Don Giovanni
Goethe, khi được hỏi liệu Faust có thể trở thành một vở opera hay không, đã đáp rằng người duy nhất có thể biến nó thành âm nhạc - Mozart, tác giả của Don Giovanni thần thánh - đã không còn. Goethe từng thấy Mozart một lần khi thần đồng bảy tuổi đến biểu diễn ở Frankfurt và kể lại chuyện đó trong thư: cậu bé xanh xao, tóc giả phủ vai, bên hông đeo một thanh kiếm lễ.
Don Giovanni cũng đem đến cho Hoffmann, người lãng mạn trẻ hơn Goethe hai bảy tuổi, một khải ngộ lớn lao. Truyện dưới đây Hoffmann viết năm 1813, khi đang là giám đốc âm nhạc ở Bamberg và được đưa vào tập Fantasiestücke in Callots Manier, xuất bản một năm sau đó.
DON GIOVANNI
Một tình tiết siêu nhiên trong đời một người yêu nhạc lữ hành.
Một hồi chuông lanh lảnh; một tiếng hô vang vọng: “Màn diễn sắp bắt đầu!” đánh thức tôi khỏi giấc ngủ lơ mơ mà tôi vừa chìm vào; những cây đại hồ cầm đang gầm gừ hỗn loạn - một tiếng trống định âm - vài hồi kèn trumpet - một nốt La trong trẻo, kéo dài, từ chiếc oboe - rồi violin nhập vào, lên dây: tôi dụi mắt. Chẳng lẽ Satan, trong sự cần mẫn không biết mệt của hắn, đã đem cái thân say mèm của tôi ra mà nghịch? Không! Tôi nhận ra mình chẳng ở đâu ngoài căn phòng khách sạn nhận tối qua, trong tình trạng gần như không còn đứng vững. Ngay phía trên mũi tôi là chùm tua dây chuông đồ sộ; tôi giật mạnh một cái và người hầu bàn xuất hiện.
“Cái thứ ầm ĩ gì thế? Ở đây đang có hòa nhạc à?”
“Thưa ngài” - buổi trưa tôi đã uống ít champagne của khách sạn - “có lẽ ngài chưa biết rằng khách sạn và nhà hát là cùng một chỗ. Cánh cửa bí mật này mở ra một lối đi ngắn, từ đó ngài có thể đi thẳng tới số 23: lô dành cho khách.”
“Cái gì? Nhà hát? Lô dành cho khách?”
“Vâng, lô nhỏ dành cho khách, đủ chỗ cho hai - cùng lắm là ba - người, dành riêng cho các quý ông danh giá, giấy dán tường toàn màu xanh, có cửa sổ mắt cáo, ngay cạnh sân khấu! Hôm nay, nếu ngài vui lòng, chúng tôi diễn Don Giovanni của Mozart lừng danh xứ Vienna. Phí một thaler tám groschen sẽ được cộng vào hóa đơn của ngài.”
Nói xong, hắn liền nhường lối cho tôi ở lối vào lô, bởi vừa nghe đến cái tên Don Giovanni, tôi đã vội vã bước qua cánh cửa bí mật vào hành lang. Nhà hát được xây theo tiêu chuẩn một tỉnh nhỏ, khá rộng, bài trí trang nhã và được thắp sáng lộng lẫy. Các lô và cả khu ghế dưới đều chật kín. Ngay khi những hợp âm đầu tiên của overture vang lên, tôi đã biết mình chắc chắn sẽ được hưởng trọn vẹn kiệt tác này nhờ dàn nhạc hạng nhất, dù phần hát sau đó có yếu đến đâu đi nữa. Suốt đoạn andante, tôi chao đảo bởi những cực hình của infernal regno all pianto; linh cảm máu me về những kinh hoàng chốn ấy tràn ngập tưởng tượng tôi. Tiếng kèn hân hoan ở ô nhịp thứ bảy của đoạn allegro với tôi nghe như một hành vi phạm thánh được thực hiện trong khoái trá: từ đêm tối đen đặc, tôi thấy những con quỷ lửa vươn những móng vuốt rực cháy lên phía những kẻ phàm nhân vô tâm đang vui vẻ nhảy múa trên lớp mặt mỏng của một vực thẳm không đáy. Cuộc xung đột giữa bản tính con người với những thế lực quỷ dữ vô danh kia - những thế lực bao vây nó và rốt cuộc báo trước sự hủy diệt của nó - hiện ra trước mắt tôi với một sự rõ ràng dữ dội. Cuối cùng cơn bão lắng; màn kéo lên. Lạnh lẽo, bực bội, co ro trong chiếc áo choàng, Leporello đi đi lại lại trong bóng tối ban đêm, phía sau là khu đình nghỉ. “Notte e giorno faticar” - Tôi đang nghe cái gì thế này? Tiếng Ý, giữa cái tỉnh nhỏ nước Đức này ư? À, che piacere! Tôi sẽ được nghe tất cả, đến tận đoạn recitative cuối cùng, đúng như nó đã được tiếp nhận và tạo ra trong tâm trí bậc