favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Hạ 2026
Next

Bruno Schulz về Ferdydurke

26/07/2026 09:19

Trước khi đi đến Gombrowicz và Ferdydurke, ta hãy nán lại ở Schulz đã.

Bruno Schulz - nhân vật văn chương kiệt xuất và lạ lùng của Ba Lan đầu thế kỉ XX đã phần nào hiện diện tại Việt Nam qua Những hiệu quế Dưỡng đường đồng hồ cát do Xuân Trường dịch. Đặt Bruno Schulz trong nền văn chương Ba Lan, ta phải cơi nới biên độ thời gian sáng tác của ông ra cả một thời kì Hai mươi năm giữa chiến tranh (Dwudziestolecie międzywojenne). Đáng tiếc thay, văn học Ba Lan được dịch ở Việt Nam còn khuyết cả một giai đoạn rất quan trọng này (tuy nhiên, có thể kể đến Czesław Miłosz, dẫu Miłosz là một hiện tượng xuyên thế kỉ và vượt ra ngoài Ba Lan).

Schulz, vả lại, trong cái diện mạo nghệ thuật ban đầu của mình, thường được độc giả Việt Nam so sánh với Kafka. Gombrowicz, bằng hữu của Schulz, nhân Sklepy cynamonowe được dịch sang tiếng Pháp năm 1961, từ Paris biên thư về cho gia đình và nhắc nhỏm đến người bạn quá cố, rằng: „Tôi chẳng ngạc nhiên nếu giờ đây Bruno nhảy lên những thứ bậc cao nhất trên văn đàn thế giới, vì đó là một thứ nghệ thuật kiệt xuất, dù đối với tôi nó quá Kafka-tính”. Đoái tưởng cái thời hai người bạn chí cốt cùng debut với tập truyện ngắn vào năm 1933 (Những hiệu quế Hồi ký thời đang lớn), Gombrowicz kể: „Bruno, đối với tôi, quá đỗi nhà thơ, quá đỗi và quá thể một mực nghệ sĩ. […] Và lại quá gần Kafka”.

Nhưng hãy trở lại với Ba Lan.

Schulz, Witkacy và Gombrowicz là „tam quái” của văn chương Ba Lan đầu thế kỉ XX. Bộ ba này thường được nhắc đến cùng nhau sở dĩ vì những đặc điểm chung trong nghệ thuật viết. Các sáng tác của họ đã cùng đưa đến một cuộc cách mạng trong nghệ thuật, khó đọc, khó hiểu và đối nghịch với đời sống văn chương Ba Lan nói chung bấy giờ. Gombrowicz miêu tả Witkacy là một kẻ điên tuyệt vọng, Schulz - kẻ điên chìm đắm, còn mình là kẻ điên nổi loạn. „Chúng tôi, dù gì đi nữa, cũng là một bộ ba”.

Sau nhiều thập kỉ những sự đâu sóng gió bất kỳ của lịch sử chung và cuộc đời riêng - „Bruno tội nghiệp”[1] tử nạn dưới tay một tên gestapo ở Drohobycz, còn Gombrowicz đã vượt Đại Tây Dương lưu lạc đến Argentina nhiều năm mới trở về Châu Âu - Gombrowicz vẫn còn thường nhắc nhỏm đến người bạn bỉnh bút đặc biệt ấy: vì Schulz là một trong số rất ít người nhìn ra được cái vấn đề cốt yếu nhất trong Ferdydurke ngay từ khi nó được xuất bản vào năm 1937 và dành cho nó một tiểu luận dài đăng trên tờ Skamander. Schulz cũng là người vẽ bìa và minh họa cho ấn bản đầu tiên của Ferdydurke.

Trong quá trình lần lục thư từ, bút tích của hai nhân vật này, người dịch không khỏi xúc động mà muốn lấn sang Schulz nhiều hơn, hoặc nói khác đi, nán lại ở Schulz lâu hơn. Nhưng trước hết, hãy xem Gombrowicz là ai và Ferdydurke là cái (thứ) gì (mà nghe nó lạ lùng)?

