favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Hạ 2026
Next

John Dos Passos: Chống văn Mỹ

01/07/2026 19:14

 

Nếu văn Mỹ có thứ tâm trạng chủ đạo nào thì đó là sự châm biếm nhè nhẹ. Xu hướng châm biếm này, thường mơ hồ và ôn hòa, đôi khi cay đắng với sự đắng cay giả dối của những bà trung niên tự cho mình là sành đời lắm, là đặc điểm duy nhất bao trùm lên tất cả những gì có thể gọi là văn Mỹ giữa vô vàn các tác phẩm có nguồn gốc ngoại lai ở đất nước này. Washington Irving là điển hình cho biểu hiện vô giá trị nhất của nó; Edgar Lee Masters, Edith Wharton và Katherine Fullerton Gerould thuộc về hình thái hiện đại - và cay đắng - của nó. Dù có tìm kiếm thế nào, ta cũng sẽ thấy rất ít thứ không sặc sụa cái giọng điệu này, cái giọng điệu, như tắc kè hoa, thay đổi theo các biến thể của tư tưởng châu Âu, nhưng về cơ bản thì không đổi. Không nghi ngờ gì nữa, cho đến nay nó đã thể hiện rất sát tính khí quốc gia, đã đại diện một cách khá trung thành cho sự nồng hậu, vô tích sự và năng nổ một cách mù quáng đó: hồn Mỹ. Hai từ ấy ghép lại thật lạ; bởi chúng ta cho đến gần đây vẫn rất ít bận tâm về âme nationale [quốc hồn] của mình, ném chuyện ấy cho các quốc gia khác tự soi xét hay suy đồi tại hải ngoại. Nhưng ngay cả khi ta không ý thức được nó, chúng ta vẫn có một thứ gì gọi là quốc hồn, và chính nó, hoặc ít nhất cái bề nổi của nó, là thứ được phản chiếu một cách vô cùng thích đáng qua giọng điệu bao trùm nền văn học nước ta.

Món pudding gạo lành tính này, xui thay, lại là thứ thức ăn tẻ nhạt tới kỳ lạ; vì thế ta phải nêm nếm cho nó - như cách người ta pha rượu táo applejack - bằng cách thêm vào một thứ nguyên liệu liều mạnh hơn. Nhu cầu phải vay mượn nước ngoài luôn tay này rốt cuộc đã biến nền văn học của chúng ta trở thành một thứ lạp tạp như con la vậy, hoàn toàn vô sinh và để tạo ra được một cá thể mới thì luôn cần sự lai phối từ các giống khác. Vì sao có thực tế này? Phần lớn các tác phẩm của ta, đặc biệt là ở tầng trên của tiểu thuyết, địa hạt của Edith Wharton và Robert Herrick, đều chân thực, cẩn trọng và đầy những quan sát sắc sảo về đời sống đương đại; nhưng tôi thách ai có thể giam mình đủ lâu trong những cuốn sách thuần Mỹ ấy mà không thấy đói khát, không khát khao những sắc màu, niềm say mê và tư tưởng sâu sắc từ các nền văn học khác. Sách vở nước ta cũng hệt như phố xá ở ta: tuyền rập khuôn y hệt. Ở các nước khác, văn chương của họ phải tốn cả đời người mới khám phá hết. Vậy văn ta thiếu điều gì?

Trước hết, văn Mỹ là một sản phẩm không rễ, một cành chiết từ cây sồi già khỏe khoắn, nhiều nhánh của nước Anh, được nuôi dưỡng trong vùng đất khô cằn của các thuộc địa vùng New England và gần đây được đem cấy sang những vùng đất rộng lớn của vùng Trung Tây. Ở các quốc gia khác, văn chương là kết quả của một quá trình tiến hóa lâu dài, dựa trên văn chương dân gian nguyên thủy, trên niềm vui và sự khiếp sợ đầu tiên của con người trước sự hiện diện của cây cối, những đồng cỏ thơm ngát và những dòng sông xoáy nước lăn tăn, được đan bện với cấu trúc đang định hình của các nền văn minh cổ đại đã chết, và với những sợi vàng mới rực lửa từ các chủng tộc đang tràn vào. Kết quả là sự quyến rũ, chiều sâu, sự gắn bó thực sự với cái cao cả nhất và cái thấp hèn nhất trong con người. Nó có thể được tìm thấy, dưới hình thức này hay hình thức khác, bên dưới lớp cặn bã nhất thời của mọi nền văn học đã định hình. Sự kích thích nghệ thuật này, nồng nhiệt với những sự dã man nguyên thủy, thơm nức những nghi thức thờ cúng đất đai và mùa màng cổ xưa, được hun khói và chín thơm theo thời gian, là di sản chính của các nền văn minh, là sợi khổ trên đó các nghệ sĩ cá nhân có thể dệt nên sợi dọc từ những tư tưởng của riêng họ.