thầy! Don Giovanni lao ra, Donna Anna bám theo sau, níu lấy vạt áo choàng của tên tội phạm. Cảnh tượng mới mẻ làm sao! Đành rằng lẽ ra nàng nên cao hơn một chút, gầy hơn một chút, dáng điệu uy nghi hơn một chút; nhưng khuôn mặt ấy! - đôi mắt phát ra tình yêu, thịnh nộ, căm ghét và tuyệt vọng như tiêu điểm duy nhất của kính, phóng ra những tia không thể dập tắt, thiêu đốt trái tim như ngọn lửa Hy Lạp! Những lọn tóc đen buông xõa của nàng đổ xuống thành những cuộn sóng dọc theo gáy. Cái áo ngủ trắng phản phúc để lộ không ít vẻ quyến rũ khó cưỡng trước những con mắt tọc mạch của khán giả. Trái tim dồn ứ lên trong phản kháng trước sự khủng khiếp của tội ác. Và giọng hát! - “Non sperar se non m’uccidi.” Xuyên qua cơn bão của dàn nhạc, các nốt của nàng lóe sáng như chớp nóng, như những mũi lao thủy ngân được đúc bằng thanh khí! Don Giovanni vô vọng cố giằng mình khỏi nàng. Nhưng hắn có thật sự muốn thế không? Tại sao hắn không đẩy bật người đàn bà bằng một cú đấm mạnh rồi chạy thoát? Có phải hành vi tội ác đã khiến hắn bất lực, hay cuộc đấu giữa yêu và ghét đã tước mất lòng can đảm và sức mạnh của hắn? Ông bố già, với sự ngu xuẩn của mình, xông vào đối thủ hùng mạnh trong bóng tối và trả giá bằng mạng sống; Don Giovanni và Leporello, đối đáp bằng recitative, bước ra trước sân khấu. Don Giovanni hất áo choàng ra và đứng đó, lộng lẫy trong nhung đỏ xẻ tà thêu bạc: dáng người mạnh mẽ, uy nghi: khuôn mặt đẹp đầy nam tính; chiếc mũi quý phái, đôi mắt sắc xuyên thấu người ta, đôi môi mềm; chuyển động kỳ lạ của một cơ trán phía trên lông mày khiến diện mạo ấy có thêm một phẩm chất kiểu Mephistopheles - phẩm chất ấy, tuy không làm tổn hại chút nào đến vẻ đẹp của khuôn mặt, vẫn gây một cơn rùng mình kinh hãi ngoài ý muốn. Như thể hắn là bậc thầy lão luyện trong ma thuật rắn chuông; như thể phụ nữ, một khi đã gặp ánh mắt hắn, thì không thể nào rời được nữa và, bị thôi miên bởi quyền lực kỳ dị của hắn, tất yếu phải đi tới sự hủy hoại của mình. Cao và gầy trong chiếc áo chẽn sọc đỏ trắng, Leporello lảo đảo đi vòng quanh hắn. Nhìn tổng thể, các nét trên mặt Leporello biểu lộ một sự pha trộn kỳ lạ giữa sự dễ mến, láu cá, dâm đãng và trơ tráo châm chọc, cũng như mái tóc và bộ râu đã hoa râm của hắn tương phản lạ lùng với cặp lông mày còn đen nhánh. Rõ ràng lão già này hoàn toàn đủ tư cách làm cánh tay phải đắc lực của Don Giovanni. Thầy tớ kịp thời trốn khỏi hiện trường, vượt qua bức tường… rồi đuốc. Donna Anna lại hiện ra cùng Don Ottavio: chàng trai nhỏ nhắn, sạch sẽ, bóng bẩy, nhiều nhất chỉ hai mốt tuổi. Vì chàng được gọi tới đây nhanh đến thế, người ta đoán rằng, do đã đính hôn với Anna, chàng ở cùng nhà với gia đình nàng; những dấu hiệu ồn ào đầu tiên, mà chắc chắn chàng đã nghe thấy, thừa đủ thời gian để chàng lao ra ngoài cứu ông già: tuy nhiên trước đó chàng còn phải chăm chút trang phục; vả lại, nói chung chàng không thích ra khỏi nhà vào ban đêm. “Ma qual mai s’offre, o dei, spettacolo funesto agli ochi miei!” Trong những nốt ghê rợn của đoạn recitative và duet này có một cái gì vượt quá nỗi tuyệt vọng đơn thuần trước sự khủng khiếp của hành vi xúc phạm. Không phải chỉ vụ sát nhân lạnh lùng của Don Giovanni đã giằng những âm thanh ấy ra khỏi trái tim đau đớn - vụ sát nhân, suy cho cùng, chẳng báo trước điều gì ngoài sự hủy diệt không thể tránh khỏi của hắn, và trên thực tế đã chẳng gây nên điều gì ngoài cái chết của người cha. Những âm thanh như thế chỉ có thể được khơi lên bởi một cuộc chiến một mất một còn, thiêu rụi tất cả, diễn ra trong những tầng sâu nhất của linh hồn.