Để tránh cho người đọc một nỗi thất vọng (không đáng có), vì lần đường Schulz tìm đến Gombrowicz, người ta sẽ không lại đi đến một tuổi thơ được huyền thoại hóa, sẽ không lại đọc một thứ văn xuôi viết bằng thơ, sẽ không lại nếm trải một cuộc vượt thoát khỏi thực tại, vì, mượn lời Gombrowicz: „Nếu trong nghệ thuật Ba Lan có một ai hoàn toàn đối lập với tôi, thì người đó là ông ấy [Schulz]”.  

Ferdydurke

           Từ lâu trong văn chương của ta, ta không còn quen với những hiện tượng chấn động, những sự giải phóng tư tưởng cỡ tiểu thuyết của Witold Gombrowicz - Ferdydurke. Ở đây ta thấy một sự bộc lộ tài năng sáng tác, một hình thức mới mẻ và cách tân, một phương pháp tiểu thuyết và sau cùng là một phát hiện mang tính nền tảng, sự chiếm lĩnh một địa hạt mới - của các hiện tượng tinh thần - vô chủ và không của riêng ai, mà ở đó xưa nay chỉ buông thả một trò đùa, một phép lộng ngữ và một sự phi lý vô trách nhiệm.

Ta hãy thử khoanh vùng, chỉ ra lãnh vực của cái địa hạt nơi Gombrowicz đã thực hiện một khám phá mới mẻ. Lạ thay, cái địa hạt mà phải tới phát hiện phi thường này mới hé lộ cho ta những chiều kích của nó, trước giờ không được gọi tên, không được công nhận cho sự hiện hữu, thậm chí không được đánh dấu là vùng đất bí ẩn trên bản đồ của thế giới tinh thần.

Con người trước giờ nhìn mình và muốn nhìn mình duy chỉ từ góc độ hình thức. Cái gì diễn ra bên ngoài phạm vi của hình thức thì y không công nhận nó tồn tại, không cho nó ra trước tòa án suy tư, không đưa nó vào nhận thức. Nó sống đời mồ côi dường như bên ngoài sự hiện sinh, bên ngoài thực tại, cái đời sống tội nghiệp của những nội dung không được chấp nhận và không được ghi chép lại ở bất kì đâu. Sự kết án ngu xuẩn, vớ vẩn và vô nghĩa ngăn ta tiếp cận nó, sự gần gũi quá lớn đã gây mù quáng. Nhận thức đòi hỏi một khoảng cách nhất định và sự áp chế của trí năng, thứ gì quá gần và không được áp chế luôn né tránh phạm vi của nhận thức.

Trong khi cái bóng của con người, trên sân khấu nhận thức, thực hiện một hành động chính thức, chín chắn, được chấp thuận - thì cái thực chất của y đối chọi trong vô vọng với sự ngu xuẩn và vô nghĩa, bất lực va đập vào những ảo tưởng và vớ vẩn trong cái vùng không tên và không ranh giới. Cái bóng chiếm đoạt các đặc quyền của sự hiện hữu, trong khi đó cái thực chất người thì không chốn nương thân, sống đời lén lút và giấu diếm của một tên ăn nhờ ở đậu không được công nhận. Gombrowicz chỉ ra rằng những hình thức trưởng thành và sáng rõ của sự hiện sinh tinh thần của ta chỉ là pium desiderium[2], chúng sống trong ta như một ý định mãi mãi gồng gượng mà không phải thực chất. Như thực chất thì chúng ta chỉ luôn sống ở bên dưới tầm cao ấy, trong địa hạt hoàn toàn không trang trọng hay vẻ vang gì, và cũng tầm thường tới nỗi ta trù trừ xem có công nhận cho nó, chí ít là, một cái vẻ tồn tại hay không. Cái hành động lớn lao của Gombrowicz chính là đã không hề trù trừcông nhận địa hạt ấy là cái phạm trù đích thực và rất đỗi người của một con người thực, đã đón nhận nó khi nó bị nhận thức gạt đi và không dung chứa, đã nhận dạng và cho nó một cái tên, cho nó một bậc đầu tiên dẫn tới vị trí tót vời trong văn chương mà cái người manager của sự không chín chắn này đang vạch lối cho nó.

