favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Hạ 2026
Next

Thư Witold gửi Bruno

30/07/2026 08:27

trước tiên xem ở kia

Tháng 1 năm 1937, Warsaw. Trong mười ngày bị cúm, Bruno Schulz phải nằm liệt giường. Người duy nhất đến thăm Schulz là Gombrowicz, mang theo bản thảo gần như hoàn chỉnh của Ferdydurke cho ông đọc. Schulz là người đầu tiên đọc cuốn tiểu thuyết của Gombrowicz dưới hình thức ấy. Trong một bức thư gửi Tadeusz Breza, ông gọi nó là “tuyệt vời”, nhưng lời khen không hoàn toàn thành thực. Nhiều năm sau, chính Gombrowicz đã dẫn lại nhận xét thực sự của Schulz về bản thảo: “Anh nên trở lại với hình thức kỳ ảo của Hồi ký tuổi thiếu niên; hình thức ấy hợp với anh hơn”, và “có lẽ cuốn này không cần phải xuất bản”. Phản ứng hờ hững của Schulz khiến Gombrowicz phải suy nghĩ lại. Trong vài tháng tiếp theo, ông sửa chữa cuốn tiểu thuyết, trước khi nó được xuất bản vào cuối tháng Mười năm 1937. Khi đọc bản in cuối cùng, Schulz bị cuốn sách gây một ấn tượng “choáng váng”. Ông liên tiếp đánh điện cho Gombrowicz, nói mình được cuốn sách “nạp điện” và bắt đầu viết về nó trong những tuần kế tiếp. Ngày 11 tháng Một năm 1938, theo sự khuyến khích của Romana Halpern, Schulz đọc tiểu luận về Ferdydurke trong một buổi thảo luận của Hội Nhà văn Ba Lan ở Warsaw. Buổi nói chuyện có mặt gần như toàn bộ văn giới Warsaw và dẫn tới một những tranh cãi dữ dội. Một vụ án văn chương.

(một vụ án khác, xem ở kia)

Đến tháng Bảy cùng năm,  Gombrowicz viết thư trả lời bạn.

 

Thư Witold gửi Bruno

Bruno yêu quý!

Đọc lại bài báo ông viết về Ferd. trong trạng thái định hình tốt hơn cái lúc tôi đọc nó lần đầu ngay sau khi sách ra, tôi lại đi đến một kết luận rằng đây là bài báo chỉ ra triệt để nhất những điểm cốt yếu nhất của quyển sách. Điều duy nhất đáng phản ánh là cái sự mơ hồ trong cách diễn đạt mà căn cớ có lẽ là vì, thứ nhất, ông nói về một „phát hiện”, trong khi nó đáng ra chỉ là một „thái độ” - quyển sách của tôi là phức hợp những vấn đề đã được công nhận và biết đến, chỉ là được làm sáng tỏ từ một góc khác. Thứ hai, trong lập luận, ông đã bỏ qua một chỗ rất quan trọng, đó là nhân cách con người như một vấn đề có tính quyết định và can hệ chặt chẽ nhất với vấn đề hình thức. Theo tôi hiểu, sự khác biệt trong cách tiếp cận văn hóa của tôi nằm ở chỗ: tôi thực thi một thái độ chán ghét và thù địch ra mặt của con người đối với hình thức. Trong khi số đông theo đuổi việc chứng tỏ hình thức (được hiểu theo nghĩa rộng nhất), đồng nhất căn tính của mình với cái hình thức họ thể hiện ở bề ngoài, thì tôi khẳng định rằng hình thức của ta không biểu đạt chính ta, nó là cái thứ bị áp đặt, rằng giữa nội hàm và hình thức bên ngoài của chúng ta là một vực thẳm, hệ quả là cả cái thực tại được xây dựng trên những biểu hiện bên ngoài của cá nhân là - từ điểm nhìn của một cá nhân - không chân thực, giả tạo và nguy hại đối với y. Tức là nếu như trước đây cái thực tại giả tạo giữa người với người được đại chúng công nhận là bắt buộc, thì tôi cố gắng đứng trên lập trường đối nghịch và chỉ ra tính giả dối của nó đối với một cá nhân.