Giờ đến Donna Elvira - cao, hốc hác, vẫn còn dấu vết của một nhan sắc lớn dẫu đã phai tàn - cất tiếng vang dội tố cáo Don bội bạc: “Tu nido d’inganni”; và Leporello, vẫn luôn đầy cảm thông, khôn ngoan nhận xét về nàng: “Parla come un libro stampato,” mà tôi tưởng như nghe thấy một giọng khác vọng lại từ một khoảng cách không thể xác định. Quả là quá dễ để ai đó lẻn qua lối vào của lô và rón rén đến sau lưng tôi - một sự quấy quả chết người cho khoái thú của tôi chẳng khác nào nhát dao đâm vào tim. Nhưng tôi vui sướng nhận ra rằng rốt cuộc mình vẫn chỉ có một mình trong lô; vô vàn sợi dây trong giác quan tôi có thể tiếp tục không gián đoạn như những xúc tu của một con hải quỳ, nắm bắt từng hạt nhỏ của sự hiện thực hóa hoàn hảo nhất kiệt tác Mozart rồi đồng hóa nó vào hữu thể tôi! Chỉ một lời thốt ra thôi - và nhiều phần chắc là một lời ngu xuẩn - cũng đủ xé tôi ra, theo cách đau đớn nhất, khỏi khoảnh khắc huy hoàng của cơn ngây ngất vừa thơ vừa nhạc này! Bởi vậy tôi quyết định không để ý đến hàng xóm của mình, chìm hẳn vào buổi diễn và phớt lờ mọi lời nói, mọi ánh nhìn ngoại lai. Qua khóe mắt, tôi có thể thấy người hàng xóm ấy, cằm tựa vào tay, cũng đang quay lưng lại phía tôi. Phần còn lại của buổi diễn tỏ ra hoàn toàn xứng với khởi đầu tuyệt diệu. Zerlina bé nhỏ, đầy nhục cảm và đang cơn say tình, an ủi gã Masetto ngốc nghếch dễ mến bằng những nốt nhạc và mưu mẹo duyên dáng đúng mực. Rồi, như để phô bày sự khinh miệt thứ người nhỏ bé mà các giấc mơ và toan tính yếu ớt đã bị hắn chiếm đoạt để phục vụ khoái lạc riêng mình, Don Giovanni không chút hổ thẹn tuyên bố bản tính hỗn loạn căn nguyên của tính cách hắn trong aria cuồng bạo “Fin ch’han dal vino”; suốt aria ấy, sự co giật của cơ trán hắn hiện ra dữ dội hơn bất cứ lúc nào trước đó. Những kẻ hóa trang bước vào. Tam ca họ là lời cầu nguyện tỏa lên trời trong những chùm âm thanh rực sáng. Rồi màn giữa kéo lên. Người ta đang chơi hết mình; ly tách va vào nhau lanh canh, nông dân lẫn vào đủ loại nhân vật đeo mặt nạ thành một đám vui tươi hỗn độn, tất cả những người có mặt đều bị lời mời dự tiệc của Don dụ tới. Đã đến lúc ba kẻ đồng mưu quyết định tìm cách báo thù. Không khí mỗi lúc một tưng bừng, kéo dài cho đến tận lúc bắt đầu điệu nhảy. Zerlina được cứu; và trong finale hùng mạnh, vang rền, Don Giovanni, kiếm tuốt trần, ngang nhiên đối mặt với các đối thủ của hắn. Hắn đánh văng thanh kiếm lễ bằng thép của chàng rể khỏi tay anh ta rồi xông xuyên qua đám tiện dân thô lỗ, làm chúng rối loạn như chàng Roland dũng mãnh từng làm với đạo quân của nữ bạo chúa Cymork, khiến chúng ngã dúi dụi vào nhau, đè cả lên nhau theo một cách hết sức khôi hài, và nhờ thế trốn thoát khỏi ngôi nhà.
Không ít lần tôi tự hỏi có phải mình vừa cảm thấy một làn gió nhẹ thoảng tới từ phía sau, hoặc vừa nghe thấy tiếng sột soạt của một chiếc áo lụa - cả hai đều cho phép tôi đoán rằng một thành viên của Nữ giới đang ở rất gần mình, nhưng vì đang chìm trong thì giới được vở opera hé mở, tôi chẳng mấy bận tâm đến suy luận đó. Màn vừa hạ xuống, tôi quay lại nhìn người bạn cùng lô. Không lời nào có thể diễn tả nỗi kinh ngạc của tôi: Donna Anna, vẫn vận nguyên phục trang từ đầu đến chân, đúng như tôi vừa thấy nàng trên sân khấu, đang đứng sau lưng tôi và nhìn thẳng vào tôi bằng đôi mắt sắc xuyên thấu, đầy linh hồn của nàng. Tôi cảm thấy cần phải nói điều gì đó với nàng, nhưng vì quá kinh ngạc - không, vì kinh hãi - lưỡi tôi không sao cử động được. Sau cùng, rất lâu sau, gần như ngoài ý muốn, những lời ấy mới bật ra khỏi miệng tôi: “Làm sao tôi có thể gặp cô ở đây?”; liền đó nàng đáp ngay, bằng giọng Tuscan hoàn hảo, rằng nếu tôi không nói được tiếng Ý thì nàng đành phải từ bỏ niềm vui được trò chuyện cùng tôi, bởi về phần mình, nàng không nói được thứ tiếng nào khác. Những lời ngọt ngào nghe như tiếng hát. Giọng nói nàng làm đôi mắt xanh thẫm thêm biểu cảm; từ mỗi con mắt phóng ra một dòng chớp nhắm thẳng trái tim tôi, khiến từng sợi trong đó đập lên riêng rẽ, trong khi mạch tôi mỗi lúc một nhanh và mạnh. Đây, không nghi ngờ gì nữa, chính là Donna Anna. Tôi không hề nghĩ đến việc tự hỏi làm sao nàng có thể vừa ở trong lô của tôi, vừa có mặt trên sân khấu cùng một lúc. Bởi cũng theo nguyên tắc nhờ đó một giấc mơ hạnh phúc tổng hợp những tổ hợp kỳ lạ nhất của các hình ảnh rời rạc, và nhờ đó một đức tin đơn sơ, ngoan đạo lĩnh hội được các hiện tượng siêu cảm tri rồi không chút khó nhọc nối chúng với những biến cố được gọi là tự nhiên của đời sống, tôi rơi vào một kiểu xuất thần mộng du trước người phụ nữ kỳ diệu, trong cơn xuất thần ấy tôi nhận ra những mối liên hệ bí ẩn đã buộc tôi vào nàng mật thiết đến mức nàng cũng không thể rời bỏ tôi trong khi xuất hiện trên sân khấu. Tôi mừng biết bao vì có thể ghi lại ở đây cho anh, Theodor yêu quý, từng lời trong cuộc chuyện kỳ lạ giữa Signora và tôi; chỉ tiếc rằng những gì nàng nói không thể nào dịch sang tiếng Đức, rằng so với những điều nàng đã thốt ra nhẹ nhõm và duyên dáng đến thế bằng tiếng Tuscan, mỗi từ tiếng Đức đối với tôi đều có vẻ cứng đờ và tẻ nhạt, phát âm của nó sao mà lê thê nặng nề.