Nếu sự hiện sinh chín chắn của con người có tương đương của nó trong các hình thức và nội dung văn hóa cao, thì sự hiện sinh ngầm ẩn và không chính thức ấy cũng có thế giới những tương đương nơi nó dịch chuyển và hành động. Từ góc độ văn hóa, đó là những sản phẩm phụ và thải loại của các quá trình văn hóa, chỗ chứa các nội dung dưới-văn-hóa, chưa hoàn chỉnh và tàn dư, một bãi phế liệu văn hóa khổng lồ xả thải ra vùng ngoại biên của nó. Cái thế giới những cống rãnh, cái lỗ huyệt văn hóa khổng lồ ấy hóa ra lại là vật chất sơ khởi, là lớp vụn rơm và cốt tủy nuôi dưỡng sự sống, nơi mọi giá trị và văn hóa sinh sôi. Ở đây có bể chứa các dồn nén cảm xúc mạnh được các nội dung dưới-văn-hóa ấy liên kết và tập hợp lại. Sự không chín chắn của chúng ta (mà có lẽ đúng ra là sức sống) được móc nối lại bằng hàng ngàn nút thắt, đan dệt lại bằng hàng ngàn đặc tính di truyền cùng với cái bộ hình thức hạng xoàng, cái văn hóa hạng hai ấy, ngoan cố ăn sâu trong đó bằng sức mạnh của giao ước và liên đới xa xưa. Trong khi dưới lớp vỏ của những hình thức trưởng thành và chính thức chúng ta đang tôn thờ những giá trị cao thượng tót vời, thì đời sống thực chất của ta lại diễn ra lén lút và không bị áp chế trong cái cõi thân thuộc dơ bẩn ấy, và những năng lượng cảm xúc được đặt trong đó mạnh hơn gấp trăm lần những cảm xúc do cái lớp hình thức mỏng mảnh quản thúc. Gombrowicz cho thấy rằng chính tại đây, ở cái nơi bị hắt hủi và không vẻ vang gì, một đời sống dồi dào và trù mật đang nảy nở, rằng đời sống diễn ra tuyệt nhiên không bị áp chế, rằng dưới sự đè nén trăm lần của sự kinh tởm và xấu hổ thì nó còn lan tràn tốt hơn là ở trên những tầng cao thượng.

            Gombrowicz đã dỡ bỏ cái vị trí đặc biệt và cô quả của các nội dung trong thế giới tinh thần, phá hủy huyền thoại về nguồn cội thần thánh và chỉ ra cái phả hệ thú vật của chúng, cái phả hệ bắt nguồn từ tầng bậc thấp kém mà chúng vẫn tự hào ngăn cách mình ra khỏi. Gombrowicz đã chỉ ra sự đồng căn của văn hóa và dưới-văn-hóa, hơn nữa, có thể công nhận rằng ở khu vực dưới văn hóa, khu vực những nội dung không chín chắn, ông nhìn thấy hình mẫu và bản nguyên của các giá trị nói chung, và trong cái cơ chế hoạt động của chúng ông đã vạch trần ra một cách xuất sắc - cái chìa khóa để hiểu cơ chế của văn hóa. Xưa nay con người tự nhìn mình qua lăng kính của hình thức sẵn có và hoàn chỉnh, nhìn mình từ góc độ của cái bề ngoài chính thức. Y đã không nhìn ra rằng trong khi y tham vọng tiệm tiến cái tầm cỡ của lý tưởng, thì trong hiện thực của chính mình tự y luôn chưa hoàn thiện, méo mó, chắp vá và khiếm khuyết. Cả cái sự may đo nghèo nàn của hình thức được may bằng đường chỉ thô kệch đã lọt ngoài chú ý của y. Gombrowicz cho ta chỉ mục của cái mặt sân sau ấy, của cái gian phụ của bản ngã - một chỉ mục đáng kinh ngạc. Ở phòng khách, mặt tiền, mọi thứ diễn ra trang trọng và nghi thức, nhưng trong gian bếp của bản ngã, đằng sau bức gièm của hành động chính thức, ta thực hiện tổ hợp những hành xử tệ hại nhất. Không có bất kì hệ tư tưởng nào cặn bã và thất bại như vậy, hình thức nào rẻ mạt và đáng bỏ đi như vậy mà chưa được lưu thông, ưa chuộng ở đây. Nơi đây trần trụi ra, trong cả sự nghèo nàn, cái cấu trúc của huyền thoại, cái bạo lực ẩn giấu trong các hình thức của cú pháp, sự bức hiếp và tấn công của sáo ngữ, sức mạnh của sự cân xứng và tương đồng. Ở đây hiển lộ ra bộ máy những lý tưởng của ta được vận hành chủ yếu dựa trên sự sao chép ngây ngô, những ẩn dụ và sự bắt chước thô kệch những hình thức ngôn từ. Gombrowicz là bậc thầy của cái cơ chế tâm lý khôi hài và châm biếm ấy mà ông biết đẩy nó đến những xung đột dữ dội, những cú bùng nổ hoành tráng trong sự cô đặc nghịch dị kì quái.