            Song để nhận ra rõ ràng cái vấn đề sự tương phản giữa thế giới quan „tư” và „công” của chúng ta, phải xem xét toàn bộ cái thực tế sự tương phản giữa chúng ta „cá nhân” và „bầy đàn”. Con người không bao giờ trình diện đơn độc mà luôn trong sự quan hệ với những người khác, và cái sự đối lập nghịch lý ấy giữa cảm thức con người cá nhân với sự lệ thuộc cố hữu vào tha nhân là cơ sở của sự mất hài hòa sau đó. Cái điểm này chưa được nhấn mạnh trong tham luận của ông, trong khi nó cũng rất hệ trọng. Những tạo tác của chúng ta không bao giờ hình thành duy chỉ từ chúng ta, mà luôn từ sự giao hợp của ta với ai đó khác, và điều này dẫn đến việc thái độ của ta đối với họ có thể, mà thậm chí phải, dè chừng và cẩn trọng. Có thể diễn đạt như sau - khi một bà vợ hạ sinh cho ai một đứa con, người cha hạnh phúc sẽ nói „đây là con tôi”, nhằm củng cố một cách chặt chẽ nhất cái cảm tưởng ấy, và đây là lập trường „công cộng” và xã hội. Tuy nhiên, người cha đồng thời có thể ghét bỏ và ghê sợ cái đứa trẻ sinh ra từ sự kết hợp của ông ta và bà vợ, là cái thứ gì đó bên ngoài, một thực tại thứ ba và khác biệt - và đây, chính cái thực tại thứ ba ấy là tất cả hình thức, định chế v.v. của chúng ta.

            Vả lại, nguyên cái khó của việc thực thi cái lập trường đơn giản ấy nằm ở chỗ - mà ông đã nhận ra sâu sắc và chí lý - là nhận thức của chúng ta, bản thân là một tạo tác „giữa người với người”, thuộc về cái thực tại thứ ba kia; ngôn từ, và tất thảy những thứ khác hình thành nên từ sự giao hợp giữa các cá nhân, không dùng được cho việc biểu đạt những nội dung thực sự cá nhân - nó là công cụ của bạo chúa, thậm chí ngay cả khi ta tưởng như nó giải phóng mình. Điều này dẫn đến tính bức thiết của việc lùi lại một bước trong phê phán thực tại, có nghĩa là: tôi không những phải công kích thế giới, mà còn phải, cùng lúc, tấn công chính mình - cười nhạo thế giới và cười nhạo chính cái bản thân mình đang cười nhạo - bởi chưng cái thái độ của tôi, rốt cuộc, không phải thái độ của một con người tự do, mà là của một nô lệ đang lên án chính mình như một tạo tác của tha nhân. Trong đó có cái khoảnh khắc xấu hổ, lo sợ, khôi hài và lên án tuyệt đối. Song cả „vô hình thức”, theo tôi, cũng chẳng là cái thứ gì tốt đẹp hay giải phóng - đây chỉ là một thảm họa, sự xô xát của hai lý lẽ mà mỗi cái đều độc lập toàn vẹn. Sự „không chính chắn” là một ý niệm thuần tiêu cực. Cái kết luận tích cực nhất có thể được rút ra từ Ferd. là nhất quyết phải có một khoảng cách và sự cẩn trọng nhất định đối với hình thức (và văn hóa), nhất quyết phải điều khiển những sản phẩm ấy trong cảm nhận đầy đủ về tính khác biệt của nó.

            Ông cũng thấy đấy, bài báo của ông gần như hoàn toàn trùng khít với lập trường của tôi về vấn đề này, còn cái khác biệt chủ yếu có lẽ là: cái ông công nhận là hiện tượng sự không chín chắn có tính gần như không xác định (theo tôi), thì tôi nắm bắt nó dựa trên sự đối nghịch giữa những nội dung cá nhân và tập thể của cái tôi. Trong ấy [bài báo] có nhiều chỗ hay và sâu sắc, và tôi lấy làm lạ là ông chối bỏ nó[1]. Tiếc là về mặt phong cách nó không được viết một cách gần gũi với đông đảo công chúng hơn. Grydz chỉnh sửa là tốt cho nó[2]. Thư viết đã quá dài đến nỗi tôi không còn sức bàn bạc những chuyện hiện tại.

            Còn về Mesjasz[3] của ông, tôi khó nói được điều gì do tôi chưa biết gì về nó ngay cả ở mặt ý định - nếu nó cho ông cơ hội được làm mới mình thì như thế càng hay! Yêu cầu ấy quan trọng không phải vì nghệ thuật của ông, mà vì chính ông đấy - về phương diện tinh thần. Những cái ôm thân ái

WG của ông.

Ngày 19 tháng 7 năm 1938

Trương Thu Hà dịch.

 

[1] Có lẽ Schulz bấy giờ không hài lòng với text này do biên tập tờ „Skamander” chỉnh sửa đôi chỗ chú thích của người dịch - ND).

[2] Mieczysław Grydzewski, biên tập tờ Skamander (ND).

[3] Tiểu thuyết Schulz đang ra sức viết lúc bấy giờ, chưa hoàn thiện và đã thất lạc (ND).

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công