lên đường
formaTION này là những cuộc lên đường ngày xửa ngày xưa. Những cuộc lên đường làm nên chúng ta. Chúng luôn luôn vẫy chào ở tương lai, vậy nhưng dường như lại thuộc một cấu trúc nằm rất sâu trong quá khứ. Đi mãi đi mãi hóa ra là một vòng tròn.
Ông cha đạo ở Wakefield, Oliver Goldsmith, Nguyễn Hoài dịch
Tê-lê-mặc phiêu lưu ký, François Fénelon, Nguyễn Văn Vĩnh diễn quốc-âm
Truyện Gil-Blas, Alain-René Lesage, Nguyễn Văn Vĩnh diễn quốc-âm
Miếng da lừa, Honoré de Balzac, Nguyễn Văn Vĩnh dịch
Những cảnh chia tay, nhất là ở những người trẻ tuổi, thuộc vào những cảnh cảm động nhất trong văn chương. Rất khó để biết có còn trở lại hay không, và khi trở lại, chắc chắc đã là một con người khác.
.1. MỘT CUỘC THIÊN DI
Giờ đây hy vọng duy nhất của gia đình chúng tôi là cái tin rủi ro kia biết đâu lại chỉ là hành động ác ý hay hấp tấp của ai đó: nhưng rồi một lá thư của viên đại diện ở thành phố được gửi đến rất nhanh, xác nhận mọi tình tiết trước đó. Việc tán gia bại sản nếu chỉ mình tôi chịu thôi thì hẳn cũng chẳng hề gì; tôi chỉ trăn trở về gia đình mình, những người bình dân không được hưởng một sự giáo dục giúp họ chai sạn với sự khinh miệt từ người đời.
[...] Mối bận tâm chính yếu của tôi giờ là làm sao hạ lòng kiêu hãnh của gia đình tôi xuống cho vừa vặn với tình cảnh mới; bởi tôi biết rất rõ rằng sa vào cảnh ăn mày thì thật là cùng khổ. “Các con của ta ơi, cần phải biết,” tôi kêu lên, “rằng không nết thận trọng nào có thể giúp ta tránh khỏi cái nạn vừa rồi; nhưng thận trọng hẳn giúp giảm bớt những tác hại của nó. [...] Người nghèo vui vẻ sống mà chẳng cần ta giúp đỡ, thế thì sao ta không học cách sống không cần đến người giàu. Không, các con ơi, từ bây giờ chúng ta hãy từ bỏ mọi kỳ vọng hướng đến phận thế phiệt trâm anh; nếu khôn ngoan thì ta vẫn đủ vốn để được hạnh phúc, và ta hãy biết hài lòng trước những thiếu thốn vật chất.”
[...] Con trai tôi, sau khi cúi chào mẹ và các em đang hòa nước mắt cùng những nụ hôn, thì xin được tôi chúc phúc. Tôi chân thành chúc phúc cho nó, và đấy, cộng thêm năm đồng ghi nê nữa, là tất cả gia tài giờ tôi có thể trao. “Con ơi, con sẽ đi bộ đến London, giống như Hooker tổ tiên của con đã đi ngày xưa. Hãy nhận lấy con ngựa ngày xưa giám mục Jewel đã trao cho cụ, tức cái gậy này, và nhận thêm cuốn sách này nữa, nó sẽ giúp con khuây khỏa dọc đường: trong đấy có hai dòng đáng giá bạc vạn, Xưa ta trẻ, nay ta già; nhưng ta chửa từng thấy người công chính nào bị bỏ rơi, hay con cháu người đó phải xin bánh mì. Con hãy lấy đó làm nguồn an ủi. Đi, con trai ta, dẫu vận số con có thế nào thì một năm hãy về gặp ta một lần; hãy giữ lấy một trái tim lương thiện; tạm biệt.” Bởi con tôi vốn đã có nết chính trực và trọng danh dự, tôi chẳng e ngại việc phải đẩy nó trần trụi vào hí trường cuộc đời, bởi tôi biết nó sẽ sắm vai mình rất xứng đáng, bất kể đấy là vai thắng hay vai bại.
Cuộc khởi hành của nó cũng chuẩn bị cho cuộc khởi hành của chúng tôi sẽ diễn ra vài ngày sau. Việc rời bỏ miền quê nơi chúng tôi được hưởng thụ cơ man là thanh bình thật khiến người ta không thể kìm nước mắt. Sự ngoan cường nào nén nổi nước mắt đâu.