Khi nàng nói về Don Giovanni và về vai diễn của mình, những tầng sâu của kiệt tác ấy lần đầu tiên mở ra trước mắt tôi, lần đầu tiên tôi thấy chúng rõ ràng và nhận cho rành rẽ địa hình của xứ sở xa lạ ẩn giấu trong đó. Nàng nói rằng toàn bộ đời nàng là âm nhạc, và nàng thường tin rằng trong những tầng sâu linh hồn mình có nhiều điều bí ẩn, không thể diễn đạt bằng lời nhưng lại có thể trở nên hiểu được đối với giọng hát.
“Đúng thế, khi ấy tôi mới hiểu nó trọn vẹn,” nàng kêu lên, đôi mắt bừng cháy, giọng cao vút, “nhưng trong tôi nó vẫn chết và lạnh, và những bàn tay băng giá đang siết lấy trái tim nồng nhiệt của tôi, trong lúc đám đông vỗ tay tán thưởng những đoạn láy phức tạp và những nốt hoa mỹ ngân rất khéo của tôi. Nhưng anh - anh hiểu tôi, bởi tôi biết anh cũng nhận ra cõi kỳ diệu ấy, nơi cư trú của những phép màu âm thanh.”
“Nhưng vì sao cô - một phụ nữ tuyệt diễm như cô - lại biết tôi rõ đến thế?”
“Chẳng phải cơn điên tình gần như siêu nhiên của nhân vật *** trong vở opera mới nhất của anh đã tuôn ra trực tiếp từ linh hồn anh đó sao? Tôi hiểu anh, bởi trái tim anh đã trút mình cho tôi trong tiếng hát! Đúng thế, ******,” nàng gọi tôi bằng tên thánh của tôi, “tôi đã hát anh; và cũng như thế, các giai điệu của anh chính là tôi.”
Tiếng chuông báo hiệu giờ giải lao đã hết: tức thì mọi sắc màu rút sạch khỏi khuôn mặt không điểm phấn của Donna Anna; nàng khởi bước, một tay đặt lên tim, như đang lên cơn đau quặn, thì thầm: “Anna tội nghiệp, khoảnh khắc khủng khiếp nhất của ngươi đã đến!” rồi nàng biến mất khỏi lô.
Dẫu tôi đã bị hồi đầu mê hoặc, âm nhạc của hồi hai, dưới ánh sáng của biến cố kỳ diệu vừa xảy ra, lại gây nơi tôi một ấn tượng hoàn toàn khác và còn kỳ lạ hơn nhiều. Như thể sự hoàn tất đã được hứa hẹn từ lâu của những giấc mơ đẹp nhất tôi từng mơ về một thế giới mai sau đang được thực hiện ngay trong đời này; như thể những linh cảm không thể nói thành lời của linh hồn mê đắm nơi tôi đã bị buộc chặt không thể gỡ vào những nốt nhạc sống động, không thể không tự biểu hiện trong những hình thức kỳ lạ nhất, huyễn tưởng nhất - nhưng chính vì thế cũng hữu hình nhất. Trong cảnh của Donna Anna, tôi cảm thấy mình run rẩy vì hạnh phúc trước làn gió ấm áp, dịu dàng lúc ấy đang thoảng qua người tôi; tôi bất giác nhắm mắt lại, và một nụ hôn cuồng nhiệt dường như thiêu đốt môi tôi: nụ hôn ấy như một nốt nhạc duy nhất, được ngân giữ đến vô hạn, nỗi khao khát đời đời không được thỏa mãn.