            Gombrowicz tách vụn những khối tạo tác bầy nhầy của cái tầng sương mù này bằng cách nào, đưa chúng lên sân khấu kịch nghệ của mình một cách cụ thể và hiển lộ ra sao, là bí mật tài năng của ông. Cái phép nghịch dị mà ông xây dựng nhằm mục đích đó có vai trò như chiếc kính lúp mà qua đó những imponderabilia[3] có được thù hình - đáng trở nên cái đối tượng cho một khảo cứu đặc biệt.

            Song chuỗi các phát hiện của Gombrowicz không dừng lại ở đây. Trong số đó còn có một chẩn đoán sâu sắc nguyên cái bản chất của văn hóa. Con dao mổ của Gombrowicz đưa ra ngoài ánh sáng, gỡ ra khỏi mớ bòng bong những mô-típ làm mờ và không quan trọng cái mô-típ chủ đạo của văn hóa, dây thần kinh và gốc rễ của nó. Gombrowicz đã phát hiện và đề cao ý nghĩa hệ trọng của vấn đề hình thức. Có thể nói như Gombrowicz rằng cả văn hóa loài người là một hệ thống những hình thức mà trong đó con người tự nhìn mình và lộ diện trước tha nhân. Con người khôn kham sự trần trụi của chính mình, không thể tiếp xúc với bản thân hay đồng loại bằng cách nào khác ngoài thông qua hình thức, phong cách và mặt nạ. Cả tâm trí của loài người luôn bị thâu vào việc sử dụng các hình thức và tôn ti, thao túng và dịch chuyển các giá trị, bị thu hút vào khía cạnh nội dung của vấn đề tới mức cả cái hành động sắp đặt và sản xuất hình thức dường như không đáng xem xét. Công phu của Gombrowicz là ông đã nắm bắt cái vấn đề - vốn luôn được xem xét từ khía cạnh tuyệt đối và nội dung ấy - từ góc độ gen và sinh trưởng. Ông đã trình bày phôi thai học của hình thức. Ông xác định sự đa dạng rồi thu hẹp cả quy mô các hệ tư tưởng của loài người về một mẫu số chung, và chỉ ra, ngoài các thù hình của chúng, cái chất người chung. Song chỗ trú ẩn của sự tạo lập hình thức được ông đặt trong cái lãnh vực trước giờ mắt thường không thể thấy, mơ hồ, tầm thường và sơ sài đến nỗi sự thâu tóm các vấn đề xa cách ấy lại trong một cái nhìn, đặt chúng bình đẳng với nhau, phải được gọi là một lóe sáng đích thực của tiên tri. Chúng ta đã biết cái phòng thí nghiệm hình thức ấy, cái nhà máy chuyển hóa và sắp đặt ấy nằm ở đâu. Chính là cái lỗ huyệt của sự chưa chín chắn, địa hạt của ô nhục và xấu hổ, của những sự không vừa và không đạt, cái bãi rác văn hóa thảm hại đầy những đầu lâu, những hệ tư tưởng sơ sài, giẻ rách và rơm rạ không được gọi tên trong ngôn ngữ văn hóa.