Điều ấy nước Mỹ dường như thiếu hoàn toàn. Nước Mỹ thiếu thốn điều đó gần như hoàn toàn. Cảm tri về đất đai, những bồi tụ quý giá từ trí tưởng tượng của các thế hệ nối tiếp, vốn rất phong phú trong văn chương Anh cổ, dường như đã mất đi hiệu lực trong quá trình dịch chuyển cấy ghép. Dòng chảy ngầm, bắt rễ sâu trong dân chúng, thường không cất lên lời suốt cả những thời đại, thứ dòng chảy bắt nguồn từ những bài hát xướng của các tu sĩ Druid, từ những câu chuyện cổ tích và truyện kinh dị được kể trong những túp lều bện bằng cành cây quanh đống lửa đầy khói của những người Briton bôi phẩm nhuộm woad, và là thứ đã năm lần bảy lượt làm hồi sinh nền văn học nước Anh, cứu nó khỏi sự giả tạo và thói xu nịnh cung đình, đã bị cắt đứt khỏi chúng ta. Chúng ta thấy mình đang chao đảo không bánh lái hay la bàn, giữa biển khơi của cuộc sống hiện đại, được chiếu sáng một cách mơ hồ bởi ánh lân quang từ chủ nghĩa lạc quan truyền thống của chúng ta. Một cảm giác về phong cảnh, hoặc giả là một thứ cảm xúc nhập khẩu, bừng đỏ, mang tính thời đại, đã thế chỗ cho sự thân mật vô thức với tự nhiên - thứ sự thân mật càng sâu sắc thì càng ít tính suy tư - vốn luôn nằm trong linh hồn của những tác phẩm lớn. Không có bóng ma nào lảng vảng quanh những cánh đồng của chúng ta; không có nàng tiên nào trong những đài phun nước của chúng ta; không có truyền thống canh tác và chăm bón của vô số thế hệ để ban cho chúng ta sự tôn kính đối với những vách đá, những dòng suối nhỏ và những ngọn đồi sừng sững như đền thờ vốn được nhắc đến một cách vô cùng trơn tru trong bài quốc ca.

Để khỏi phụ thuộc vào quá khứ thì chỉ có cách là phụ thuộc vào tương lai. Chính tại đây, nhà thơ duy nhất của chúng ta đã tìm thấy sự vĩ đại thực sự của mình. Walt Whitman đã từ bỏ sự thanh lịch mơ hồ vốn là đặc trưng của văn chương Mỹ, thứ sản phẩm cứng nhắc từ những giờ rảnh rỗi của một petite noblesse de province [quý tộc nhỏ ở tỉnh], và, đặt niềm tin vào chính mình, vào cuộc sống rực cháy bên trong mình, đã hét lên một cách nồng hậu, nhiệt thành lời thách thức của ông đối với tương lai. Nhưng, dù thực tế là rất phá cách trong phong tục và tập quán, công chúng Mỹ lại mong muốn các ý tưởng của mình phải được kỷ luật hóa một cách ngăn nắp theo những quy ước của mười năm về trước; Walt Whitman đã thất bại trong việc tiếp cận những người dân mà ông hướng tới, và chỉ khơi dậy một sự xáo động bối rối cùng loại cảm giác hoảng hốt về đạo đức mà một ông già độc thân ăn mặc chỉnh tề phải trải qua khi một người Ý đỏ rực, mỉm cười, nồng nặc mùi tỏi và mồ hôi, ngồi phịch xuống ngay cạnh ông ta trên xe điện. Dẫu vậy, ngày người ta tỏ tường quyền năng Whitman có thể nằm ở một tương lai hồng tươi, khi người Mỹ, thay vì mỉm cười với đôi mắt nhắm nghiền, sẽ nhìn thẳng một cách sắc sảo về phía trước.

Sau đó là sự sùng bái cái trừu tượng. Có lẽ nó cũng mọc ra từ sự vô-rễ của chúng ta, từ sự thiếu thốn mối thâm tình tâm linh với ngô và lúa mì mà những cánh đồng của chúng ta trồng cấy, từ sự thực dụng ngu xuẩn của chúng ta. Cuộc sống Mỹ, cũng như một nhà sáng chế thất bại, hay bận rộn với những trừu tượng nhoẻn cười. Điều này đặc biệt đúng với tôn giáo của chúng ta, thứ tôn giáo, dưới các hình thức đa dạng của Cơ đốc giáo Tin lành, trên thực tế là một thứ thần giáo trừu tượng hỗn độn. Chúng ta không có vị thánh bản địa nào - hầu hết họ là những vị thần ngoại giáo được địa phương hóa - những vị đã buộc chặt Giáo hội ở châu Âu vào dân chúng, vào đất đai, vào những quyền năng vĩnh cửu của ngô, rượu vang và mặt đất đang hồi sinh. Từng mảnh từng mảnh một, chúng ta đã giật bỏ khỏi vị thần mình những tấm áo của sự cụ thể, những phẩm chất con người. Ngay cả việc bãi hủy địa ngục và ác quỷ có lẽ cũng đã góp phần lớn vào việc xé toạc tôn giáo khỏi linh hồn con người, đặt nó vào vùng đất lạnh lẽo của các quy ước nơi nó hiện đang héo úa. Có điều gì đó hữu hình và thuộc về con người ở ngọn lửa địa ngục vốn không thể tìm thấy trong cái khái niệm mơ hồ về chuyện ngồi gảy đàn hạc tại thiên đàng trong tương lai dành cho tất cả những người “tử tế”, thứ biểu trưng cho hầu hết các đức tin tôn giáo hiện hành.