Finale bắt đầu trong cơn phấn khích phạm thánh: “Già la mensa è preparata!” Don Giovanni ngồi bên bàn giữa hai cô gái, vuốt ve họ và mở hết chai này đến chai khác, như để giải phóng những tinh linh sủi bọt bị giam kín bên trong. Cảnh được đặt trong một căn phòng không lớn lắm, phía sau là một khung cửa sổ Gothic lớn mở ra màn đêm đen kịt. Ngay từ lúc Elvira còn đang trách cứ kẻ từng hứa hôn với mình, nhắc hắn nhớ đến những lời thề phá bỏ, người ta đã thường xuyên thấy những tia chớp lóe qua cửa sổ và tiếng sấm ầm ì. Sau cùng là tiếng gõ cửa dữ dội. Elvira và các cô hầu chạy trốn khỏi phòng, rồi, trong hợp âm khủng khiếp báo hiệu địa ngục bên dưới, pho tượng cẩm thạch khổng lồ đầy quyền uy sải bước tiến vào, trước nó Don Giovanni chỉ như một tên lùn nhỏ bé. Mặt đất rung chuyển dưới những bước chân sấm dậy của gã khổng lồ. Xuyên qua giông bão, xuyên qua tiếng sấm, xuyên qua những gào khóc của lũ quỷ, Don Giovanni thét lên tiếng “Không!” rùng rợn; khoảnh khắc sụp đổ của hắn đã tới. Pho tượng biến mất; phòng bốc đầy những đám khói dày kết thành những hình thù ma mãnh và âm hồn ghê rợn. Chốc chốc, giữa đám quỷ hoặc bên dưới chúng, người ta lại thoáng thấy Don Giovanni đang quằn quại trong đau đớn tột độ, bị vây hãm bởi mọi cực hình của địa ngục. Một tiếng nổ như tia chớp nghìn nhánh: Don Giovanni và lũ quỷ bỗng biến mất, bằng cách nào thì chẳng ai hay! Leporello nằm bất tỉnh ở mép phòng. Sau cơn kinh hãi ấy, sự xuất hiện của các nhân vật còn lại khiến khán giả như được hoàn hồn: họ vô vọng đi tìm Don, kẻ mà các quyền lực dưới lòng đất đã đưa ra khỏi tầm với của công lý trên trần thế. Người ta cảm giác như mình vừa thoát khỏi quỹ đạo khủng khiếp của các thần linh địa ngục. Donna Anna dường đã thay đổi hoàn toàn: khuôn mặt nàng phủ một vẻ tái nhợt chết chóc; mọi dấu vết lửa trong mắt nàng đã tắt ngấm; giọng nàng run rẩy, cao độ bất định, nhưng chính vì thế càng xé lòng hơn trong khúc duet ngắn với vị hôn phu - kẻ mà giờ đây, khi trời cao đã tiện tay miễn cho nhiệm vụ kẻ báo thù, lại quá sốt sắng hoàn tất lễ cưới.
Đoạn ensemble fugato đã đưa tác phẩm tới một kết luận thống nhất và thỏa đáng, tôi trở về phòng trong một niềm phấn khích cao vời. Người hầu bàn ghé qua gọi tôi xuống ăn tối, và tôi máy móc theo hắn vào phòng ăn. Nhìn chung, khách đều sang trọng; và đề tài chính trong cuộc chuyện là buổi diễn Don Giovanni hôm nay. Cách phát âm tiếng Ý của dàn diễn viên cũng như sự phối hợp ăn ý giữa họ trên sân khấu được khen ngợi nhiệt thành, thế nhưng qua vài nhận xét bâng quơ, thỉnh thoảng được đùa cợt chen vào, người ta có thể thấy rõ rằng không ai ở đó có chút linh cảm nào về ý nghĩa sâu xa của vở opera này - hay, thật ra, của bất cứ vở opera nào khác. Don Ottavio đã làm khá tốt. Donna Anna, có người lên giọng nhận xét, thì hơi quá nồng nhiệt. Trên sân khấu người ta phải biết tiết chế đôi chút và tránh những bộc phát cảm xúc không thích đáng. Cảnh cưỡng hiếp được dàn dựng theo cái lối khiến ông ta bối rối quá. Tới đây ông ta nhón một nhúm thuốc hít và trao đổi với người ngồi cạnh một ánh nhìn ngu không lời nào tả xiết; người này thì cho rằng quý cô Ý kia, tuy quả là một phụ nữ đẹp, đã chưa đủ chăm chút về trang điểm và phục trang; cảnh nào côta cũng để một lọn tóc xổ ra che mất nửa khuôn mặt trước mắt khán giả! Kế đó có người bắt đầu khe khẽ ngâm nga “Fin ch’han dal vino,” khiến một quý bà nhận xét rằng Don Giovanni lại là người làm bà ít hài lòng nhất: quý ông Ý ấy u ám quá, nghiêm trang quá, và nhìn chung đã không nắm được cái vui vẻ và phù phiếm cốt yếu của nhân vật. Tiếng nổ cuối vở được tán thưởng hết lời. Quá chán thứ luận bàn nhảm nhí ấy, tôi vội quay về phòng.
Trong lô số 23: Lô dành cho khách
Tôi đã thấy ngột ngạt, tù túng biết bao trong bầu khí oi bức của căn phòng ấy! Khoảng nửa đêm, Theodor yêu quý, tôi tưởng như nghe thấy giọng anh! Dường như từ phía cánh cửa bí mật, bằng một giọng thì thầm, anh đã gọi tên tôi. Điều gì ngăn tôi trở lại nơi vừa xảy ra cuộc phiêu lưu kỳ diệu? Biết đâu tôi sẽ thấy anh cùng nàng, người đang thấm vào toàn bộ hữu thể tôi! Mang theo chiếc bàn nhỏ, hai cây nến, bút và mực - có gì là khó! Người hầu bàn bước vào để đem bát punch tôi đã gọi; hắn thấy căn phòng trống không, cánh cửa bí mật hé mở: hắn theo tôi tới lô và nhìn tôi ngờ vực. Theo hiệu của tôi, hắn đặt bát punch lên bàn rồi rút lui, câu hỏi vẫn còn nằm trên đầu lưỡi, lại ngoái nhìn tôi thêm lần nữa, nhìn xéo, trên đường trở ra. Quay lưng lại với hắn, tôi cúi người qua mép lô và nhìn xuống nhà hát vắng tanh, nơi kiến trúc, được hai cây nến của tôi soi sáng và phản chiếu theo lối ma thuật, hiện thành những đường kỳ lạ như một tòa nhà trong cổ tích. Tấm màn khẽ động vì một luồng gió lùa qua nhà hát. Nếu nó kéo lên thì sao? Nếu Donna Anna, bị ám bởi nỗi kinh hoàng trước những bóng ma ghê rợn, xuất hiện thì sao? Bất giác, tôi kêu lên: “Donna Anna!” - tiếng kêu tắt lịm trong những hốc sâu của căn phòng trống, nhưng các linh hồn của nhạc cụ trong dàn nhạc bỗng sống dậy - một rung động kỳ diệu thấm dần lên, như thể đồng cảm thốt ra cái tên yêu dấu! Tôi không sao chống lại đợt sóng đang lén lút xâm chiếm mình, nhưng nó chạy qua gân cốt tôi mà không gây chút tổn hại nào.
