahnschaffe bẩm sinh; điều đó có ý nghĩa gì đó! Nhưng dù thế nào chăng nữa ... Chúa biết đó là gì - sự cuốn đi và vội vàng chết tiệt, tôi cho là thế. Ông hoàn toàn đúng. Cô ta không phải hạng người chịu để cho mình bị lờ đi hay bị đẩy vào tường. Cô ta tạo ra những khoảng không gian cho riêng mình, và ở trong này,” – anh ta lấy cây gậy vẽ những vòng tròn lớn trong không khí – “cô ta cư ngụ, sang trọng đến tận đầu những ngón tay, căng thẳng như sợi dây thép. Một tính cách tráng lệ - đầy nghị lực, nhưng với ý thức tác động tô điểm mạnh mẽ. Cô ta đáng kính trọng, bạn thân mến của tôi ạ.”
Weikhardt không có câu trả lời sẵn sàng nào cho cơn bột phát này. Sự pha trộn giữa khoác lác và mỉa mai, nhạo báng và phấn khích ngây ngất của nó đã đồng thời vừa tước đoạt khí giới vừa làm cho ông ta kiệt sức. Họ đến một con phố phụ, dẫn vào vườn Anh Quốc, và ngôi nhà nhỏ của ông họa sĩ ở đó. Ông ta muốn nói lời chào tạm biệt. Nhưng Imhof, dường như vẫn chưa sẵn lòng chịu cô đơn, hỏi: “Ông có đang vẽ bức tranh nào không thế?”
Weikhardt do dự trước khi trả lời. Như thế là đủ khiến cho Imhof đi theo ông ta. Trời đã rạng.
Felix Imhof khe khẽ đọc một mình:
“Nơi các hiệp sĩ nghỉ ngơi, và nước chảy
Những ngọn cờ cuối cùng cũng gập ánh sáng bóng,
Những ngọn tháp vươn lên với khách lữ hành,
Và những kẻ lang thang tìm kiếm một dòng suối;
Và những người xách nước đáng yêu
Nâng cốc với giấc mơ
Bóng nhà vua đang chạy trốn.”
Weikhardt, không chịu thua Imhof về kiến thức hay tình yêu với thi sĩ Stefan George, đọc tiếp đoạn trích dẫn bằng giọng mơn trớn:
“Với một nụ cười thanh thản anh nhìn,
Nhưng đi tiếp với người bẽn lẽn bề ngoài,
Vì dưới anh ngọn đồi mờ dần,
Và anh sợ tất cả mọi đụng chạm chết chóc,
Và anh hầu như sợ ánh sáng.”
Họ vào xưởng họa. Weikhardt châm đèn, rồi để cho ánh sáng rực rỡ chiếu vào một bức tranh chưa thực sự hoàn chỉnh. Đó là cảnh đưa Giê su từ trên cây thập giá xuống.
“Hơi lỗi thời, phải không?” Weikhardt hỏi, với nụ cười ranh mãnh. Ông ta đã trở nên nhợt nhạt.
Imhof nhìn. Anh ta là một tay thực sự sành sỏi. Chẳng ai khác có được con mắt như anh ta. Những họa sĩ biết điều này.
Bức tranh, gợi nhắc sức mạnh hư ảo cũng như phong cách vẽ của El Greco, có bố cục kỳ dị, biến động dữ dội, và đầy một mối đam mê ngây ngất. Những hình thể của một bậc thầy ngày xưa, qua đó ông họa sĩ tự thể hiện mình, chỉ là vẻ bề ngoài. Cảnh tượng được ném lên tấm vải bạt với một sự tráng lệ bốc lửa. Những hình dáng con người không hề lỗi thời; không hề sáo mòn; chúng giống như những đám mây, và những đám mây giống như kiến trúc. Không có những thứ cụ thể. Có một sự hỗn loạn, mà chỉ người xem có nhận thức tập trung mới có thể rút ra ý nghĩa và quy tắc.
Felix Imhof chắp hai bàn tay lại. “Ôi một sức mạnh như thế,” anh ta lẩm bẩm. “Ôi Chúa ơi, một sức mạnh để vẽ được những nét như thế!”
Weikhardt cúi đầu. Ông ta không coi trọng những lời nói đó. Ít hôm trước ông ta đã đứng trước bức tranh của mình, và hình dung có một nông dân đang đứng bên cạnh - một nông dân già hay một con người giản dị thuộc tầng lớp bình dân nào đó. Và ông ta thấy dường như người nông dân này, con người khiêm nhường này, người chẳng biết gì về nghệ thuật, đã quỳ xuống cầu nguyện. Không phải vì sùng đạo, mà vì choáng ngợp trước điều mình thấy trong tính chất của nó.
Imhof quay sang ông họa sĩ và nói một cách hầu như thô bạo: “Bức tranh này là của tôi. Dù thế nào mặc lòng. Của tôi. Tôi phải có nó. Tạm biệt.” Với cái mũ chóp cao nghiêng một góc điên rồ, bộ mặt thiếu ngủ, phóng đãng, anh ta là con ma có thể dọa được người ta.
Cuối cùng anh ta cũng chịu về nhà.
Hôm sau Crammon thông báo cho anh ta biết rằng mình đã đến Munich. Ông đến Munich vì Edgar Lorm sắp có một loạt những buổi trình diễn ở đó.