Cái gì đúng với tôn giáo cũng đúng với nghệ thuật và văn chương. Tồi tệ hơn cả sự thiếu thốn về chiều sâu và cấu trúc của nó chính là tính trừu tượng - sự thiếu thốn, nhìn chung, về tính hiện thực kịch tính của nó. Hãy thử so sánh, chẳng hạn như Chỉ ngu ngơ mới biết cười [nhan đề tiếng Việt đã in The House of Mirth của Wharton] một cuốn tiểu thuyết Mỹ khá điển hình, với Lũ xuân của Turgenev. Nhà văn Nga khuấy động mắt, tai, mũi và xúc giác, khắc họa câu chuyện của mình với sự hữu hình sống động; nhà văn Mỹ để lại một ấn tượng trừu tượng về sự cay đắng mang tính trí tuệ. Đó không hẳn là vấn đề về kỹ thuật mà là về cảm xúc. Tương tự như vậy, hãy đối chiếu sức mạnh kịch tính trong Những linh hồn bé nhỏ của Couperus với Di sản của Mary S. Watts, cuốn tiểu thuyết khai thác tầng lớp người tương ứng ở quốc gia này. Tại sao các nhà văn của chúng ta không thể sống động như nhà văn Nga, thể hiện cuộc sống của mình một cách kịch tính như nhà văn Hà Lan?

Thật hữu ý, hoàn toàn vô thức, tôi đã chọn tác phẩm của hai người phụ nữ để điển hình hóa tiểu thuyết Mỹ. Giọng điệu của loại văn chương thuộc tầng cao hơn ở đất nước này không nghi ngờ gì nữa chính là giọng điệu của một người phụ nữ được giáo dục tốt, thông minh, bao dung, sành sỏi những sự đời thế gian, hài hước một cách lặng lẽ, nhưng bị trói buộc chặt chẽ trong xiềng xích của sự “tử tế”, của thế giới quan trung lưu. Và khi những gông cùm đó bị vứt bỏ, kết quả là sự tầm thường thô bỉ, và tồi tệ hơn, là sự sa đà vào thói rập khuôn giả tạo.

Những điều này có thể giải thích cho sự thịnh hành đột ngột của văn học Nga ở đất nước này. Văn Nga có quá nhiều thứ mà văn ta thiếu. Ở đó có sự dã man nguyên thủy, sắc màu, sự lãng mạn của một thời đại đức tin bỗng nhiên bị khoa học châu Âu tràn vào, sự tươi mới, rậm rạp và tươi tốt như cây cỏ đầu tháng Năm. Chẳng có gì lạ khi đối với người Mỹ chúng ta, đó là một sự giải thoát khi được quay lưng lại với phòng khách tư tưởng thuộc địa nghiêm nghị của mình, nơi các tấm rèm được kéo xuống vì sợ mặt trời sẽ làm phai màu tấm thảm mà những tổ tiên Thanh giáo đã trải ở đó, để hướng tới những nỗi đau và niềm say mê kỳ quái, tới cái hương vị thảo nguyên ẩm ướt, nóng bỏng của một cuốn tiểu thuyết Nga.

Việc tiếp thu bài học từ đất đai đối với bất cứ chủng tộc nào cũng ngày càng khó khăn. Một thứ chủ nghĩa công nghiệp bao trùm tất cả, một lối sống mới đang manh nha, đã phá hủy những cây cầu cũ dẫn về quá khứ, đã cắt đứt khả năng rút lui. Con đường duy nhất của chúng ta là tiến lên. Liệu chúng ta có dũng cảm chấp nhận lời thách thức mà Walt Whitman gửi đến hậu thế? Hay chúng ta sẽ trì trệ mãi mãi, trở thành một Sicily của thế giới hiện đại, giàu của cải, hấp thụ tư tưởng, bảo trợ nghệ thuật từ các dân tộc khác, nhưng chẳng sản sinh ra cái gì từ giữa mớ hỗn độn các chủng tộc của chúng ta ngoài thép, dầu hỏa và ngũ cốc?

Bùi Gia Bin dịch

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công