Tôi dần dần làm chủ được trạng thái tinh thần của mình và cảm thấy cuối cùng cũng có thể, ít nhất là phác họa cho anh thấy, Theodor yêu quý, vì sao tôi tin rằng lần đầu tiên mình đã thực sự nắm bắt được đặc tính sâu xa nhất, cốt yếu nhất nơi kiệt tác bất hủ ấy của bậc thiên tài. Chỉ thi sĩ mới hiểu thi sĩ; chỉ một tâm hồn lãng mạn mới có thể bước vào những huyền nhiệm lãng mạn; chỉ một tinh thần đã được thi tính nâng lên, đã được khai tâm vào tận nội điện của ngôi đền, mới hiểu được điều mà một kẻ đồng khai tâm bị thôi thúc phải cất lời. Giảng giải bài thơ này (tức phần libretto (lời kịch hát) của Don Giovanni) mà không quy cho nó một ý nghĩa sâu xa nào, chỉ thừa nhận ở nó cái công hời hợt là dựng nên một câu chuyện hấp dẫn, thì tất yếu sẽ dẫn đến câu hỏi: làm sao Mozart lại có thể tạo ra âm nhạc siêu việt từ một đề tài tầm thường như vậy? Một tay hưởng lạc (bon vivant), mê rượu và mê đàn bà cực độ, mời một pho tượng đá - hình ảnh của ông già mà hắn đã giết trong lúc tự vệ - đến dự tiệc, quả thật trong đó chẳng có gì đặc biệt nên thơ và nói trắng ra, hạng người ấy hầu như cũng chẳng đáng được dành cho một chỗ trong “bảo tàng những kẻ bất xứng” dưới địa ngục. Còn việc pho tượng, được một linh hồn hiển thánh làm cho sống dậy, lại chịu khó bước xuống khỏi bệ ngựa chỉ để khuyên tội nhân bé nhỏ ấy ăn năn, và Quỷ vương còn sai những thuộc hạ thân tín nhất đến áp giải hắn về vương quốc của mình bằng một cỗ xe ghê rợn nhất có thể hình dung; hãy nhớ lấy lời tôi, Theodor: Tự nhiên đã ban cho Don, đứa con được nuông chiều nhất của mình, mọi phẩm chất có thể nâng con người, trong khoảnh khắc gần với thần nhất, vượt lên trên đám đông phàm tục, vượt lên trên những hình nhân sản xuất hàng loạt vô hồn vốn chỉ là những con số vô nghĩa trong mắt bà (bởi, nếu con người còn có ý nghĩa gì trong mắt Tự nhiên, thì đó là như một cá thể duy nhất, entity sui generis, được nặn ra từ vật chất nguyên sơ); nhưng bà làm vậy chỉ với một mục đích: thống trị và đánh bại hắn. Một thân thể cường tráng, đẹp rực rỡ, một dung mạo tỏa ra những dấu hiệu của cõi cao vời, những dấu hiệu luôn tìm được đường đi thẳng vào trái tim kẻ khác; một tâm hồn giàu cảm xúc; một trí tuệ sắc bén và thấu suốt. Nhưng đây chính là hậu quả khủng khiếp của Sa Ngã: Quỷ vẫn giữ được quyền phục kích con người, giăng bẫy ngay trong những khát vọng mà con người, trong khi nỗ lực hoàn thiện chính mình, biểu hiện bản tính thần của mình. Chính xung đột giữa sức mạnh thần thánh và sức mạnh quỷ dữ đã làm sinh ra ý niệm về đời sống trần thế; cũng như chiến thắng cuối cùng của đạo quân vây hãm làm sinh ra ý niệm về sự tồn tại dưới lòng địa ngục. Don đòi quyền được sống; chính đòi hỏi ấy làm bừng dậy và vận hành toàn bộ cơ cấu tinh thần lẫn thể xác của hắn, khiến cơn khát vọng không bao giờ nguôi chảy rần rật trong huyết quản, thúc ép hắn chộp lấy mọi hiện tượng thế gian đi ngang đời mình, vô vọng tìm kiếm nơi chúng sự yên nghỉ cuối cùng). Quả thật, trên đời này không có gì nâng con người lên tới đỉnh cao của tính người cho bằng tình yêu - thứ quyền năng thần bí khiến những yếu tố căn bản nhất của bản thể vừa bị hủy diệt, vừa được biến hóa. Vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Don Giovanni hy vọng dập tắt ngọn lửa đang xé nát lồng ngực mình bằng tình yêu; cũng chẳng có gì lạ khi chính từ tình yêu mà Quỷ dệt nên chiếc thòng lọng siết quanh cổ hắn. Nhờ những mưu kế xảo quyệt của Quỷ vương, Don Giovanni đi đến tin rằng chính nhờ tình yêu, chính nhờ những phiêu lưu ái tình, hắn sẽ đạt tới sự viên mãn vốn chỉ tồn tại trong tim ta như lời hứa về ơn cứu rỗi nước trời - nỗi khát khao vô hạn, không bao giờ thỏa ấy là liên hệ trực tiếp nhất giữa chúng ta với cõi tinh thần. Không ngừng trốn khỏi vòng tay phụ nữ này để lao vào vòng tay của một phụ nữ đẹp hơn; cuống cuồng tận hưởng nhan sắc họ cho đến khi no nê, cho đến khi mê loạn; luôn luôn tin rằng sai lầm chỉ nằm ở đối tượng mình đã chọn; luôn hy vọng cuối cùng sẽ tìm thấy lý tưởng của sự mãn nguyện - Giovanni rốt cuộc phải nhận ra rằng mọi sự trên đời đều là “mệt mỏi, nhạt nhẽo, vô vị và vô ích.” Đồng thời, hắn ngày càng khinh miệt nhân loại và nổi loạn chống lại những biểu hiện của nó trong thế giới hiện tượng - chính những biểu hiện mà trước đây hắn từng tôn thờ hơn tất cả, để rồi phải thất vọng đắng cay. Mỗi cuộc chinh phục đàn bà không chỉ là sự thỏa mãn nhục dục mà còn là một cái tát báng bổ giáng vào mặt Đấng Sáng Tạo và Mẹ Tự nhiên. Những hành vi phóng túng ấy được thúc đẩy bởi sự khinh bỉ sâu sắc đối với thế giới quan của lẽ thường - thứ mà hắn thấy mình vượt lên trên vô hạn - và bởi sự khinh miệt cay độc đối với nhân loại, đối với cái hội đoàn trưởng giả của hôn nhân hạnh phúc, những cuộc hôn nhân ít nhất vẫn còn lưu giữ một linh cảm khiêm nhường về những khát vọng cao hơn mà Tự nhiên đã ác ý gieo vào lòng người. Chính chống lại toàn bộ trật tự ấy mà hắn nổi loạn; và trong cuộc nổi loạn ấy, hắn dũng cảm thách thức Hữu Thể vô hình nhưng biết hết mọi sự - Đấng mà, nhìn vào thực trạng hiển nhiên của thế giới, hắn chỉ coi như một nhân vật trong màn hài kịch tàn nhẫn đến bệnh hoạn, chẳng khác gì đám hậu duệ đáng thương được sinh ra từ tâm tính u uất bẩm sinh của Người. Mỗi lần quyến rũ một cô dâu sắp cưới - mỗi lần gây nên một vết thương không bao giờ lành, không bao giờ được an ủi, hủy hoại danh dự và hạnh phúc của một người đàn bà bất hạnh - đều là, với hắn, một chiến thắng huy hoàng trước lực lượng của kẻ thù: trước Mẹ Tự nhiên và trước Đấng Sáng Tạo. Thực ra cơn khát khôn nguôi của hắn đối với mọi sự ở đời chỉ là màn dạo đầu có chủ ý cho cú lao mình cuối cùng xuống vực sâu Hades. Cuộc quyến rũ Anna, cùng toàn bộ những hệ quả kéo theo sau đó, chính là đỉnh cao nhất trong toàn bộ cuộc đời hắn.
Xét về những ân huệ Tự nhiên ban tặng, Donna Anna là đối ứng nữ giới hoàn hảo của Don Giovanni, vừa là bản sao đảo chiều vừa là đối trọng của hắn. Bởi cũng như Don Giovanni là nguyên mẫu của nam tính trong toàn bộ vẻ huy hoàng và quyền lực kỳ diệu của nó, nàng là nguyên mẫu của nữ tính thần thánh: một nữ tính mà sự thuần khiết tinh thần khiến mọi cuộc xâm nhập của quỷ dữ đều bất lực. Một khi Satan đã làm nàng sa ngã, cả địa ngục cũng không thể trì hoãn cuộc báo thù đã được trời cao an bài. Don Giovanni, vừa đùa cợt vừa khinh miệt, mời hình ảnh vô tri của ông già hắn đã đâm chết đến dự một bữa tiệc vui; còn linh hồn đã biến dung của người ấy, đau đớn cho Giovanni vì đã tận mắt chứng kiến số phận cuối cùng của kẻ bị đọa đày, không ngần ngại hiện ra trước hắn dưới hình dạng ghê rợn nhất để khuyên hắn ăn năn. Nhưng linh hồn hắn đã hư hoại, rách nát đến mức không một tia hy vọng nào về phúc lạc thiên đường còn có thể xuyên vào đó, để đánh thức nơi hắn khát vọng vươn lên một trật tự cao hơn!