(Ông cha đạo ở Wakefield, Oliver Goldsmith, Nguyễn Hoài dịch)
Lên đường, đôi khi ta may mắn có một người thầy bảo ban kề cận.
.2. CHỈ E RẰNG KHI NẠN ĐÃ QUA RỒI
Chúng tôi đi, trong mấy bữa đầu, sóng êm gió thuận. Nhưng về sau có một cơn bão nổi tối đen, da trời che kín, bốn phía mịt mù. Thỉnh thoảng có chớp sáng lòe thì chúng tôi nom thấy nhiều tàu khác cũng đương nguy-hiểm như mình. Nhìn lâu thì biết là tàu chiến của Ê-nê. Chúng tôi sợ những tàu ấy cũng bằng sợ núi đá. Bấy giờ tôi mới hiểu, nhưng hiểu trễ quá, rằng trẻ người, non dạ, hay nóng-nẩy càn. Trong cơn nguy-hiểm, Men-tô chẳng những vẫn vững lòng, vẫn quả-quyết, mà lại còn vui hơn những lúc bình-thường. Hiền-sư giục lòng ta, làm cho thêm phấn chấn, sức khỏe hóa bội phần, tưởng bấy giờ không ai địch nổi. Trong khi hoa-tiêu rối trí thì Men-tô cứ khoan-hòa mà đốc-thúc những quân lính trong thuyền. Tôi bảo Men-tô rằng: Hỡi hiền-sư quý báu của ta ơi! Sao ta lại chẳng nghe lời hiền-sư để đến nỗi này? Ta cực ngày nay cũng vì ta tự-đắc tin rằng ta đã là ta, đương lúc tuổi còn thơ dại, chưa biết dự-tính cuộc tương-lai, chưa có duyệt-lịch điều dĩ-vãng, chưa biết dè dặt cơ hiện-tại. Trời ơi! ví dù ta thoát khỏi nạn này thì từ nay ta sẽ nghi ta như thể ta là kẻ thù độc nhất của ta vậy. Từ nay ta chỉ tin ngươi mà thôi.
Men-tô mỉm cười mà đáp rằng: Lão-phu lọ phải nhắc lại cái lỗi đã rồi của Thái-tử nữa. Thái-tử tự đã biết lỗi mình là đủ. Ước gì lần sau Thái-tử cầm được cái tính nóng nẩy lại. Nhưng lão-phu chỉ e rằng khi nạn đã qua rồi thì cái tự-phụ đâu nó lại về mà thôi. Bây giờ nước đã đến chân, chi bằng lấy hết can đảm ra mà giữ cho vững. Trước khi vào cuộc nguy-hiểm thì nên phòng nên sợ. Nhưng khi đã vào cuộc rồi thì chỉ nên khinh nguy-hiểm đi mà thôi. Vậy thời xin Thái tử ở cho đáng mặt con vua U-lịch. Thái-tử nên tỏ ra một tấm tâm can to hơn cả những cái tai nạn nó nạt mình.
Tôi thấy cái khoan-từ, cái can-đảm của Men-tô mà thích, nhưng thấy cái khôn-ngoan của Men-tô đã gỡ ra cho khỏi tay quân địch thì lại càng phục. Khi trời đã sắp quang, Men-tô thấy thuyền mình đi gần thuyền giặc, chẳng bao lâu thì chúng nom thấy. Nhân khi đó lại thấy một chiếc thuyền giặc tựa như thuyền mình, gió đưa ra ngoài xa đàn. Mũi thuyền ấy có kết hoa một cách riêng. Men-tô kíp truyền lệnh cho quân cũng lấy hoa kết vào mũi y như thuyền giặc, rồi lại bảo những tay chèo phải cúi rạp xuống. Chúng tôi cứ như vậy đi vào giữa lũ thuyền giặc mà giặc không biết, lại ngỡ là thuyền bạn bị bạt phong mới trở về, liền reo mừng rầm-rĩ. Sóng khi ấy còn dữ lắm, chúng tôi phải đi sát vào với họ trong giờ lâu. Về sau chúng tôi mới lùi dần cho thuyền đi chậm lại, rồi nhân có cơn gió to đẩy thuyền họ về phía Phi-châu, chúng tôi bèn ra tay chèo mà chạy vào đất Xi-xinh.