            Những phát hiện như vậy không có được nhờ suy tưởng bằng phẳng và an toàn hay sự tìm hiểu một cách vô cảm. Gombrowicz tiếp cận nó từ góc độ bệnh lý, từ bệnh lý của chính mình. Tất cả chúng ta trải qua những khủng hoảng mới lớn, những quá trình đau đớn của thiếu thốn và khiếm khuyết - một cách khó nhọc hay nhẹ nhõm - đều mang theo từ những biến cố ấy những vết thương, dị tật và tổn hại nặng nhẹ khác nhau. Ở Gombrowicz những khổ sở thời trưởng thành, tất tật những thất bại và kinh tởm không chấm dứt ở bất kì dạng thức nào của sự cân bằng, không lắng dịu ở bất cứ thỏa hiệp nào, mà tự thân chúng trở thành cả một vấn đề đủ chín để phản tư, trỗi dậy thành ngôn từ và biểu đạt.

            Thái độ của Gombrowicz không phải là thái độ của một người nghiên cứu trung lập, vô cảm, tác phẩm của ông từ đầu đến cuối đẫm tinh thần tông đồ sốt sắng, tinh thần tin tưởng và cải cách cháy bỏng, hăng chiến. Tinh thần tông đồ có lẽ là cái cốt lõi và khởi đầu của quyển sách, mà trên đó những phần và nhánh khác tua tủa mọc ra như trên một thân cây. Không dễ rút ra cái cốt yếu của tinh thần tông đồ ấy, và không dễ bởi lẽ cái vấn đề không nằm ở một quan niệm, học thuyết hay khẩu hiệu cụ thể nào, mà là ở sự tái thiết cả một lối sống, ở tinh thần cải cách in capite et membris[4] mang tính căn bản mà trước đây chưa từng được đặt ra. Và sẽ lại là hiểu nhầm nếu có ai cho rằng tác giả xuất phát từ những điều chung chung và trừu tượng. Xuất phát điểm của quyển sách hoàn toàn cụ thể, cá nhân, sống động và cháy bỏng, và Gombrowicz nhấn mạnh vào, như một tuyên ngôn, cái tiến trình tác phẩm của mình từ một tình huống cá nhân và cụ thể. Gombrowicz chỉ ra rằng mọi mô-típ „căn bản” và „chung chung” trong hành vi của chúng ta, mọi sự nhân danh các lý tưởng và khẩu hiệu không thể hiện toàn bộ và nguyên bản chúng ta, mà - luôn luôn - chỉ một góc nhỏ, hơn nữa, lại ngẫu nhiên và nhỏ nhặt. Gombrowicz đối đầu với cái khuynh hướng cơ bản của văn hóa cho rằng con người luôn thỏa mãn mình nhờ các bộ phận, các hệ tư tưởng, các sáo ngữ và hình thức được bộc lộ ra từ chính mình thay vì sống là mình, là một chỉnh thể toàn vẹn, là cái nguyên bản sống động của mình. Con người luôn xem bản thân là thứ khiếm khuyết, vớ vẩn, đắp dính vào các nội dung văn hóa của mình. Gombrowicz muốn lấy lại cho mối liên can ấy một tỉ lệ xác đáng, lộn ngược nó lại. Ông chỉ ra rằng những „thằng nhãi” thiếu trưởng thành và khôi hài, đấu tranh ở dưới các tầng ngầm cụ thể nhằm giành một biểu đạt riêng, vật lộn với sự ti tiểu của mình - chúng ta ở gần với sự thật hơn là chúng ta được vẩy nước thánh, cao quý, trưởng thành và hoàn thiện. Cho nên ông kéo chúng ta lùi về những hình thức thấp kém, bắt chúng ta một lần nữa phải làm lại, đấu tranh lại và nếm trải lại cả tuổi thơ văn hóa của mình, đi vào một đứa trẻ, không phải để tìm thấy trong các hệ tư tưởng thấp kém, man dại và tầm thường ấy một sự cứu rỗi, mà bởi vì trên con đường phát triển khởi sự từ trạng thái ngây thơ nguyên thủy, con người đã vung vãi, phung phí và đánh mất báu vật là sự rõ ràng sống động của mình. Tất thảy những hình thức, điệu bộ và mặt nạ đã mọc bao phủ lấy bản chất người, giam cầm trong mình các mảnh vụn của phận người tuy tầm thường nhưng rõ ràng và chân thực duy nhất, và Gombrowicz đòi lại chúng, gọi chúng về trở lại từ cuộc lưu lạc và phân tán lâu ngày. Các mặt nạ hình thức và lý tưởng ấy càng trần trụi và bêu xấu bao nhiêu, cái cơ chế của chúng càng lộ ra lớn hơn, rõ hơn và khả ố hơn bao nhiêu, thì con người càng tự giải phóng mình khỏi các hình thức đã cầm tù y bấy nhiêu. Song thái độ của Gombrowicz đối với hình thức không thẳng thừng và đơn nghĩa như cách giới thiệu trên. Nhà nghiên cứu ma thuật văn hóa ấy, tay truy lùng quyết liệt những giả trá văn hóa ấy cùng lúc lại bị - một cách lạ lùng - bán đứng cho chúng, lại say mê sự rù quyến tầm thường của chúng bằng một tình yêu bệnh tật và vô phương cứu chữa. Đây là tình yêu dành cho nhân tính, cho cái tạo vật khôi hài, khiếm khuyết và bất lực đến thương cảm khi không đáp ứng được đòi hỏi của hình thức. Những vênh lệch, vấp váp và chơi chữ của hình thức, những sự tra tấn con người trên chiếc giường sắt kiểu Procrustes của nó kích động và khiến ông say mê.

            Nhưng cái khung vấn đề được rút ra từ cơ thể sống Ferdydurke mới cằn cỗi và khô khan, mới nghèo nàn làm sao. Đó mới chỉ là chưa đầy một lát cắt qua cái khối cơ thể sống động và cuồn cuộn của nó, một trong số một ngàn khía cạnh của cái tạo tác nghìn lớp này. Rốt cuộc ở đây chúng ta bắt gặp một trí năng thiên bẩm và nguyên bản, không bị nhồi nhét những ý niệm sẵn có. Khi nhúng tay vào thớ thịt của tác phẩm ở bất kì chỗ nào, ta cảm thấy cái cơ bắp chắc khỏe của suy tư, những khối và xương của một cơ thể lực điền. Quyển sách này đầy ắp tư tưởng đến nứt ra, đầy ắp năng lượng sáng tạo và phá hủy đến tràn ra.

            Từ những tìm tòi của mình, Gombrowicz rút ra những kết luận nào cho thực tế đời sống và văn chương? Gombrowicz xem thường hình thức cá nhân, cười nhạo những nỗ lực khó nhọc nhằm neo đậu vào hiện thực của nó. Không xuất thân gốc gác nào, không chứng cứ ngoại phạm nào trước tòa án bản chất và tuyệt đối có thể cứu nó trong mắt ông. Song nhà thực chứng và tín hữu của thực tế ấy hoàn toàn tha thứ cho nó nếu nó thể hiện được sự hiệu quả và thành công, nếu nó sống sót và duy trì được trong môi trường liên đơn tử mà ta gọi là đánh giá. Hình thức, khi đó, tiệm cận sự tuyên phong Chân phước của mình trong chốc lát. Thành côngcấp phán quyết cao nhất, là sự kiểm tra tối hậu mọi giá trị con người. Gombrowicz có một thái độ tôn trọng vô cùng đối với cấp ấy dẫu ông biết thành phần và vật chất của nó, dẫu ông biết nó là giá trị trung bình lớn của các quan điểm của xy, là cái khối thô kệch các ý kiến đại trà và hạn chế của ông nọ và bà kia. Song - Gombrowicz chỉ ra - không có cấp kiểm tra nào khác hay cao hơn, và chính nó thực thi quyền tài phán đối với giá trị những gì ta làm, những khao khát sâu kín nhất của ta nhắm vào nó, những tham vọng cháy bỏng nhất của ta vụn vỡ cũng ở đó. Cùng với sự đánh giá nghèo nàn của mình, nó là nguyên mẫu của quyền lực đánh giá, mọi tiêu chí và cấp bậc tuyệt đối sau rốt đều dẫn về nó. Nó giới hạn và chèn ép ta, hình thức của ta dựa dẫm vào nó, hình dạng mà ta cố công đặt ra cho mình cũng bám lấy nó.