III
Christian cân nhắc việc phải cho tiền Amadeus Voss như thế nào để không xúc phạm hắn. Vì họ đã đồng ý đi với nhau, nên Voss cần phải có một bộ cánh thích hợp; mà hắn thì chẳng còn bộ nào khác ngoài bộ đang mặc trên mình.
Amadeus Voss hiểu tình thế. Vực thẳm xã hội mở toang hoác giữa họ. Cả hai người đều tuyệt vọng nhìn chòng chọc xuống đó, mỗi người ở một bên.
Trong tim mình Voss chế giễu tính mềm yếu của người kia, và đồng thời cũng yêu chàng vì nỗi xấu hổ cao quý của chàng – yêu chàng bằng cái tôi đầy tình cảm đã bị lăng mạ, bị chia tách khỏi cuộc đời, bị chà đạp và bị sỉ nhục từ bé của hắn. Hắn rùng mình trước viễn cảnh lại ngồi trong ngôi nhà của người trông coi rừng với những niềm hy vọng đã bị tiêu diệt và hai bàn tay trống trơn, để cho linh hồn mình chảy máu đến chết từ những vết thương của những niềm cám dỗ không thể thỏa mãn. Hắn ủ ê suy nghĩ, chăm chú nhìn Christian một cách hầu như căm thù. Anh ta sẽ phải làm gì? Anh ta sẽ phải khắc phục khó khăn như thế nào đây?
Thời gian trôi đi. Vấn đề đã trở nên cấp bách.
Christian nói vào buổi chiều cuối cùng: “Thời gian trôi đi chậm chạp quá. Chúng ta chơi bài nào.” Chàng lấy bộ bài Pháp ra khỏi một ngăn tủ.
“Suốt đời tôi chưa chạm vào quân bài nào,” Voss nói.
“Không sao,” Christian đáp. “Tất cả những gì anh cần làm là nói đỏ từ đen. Tôi sẽ cầm cái. Hãy đặt cược vào một màu. Nếu như anh đặt đỏ và tôi lật ra đỏ, thì anh thắng. Anh sẽ đặt bao nhiêu tiền đây? Chúng ta hãy bắt đầu với một taler.”
“Được thôi, đây,” Voss nói, đặt đồng bạc lên bàn. Christian xáo bài rồi rút ra một quân. Đó là một quân đỏ.
“Bây giờ hãy đặt hai taler,” Christian khuyên. “Người mới chơi thường hay gặp may.”
Voss thắng hai taler. Cuộc chơi tiếp tục. Hắn thua một hai lần. Nhưng cuối cùng vẫn thắng ba mươi taler.
“Bây giờ anh cầm cái,” Christian đề nghị. Chàng ngấm ngầm hài lòng thấy thủ đoạn của mình hiệu quả đến thế.
Chàng đặt mười taler và thua. Rồi mười lăm, rồi hai mươi, rồi ba mươi, và lại thua. Chàng đặt một trăm mark, hai trăm, năm trăm, càng lúc càng nhiều hơn, và lại thua. Hai má Voss hết đỏ như lửa lại trắng như phấn: hai bàn tay hắn run rẩy, hai hàm răng va vào nhau cành cạch. Hắn kinh hãi sợ vận may của mình sẽ không còn nữa, nhưng không thể nói hay yêu cầu dừng cuộc chơi. Trước mặt hắn đã có một chồng giấy bạc. Trong vòng nửa giờ hắn thắng hơn bốn ngàn mark.
Christian trước đó đã đánh dấu cỗ bài sao cho không có con mắt thiếu kinh nghiệm nào có thể nhận ra. Chàng biết chính xác Voss sẽ rút ra quân bài gì. Nhưng có điều lạ là, dù thỉnh thoảng chàng quên không nhìn chỗ đánh dấu, nhưng Voss vẫn thắng.
Christian đứng dậy. “Chúng ta đang vội,” chàng nói. “Chuẩn bị lên đường thôi, Amadeus.”
Voss choáng ngợp vì sự thay đổi đã xảy đến với cuộc đời hắn chỉ trong vòng ít phút. Nếu có tia nghi ngờ nào lóe lên trong linh hồn hắn, thì hắn cũng quay mặt đi, và chìm đắm vào trong những giấc mơ giàu sang.
Ô tô đưa họ đến Wiesbaden, và ở đó, với sự giúp đỡ của Christian, Amadeus mua quần áo và đồ vải lanh, những đôi giày ống, những cái mũ, những đôi găng tay, những chiếc cà vạt, một con dao cạo, một bộ đồ cắt móng tay, và một cái rương.
Lúc mười giờ đêm hôm đó họ ngồi trong một toa xe lửa có giường ngủ. “Bây giờ tôi là ai?” Amadeus Voss hỏi. Hắn nhìn quanh bằng ánh mắt tò mò và dữ dội, gạt mái tóc vàng hoe ra khỏi trán. “Bây giờ tôi là hiện thân của cái gì? Hãy trao cho tôi một chức vụ và một tước hiệu, Christian Wahnschaffe, để tôi có thể biết mình là ai.”
Christian nhìn nỗi phấn khích của người kia bằng đôi mắt trầm lặng. “Anh nghĩ rằng đêm nay mình là người khác hay không còn giống như hôm qua nữa để làm gì nhỉ?” chàng ngạc nhiên hỏi.