(Tê-lê-mặc phiêu lưu ký, François Fénelon, Nguyễn Văn Vĩnh diễn quốc-âm)
Buổi thứ ba lên đường là một trong những chuyện mà đến một lúc, nếu may mắn, người ta có thể đem ra để tự cười mình: một chàng trẻ tuổi ở quê nhà xét ra cũng chẳng kém ai, vừa dém bước ra đời đã được ngay bài học vì bệnh sĩ. Những chuyện như thế chẳng bao giờ cũ. Một người Pháp đã viết nó hồi đầu thế kỷ 18. Hai trăm năm sau, một người Việt Nam lại dịch nó cho đồng bào mình. Đến bây giờ, hơn một thế kỷ sau, người ta vẫn có thể soi thấy mình trong đó.
.3. CỨ ĐEM RA ĐÂY
Vừa rót rượu vào cốc tôi, anh ta lại vừa hùn cho tôi phải uống. Tôi đối-đáp kể cũng khá, cốc tạc cốc thù mãi, thêm vào những điều tưng-phỉnh của anh ta thì dần dần tôi được vui mặt vô cùng. Khi thấy đĩa trứng thứ hai cũng hết đến nửa rồi, tôi lại hỏi nhà hàng có cá không. Tên chủ-quán, ý hẳn đồng-tình với thằng ăn kẹ ấy, mới thưa rằng:
- Có con cá thoan ngon lắm, nhưng mà ăn thì mất nhiều tiền. Tôi e miếng ấy khí ngon quá cho ông.
Khách của tôi nghe vậy liền quắc mắt nhìn tên chủ-quán mà mắng rằng: Thế nào là ngon quá? Anh này vô ý làm sao! Anh há không biết rằng ông Gil-Blas de Santillane đây là một bậc phải đãi như đãi ông Hoàng mới đáng.
Tôi thấy anh ta mắng tên chủ-quán như vậy thì lấy làm thích-chí, vả giá anh ta không mắng thì tôi cũng định mắng nó rồi. Nó nói thế chẳng hóa ra bỉ tôi lắm sao? Tôi mới lên giọng kiêu-hãnh mà bảo nó:
- Anh cứ đem cá thoan anh ra đây, còn gì nữa anh chẳng phải lo chi đến.
Tên chủ-quán vốn chỉ cốt thế, liền làm cá mà đem ra. Người khách của tôi nom thấy món đồ ăn mới ấy thì mắt sáng như gương, rồi anh ta lại lấy lòng tôi nhanh-nhẩu cũng bằng lấy lòng hai đĩa trứng trước. Nhưng rồi cũng chịu không ăn hết được, sợ bội-thực, vì bấy giờ coi chừng đã no đến cổ rồi.
Khi đã ăn no uống say, tên ấy muốn hát nốt hồi sau cùng cái vở kịch ấy, bèn đứng dậy mà bảo tôi rằng:
- Thưa ông Gil-Blas de Santillane, ông cho tôi ăn một bữa ngon như thế thì tôi bằng lòng quá, vậy trước khi từ-giã ông, tôi muốn dâng ông một lời khuyên, tưởng ông đương cần phải nghe. Từ rầy trở đi, ông chớ nên nghe những lời khen-ngợi, khi ông gặp những kẻ ông không quen thì ông nên nghi mà giữ mình. Có lẽ rồi ông còn gặp những đứa như tôi, nó thấy ông thực-thà mà xỏ ông chăng, có khi nó lại xỏ tệ nữa thì ông chớ mắc lận mà nghe lời nó nịnh, lại tưởng đâu mình là việc lạ thứ tám trong thế-giới.
Nói đoạn, tên ấy cười phì vào mặt tôi rồi đi mất.