            Lời bạt cho Phi-li-đo, tuy nhiên, cùng sự tôn thờ thực tế theo tinh thần thực chứng, lại chỉ ra sự lung lay của hệ tư tưởng ấy, sự quay lưng với nó, khi ở đây Gombrowicz hạn chế nó, tước đi một số vấn đề khỏi quyền tài phán của nó. Gombrowicz đáng lẽ không nên kinh hãi sự phiến diện của mình. Mọi hệ thống tư tưởng lớn đều phiến diện và có can đảm phiến diện. Sự cấp phép mà Gombrowicz trao cho những tác giả „hạng nhất” là thuần túy hình thức, không nên đưa vào đây một tiêu chuẩn kép nào. Những ngoại lệ mà Gombrowicz đặt ra làm suy yếu độ uy tín của lý thuyết của ông đối với cả những trường hợp nằm trong quyền tài phán của nó. Tức là Gombrowicz yêu cầu những mô-típ cá nhân đã thôi thúc tác giả viết - mà theo khẳng định táo bạo của ông chính là cái chuyện gò ép chất lượng viết của mình trước tòa án các đánh giá - phải thôi làm động lực hành động của y, cái động lực ngầm ẩn, đáng xấu hổ và hoạt động giấu giếm, phải thôi chuyển hóa năng lượng của mình thành những nội dung hoàn toàn lạ lùng và xa vời, mà đơn giản là trở thành đề tài hiển lộ trong sáng tác của y. Ông hướng tới việc bóc trần cả cái cơ chế của tác phẩm nghệ thuật, mối liên can của nó với tác giả, ông vừa cho và yêu cầu cả cách kiểm tra khả năng đó, bởi chưng Ferdydurke chính là ví dụ xuất sắc cho một tác phẩm như vậy. Ông cho rằng đó là con đường duy nhất để thoát khỏi sự giả dối chung và vô vọng, rẽ sang phục hồi văn chương nhờ một liều hiện thực mạnh. Song tác giả „hạng hai” nghĩa là gì? Bậc thầy của chủ nghĩa tương đối và tín hữu của sự cụ thể - Gombrowicz đáng lẽ không nên sử dụng những phạm trù khép kín kiểu đó, chỉ định một cái tính hạng xoàng được cố định sẵn - nhờ vào hiệu lực của định nghĩa. Gombrowicz biết con đường công danh của những tư tưởng và tác phẩm lớn, ông biết tầm vóc đôi khi là kết quả của một tình thế may mắn, sự trùng hợp của những tình huống bên trong và bên ngoài. Kể cả sự trung thành của Gombrowicz đối với những tinh thần lớn của nhân loại ta cũng không nên lấy làm đáng tin. Để khẳng định tính độc đáo không thể phủ nhận của Ferdydurke, nên nhắc tới việc quyển sách có tiền thân của nó, xuất hiện quá sớm và do vậy không có hiệu quả - Pałuba của Irzykowski mà tác giả thậm chí có thể không biết. Có lẽ phải tới thời điểm hiện tại tình hình tại phân đoạn này của chiến tuyến mới đủ chín muồi cho một cuộc tổng tấn công.

            Nhà phê bình được chỉ định phải diễn dịch cái văn phong biện luận của Ferdydurke sang thứ ngôn ngữ tiêu chuẩn và phổ thông. Mà khi bóc trần, khi chiết tách ra một cái khung khô khan, thì đánh mất cả cái tính tầm nhìn, đa nghĩa và ẩn dụ vô biên mà đem lại giá trị cho các tư tưởng của Gombrowicz như một tiểu vũ trụ, một mô thức phổ quát của thế giới và đời sống!

[1938]

Trương Thu Hà dịch

[1] Cách Gombrowicz gọi Schulz.

[2] Mong mỏi thần thánh (chú giải của người dịch - ND).

[3] Sự vô hình (ND).

[4] „Từ đầu não đến các bộ phận” - cụm từ thường dùng để miêu tả cải cách Giáo hội La Mã vào thế kỉ XV.

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công