Cái việc bẽ-bàng ấy thấm vào lòng tôi cũng bằng những nông nỗi chật-vật về sau. Tôi bị lừa như vậy lấy làm tức-tối không làm sao khuây được. Nói cho phải thì tức chẳng phải là tức mình dại, thực là tức cái sĩ-diện mình bị nó bỉ-báng. Bực mình quá, tôi mới phàn-nàn một mình rằng:
- Ờ! thế ra nó xỏ mình? thế khi nãy nó nói với thằng chủ-quán là để hỏi dò chuyện mình. Mà thực thì ra hai thằng này đồng-tình với nhau. Cha! Chả! thuơng hại thay Gil-Blas! nên xấu-hổ chết đi con ạ! thực đã để cho mấy thằng xỏ-lá nó cười cho, mà nó cười cho là phải. Chắc rằng việc này rồi chúng nó sẽ đặt thành một câu chuyện hay mà kể với nhau, có lẽ chuyện đồ sang đến Oviédo thì thực là đẹp mặt. Gil-Blas ơi là Gil-Blas ơi! khi rứa cha ta mẹ ta mới hối lại cái lỗi con ngu mà lại cứ khen quá. Rõ hại cho ta là cha mẹ ta, giả-sử đừng dặn con chớ có lường-gạt ai, mà dạy con chớ có để cho ai lường-gạt, thì đâu đến nỗi thế này.
(Truyện Gil-Blas, Alain-René Lesage, Nguyễn Văn Vĩnh diễn quốc-âm)
Buổi thứ tư lên đường: vẫn một chàng trẻ tuổi bôn ba kinh thành, đã nếm đủ bẽ bàng đắng cay, giờ chỉ còn thấy cửa mở thẳng vào địa ngục. Nhưng địa ngục đâu đã chịu nhận vào.
.4. MA ĐƯA LỐI, QUỶ DẪN ĐƯỜNG
Quân đao-phủ chặt đầu người oan-ức, cũng có lúc rỏ đôi ba giọt lụy khóc người kề cổ dưới mũi gươm. Bọn đánh bạc thoạt đưa mắt nhìn anh chàng này đã đoán ngay ra tất có duyên nợ chi đây mới đem thân đến vỡ lòng học lấy cái nghề-nghiệp đốn này. Mặt mũi anh chàng xinh trai, sáng-sủa, mà sáng-sủa một cách lờ-mờ, như là bóng Ngân-hà, nhìn hai con mắt đủ biết là người đã chịu khó gắng sức, mà công-danh bất-toại, hi-vọng hững-hờ. Cái lòng đã quyết quyên-thân nó lộ ra ngoài mặt, khiến cho trán xanh lướt như người có bệnh, miệng cười cay-đắng làm cho hai bên mép ngấn gieo hai vạch, cả tướng-mạo con người rõ sự đành lòng, làm cho ai thấy cũng ái-ngại. Trong hai con mắt đã hình như có ma thần quái-lạ nào lập-lòe sáng quắc, nhưng có lúc mắt lại mờ đi như người đêm qua đã quá nhọc vui. Cái mặt ấy xưa kia sáng như gương, trong như tuyết mà nay hóa mặt bơ-phờ, có phải chăng là vì quá đam mê sắc-dục, cho nên Dâm-thần nó đã đem cái dấu gớm-ghê mà đóng giữa sân-thần? [...]
Khi có tên đại-gia ác-phạm mới đến chỗ lao-hình, thì những tên tù cũ thường khiêm cung mà tiếp-đãi, anh chàng này đến chỗ sòng-bạc đó, thì bọn ma-quỉ có xương có thịt, đã thạo hết cảnh đớn-đau, cũng khiêm cung mà chào-đón cái đau cực-điểm, cái thương sâu-xót, nghếch mắt nhìn đã biết ngay là một vì vua khổ, cái vẻ đế-vương nó đã lộ ra ở cái miệng cười thầm đủng-đỉnh, ở bộ áo-quần xác-xơ mà còn lịch-sự. Nguyên chàng ta cũng còn bộ áo thời-trang, nhưng có ý nhìn chỗ cà-vạt gài liền với vạt gi-lê, thì biết rằng trong hiếm đồ lót thịt. Hai tay anh ta trắng mà xinh như tay con gái, rửa không được sạch. Đã hai ngày không đeo bao-tay nữa rồi. Anh chia-bài và mấy cậu hầu phòng, nom thấy anh ta cũng phải rùng mình, là bởi trong dáng-điệu thanh-tú, anh ta vẫn còn có vẻ xuân-xanh măng-sữa, ghi lại một đôi dấu-tích ở bọn tóc tơ vàng thưa sợi, tự-nhiên xoắn rẽ trên ngôi.
Nom cái mặt thì người còn độ quãng hai nhăm, dẫu có trải qua cuộc ăn chơi hư dại, cũng còn là việc ngẫu-hứng thử mùi đời mà thôi, chưa ra tay lão-luyện. Khí-lực thanh-xuân còn đương mơn-mởn mà cự-địch nhau với cái hại tà-dâm. Cái u, cái minh; cái hư, cái thực; cái xấu, cái tốt, còn đương cưỡng lộn cùng nhau, khiến cho vẻ người vừa xinh mà vừa gớm. Ở đâu chạy đến, chẳng khác thiên thần không có hào-quang, thiên-đường lạc lối đâu mà xuống đây. Cho nên bọn sư-huynh trong nghề xấu nết hư, khi đó cũng như là một mụ Tú-bà răng đã móm, thấy cô con gái mỹ-miều, nhuần-nhị, sa cơ phải chạy đến lầu-xanh, cũng phải thương-tâm mà muốn kêu lên một tiếng: Ra đi, vào chi đây.
(Miếng da lừa, Honoré de Balzac, Nguyễn Văn Vĩnh dịch)
Để khép lại, chúng tôi chép ở đây một cuộc lên đường thảo nguyên. Lúc nào chúng ta cũng cần những thảo nguyên, lúc nào chúng ta cũng cần những cuộc lên đường.
KHÔNG MỘT VẾT XE NÀO
Tôi mặc sức ngắm nhìn các cảnh tượng vây quanh mình.
Sau khi băng ngang làng, chúng tôi dấn vào bên dưới bóng râm trong suốt của một cánh rừng dương, rồi chúng tôi đi giữa lúa mì cao mạ vàng, đầu trĩu nặng. Sau đó cỗ xe khấp khểnh lăn bánh trên một cây cầu cũ với các nhịp run rẩy, và chui sâu vào một tấm thảm cỏ dày và mịn. Trước mặt chúng tôi, giờ đây, thảo nguyên trải rộng.
[...] Thoạt tiên trên đường đi chúng tôi chỉ gặp những dãy dài các đồng cỏ khô dày, một người nông dân đang mài lưỡi hái, hoặc một cô nông dân trẻ tuổi nào đó, đầu quấn một cái khăn đỏ, đang bận rộn hái các loại cây nhỏ, và chìm nghỉm vào giữa đám cỏ cao, trông thật giống một cây anh túc khổng lồ.
Chốc chốc, chừng sương mù lười biếng được nâng lên, người ta nom thấy ở chân trời lấp lánh cây thập giá Hy Lạp của một nhà thờ, hoặc dựng lên trong nỗi cô đơn bóng dáng một cái giếng hay một chuồng cừu. Những ngọn đồi nhỏ với bên trên là các bãi chăn thả bóng mượt, được tập hợp lại thành các nhóm giống một đống gồm nhiều nấm mộ, và được dân chúng coi như là các lăng mộ hoặc công trình do người Tartar hay Cô dắc dựng sau một cuộc chém giết khủng khiếp nào đó, lốm đốm mờ ảo trên bầu trời phủ đầy sương. Những khóm cây mảnh điểm xuyết trên các khoảng cỏ rộng. Lũ chim chiền chiện chui ra từ sương lấp lánh, mà những viên ngọc trai chất lỏng biến đồng cỏ thành một tấm gương mênh mông.
Dần dà, các ngọn đồi thu nhỏ lại; cây cối trở nên hiếm hơn. Rốt cuộc chúng biến mất. Không tiếng chim hót nào khuấy động sự cô đơn. Sương mù bay lơ lửng trên đất ẩm. Chúng tôi đã đến trung tâm thảo nguyên. Buổi sáng ánh lên một lóe chớp quyến rũ, ngập tràn tuổi trẻ cùng nhựa sống.
Quanh chúng tôi, tôi chỉ nhìn thấy một tấm thảm làm bằng cỏ dài với màu ngọc lục bảo, lấm tấm những cây nhỏ phình rộng và các loài hoa màu chói, tạo thành các hình thoi màu vàng, đỏ, trắng hoặc xanh, phần lớn vàng, và sự sặc sỡ ấy dâng tặng các tông nóng tới nỗi hẳn có thể nói đấy là một cầu vồng được ném xuống mặt cỏ. Một mùi hương thật nặng dâng lên từ tất tật những đài hoa ấy và bập bềnh lơ lửng trên các cánh mềm oặt của gió, mùi hương độc hại, hắc và gây bực bội giống những thứ hương phương Đông mà các nàng cung phi múa may trong bầu không khí ngạt thở của những hậu cung làm dậy lên.
Lũ gà sếu, màu gỉ, đầy kiêu hãnh lượn qua lượn lại trên cỏ, tha hồ giương rộng những cặp cánh đen lấm chấm các giọt nước mắt trắng của chúng. Lũ cò thiu thiu ngủ, đứng trên một chân, giống các fakir ăn năn, gục xuống ở sa mạc. Bọn kền kền bay vòng vòng trong không trung, đại bàng thì chao lượn tít trên tầng không. Hàng nghìn con côn trùng rì rầm, hàng trăm con châu chấu nhảy lên trước bước chân chúng tôi, rơi xuống cách đó một chút, để rồi lại bắt đầu những cú bật nhảy thất thường của mình, và xoay tròn, những tia lấp lánh to lớn màu lục, trong khoảng rộng xanh um.
Chỉ cần người ta dỏng tai lên là thảo nguyên trông không có vẻ gì cô đơn nữa. Tại đó người ta nghe thấy một tiếng rì rào vĩnh cửu, những tiếng ríu rít, những tiếng cười khẩy, những tiếng sột soạt, những tiếng rít, những tiếng thở dài, những âm thanh lạ thường như tiếng khóc oe oe của trẻ con, các nốt khàn và sầu muộn. Mặt trời đã trở nên nóng bỏng. Chính các ve vuốt của mặt trời kia là thứ làm sống động khuôn mặt những người Tiểu Nga của chúng tôi, làm họ có nước da nóng kia, hết sức hài hòa với các đường nét nghiêm khắc nhấn rõ và uể oải của họ.
Nơi chân trời, chỉ còn nom thấy được các cánh đồng, phía trên đó bầu trời chăng ra, lốm đốm những đám mây nhỏ. Chẳng ở đâu người ta để ý thấy dòng nước ánh bạc của một con suối.
Thảo nguyên xanh thẫm lại giống biển. Giống biển, nó mất đi ở chốn xa xôi, tắm mình trong một ánh sáng run rẩy. Và không chỉ đất mới có vẻ được mở rộng ra trước các ánh mắt của chúng tôi; trong mắt chúng tôi cả bầu trời cũng mang những tỉ lệ vô tận.
Con người cảm thấy mình cũng nhẹ hệt như con chim đang băng ngang không trung đẫm thiên thanh.
Thảo nguyên buông mình ra trước anh ta, trống rỗng như vòm trời. Chẳng gì nhắc cho anh ta về tồn tại của đồng loại anh ta. Anh ta không tìm được ở đó các thành phố, các tòa tháp, các thôn xóm, các ngôi nhà; ở đó thậm chí người ta còn không thấy những túp nhà đổ nát vách đan gỗ liễu mái phủ rơm; tại đó người ta không gặp các con người, không một dấu chân nào, không vết xe nào.
Nơi đây, tự nhiên có một cái gì đó man rợ giống một khu rừng hoang, với khác biệt ở chỗ, rừng hoang là chốn trú ngụ của bóng tối, của bí ẩn, của các sinh thể vốn dĩ là kẻ thù của chúng ta, trong khi tại thảo nguyên, tạo vật cảm thấy mình ngập ngụa trong những tia ánh sáng và sự sống. Giống thảo nguyên, rừng hoang bình lặng và không giới hạn; tại đó người ta được tận hưởng một nỗi cô đơn hoàn hảo; chỉ có điều, sự bình thản kia trình hiện kết thúc của một tồn tại, cái chết, hư vô. Nỗi cô đơn của thảo nguyên thì lại đánh thức ý về chuyện thiên đường từng là gì trước khi con người xuất hiện. Ngằm nhìn nó, người ta tưởng đâu mình đang chiêm ngưỡng buổi sáng đầy tươi cười của sáng thế.
Con mắt không gặp phải các giới hạn. Nó nhìn được xa hết mức mà nó có thể bao trùm.
(Leopold von Sacher-Masoch: Một ngày và một đêm trên thảo nguyên, Văn Bản kỳ Xuân 2026)