Hẳn anh đã nhận ra, Theodor yêu quý, rằng tôi đã nói đến sự hủy hoại của Anna; và có lẽ lúc này, khi dòng thác ý nghĩ và hình ảnh trong tâm hồn tôi tuôn chảy quá nhanh, quá đầy, vượt khỏi lời, tôi nên giải thích với anh thật ngắn gọn cái nhìn của tôi về quan hệ tương hỗ giữa hai bản tính giao chiến ấy - tức Don Giovanni và Donna Anna - như nó được âm nhạc bộc lộ, bỏ qua lời kịch hát. Tôi đã khẳng định rằng Donna Anna là đối trọng của Don. Vậy nếu Donna Anna quả thật là người được trời cao dành sẵn để đối trọng với Don, thì lẽ ra tình yêu dành cho nàng phải giúp hắn nhận ra bản tính thần sâu kín của mình, và nhờ đó thoát khỏi nỗi tuyệt vọng của cuộc truy cầu rỗng không. Nhưng trớ trêu thay, cũng chính tình yêu ấy - dưới những mưu mô của Satan - lại biến thành công cụ hủy diệt hắn. Hắn gặp nàng quá muộn, vào thời kỳ phóng túng quá quắt nhất, khi hắn đã thấm đầy những dục vọng quỷ dữ chỉ có thể làm nàng băng hoại. Nàng đã không được cứu! Khi hắn chạy khỏi hiện trường, sự hủy hoại của nàng đã xong. Bản thể sâu kín nhất của nàng bị áp đảo bởi ngọn lửa của nhục cảm siêu phàm, bởi cơn cháy bừng địa ngục, mọi nỗ lực kháng cự của nàng đều trở nên vô ích. Chỉ hắn, Don Giovanni, mới có thể đánh thức trong nàng cơn cuồng loạn xác thịt mà rồi chính nàng trút ngược lên hắn, và nhờ đó truyền vào linh hồn hắn thứ tinh thần phạm giới hủy diệt, được địa ngục khơi nguồn. Ngay sau khi hành vi ấy hoàn tất, khi hắn chỉ còn nghĩ đến việc trốn chạy, nàng đột nhiên bị giày vò bởi nhận thức rằng mình đã bị hủy hoại; nhận thức ấy giữ chặt nàng trong vòng tay của nó như một con quái vật độc địa phun ra cái chết. Ý nghĩ về cái chết của cha nàng dưới tay Don Giovanni; ý nghĩ về cuộc đính hôn với Don Ottavio, kẻ tầm thường lạnh lẽo, yếu ớt, mà xưa kia nàng từng tưởng mình yêu; rồi chính ngọn lửa tình yêu thấm khắp linh hồn, thiêu rụi tất cả, ngọn lửa đã bùng lên vào khoảnh khắc khoái lạc sắc nhọn nhất của nàng và giờ đây âm ỉ cháy bằng niềm căm hận cũng tàn phá không kém - tất cả những điều ấy xé rách trái tim nàng. Nàng cảm thấy rằng chỉ sự sụp đổ của Don Giovanni mới có thể đem lại bình yên cho linh hồn bất an, bị giày vò đến chết của mình; nhưng sự bình yên ấy cũng chính là sự sụp đổ trần thế của nàng. Từ đó trở đi, nàng không ngừng thúc giục vị hôn phu lạnh lẽo của mình trả thù cho nàng; chính nàng cũng lần theo dấu chân kẻ đã cưỡng đoạt mình, và chỉ khi những quyền lực địa ngục đã kéo hắn xuống Hades, nàng mới bắt đầu thấy lắng lại đôi chút - vậy mà nàng vẫn không thể chiều theo ham muốn hôn nhân của hôn phu: “lascia, o caro, un anno ancora allo sfogo del mio cor!” Nàng sẽ không sống qua năm ấy; Don Ottavio sẽ không bao giờ biết đến vòng tay của người đàn bà mà linh hồn mộ đạo không cho phép nàng còn ở lại lâu trong thân phận hôn thê của Satan.
Tôi đã cảm thấy tất cả những điều ấy sống động biết bao, trong lõi sâu nhất của linh hồn mình, qua những hợp âm xé lòng đi kèm đoạn recitative đầu tiên và cảnh cuộc xâm phạm trong đêm! Tiếng kêu của Donna Anna ở hồi hai - “Crudele!” - bề ngoài chỉ nhắm riêng Don Ottavio, nhưng trong những âm vang huyền nhiệm lại diễn tả tuyệt vời sự kiệt quệ hoàn toàn của hạnh phúc trần thế. Và còn cả những lời kỳ lạ mà nhà thơ đã thản nhiên - có lẽ vô thức - gắn thêm vào: “forse un giorno il cielo ancora sentirà pietà di me!”; ta phải hiểu thế nào về…
Đồng hồ vừa điểm hai giờ! Từ bên dưới, một làn gió ấm tích điện lướt qua người tôi; trong đó tôi nhận ra thoang thoảng mùi hương Ý tao nhã mà tối qua, chính từ nó, tôi đã lần đầu đoán biết sự hiện diện của người hàng xóm xinh đẹp; cả con người tôi được bao bọc trong nỗi ngây ngất mà tôi ngờ rằng chỉ âm nhạc mới diễn đạt nổi. Một cơn gió dữ đang quét dọc hành lang - dưới phòng khách, những dây đàn piano đang rung lên - Lạy Chúa! Từ một nơi rất xa, tôi ngỡ mình nghe thấy tiếng Donna Anna cất lên, được nâng bổng trên đôi cánh giai điệu đang mỗi lúc một dâng cao của dàn nhạc mỏng manh như tơ nhện: “Non mi dir, bell’idol mio!” Hỡi cõi tinh thần, hãy mở lòng với ta! Hỡi Jinistan xa xăm, chưa từng được ai đặt chân tới, rực rỡ vô song, nơi chan chứa nỗi u sầu thiên giới không thể gọi tên, tương ứng với niềm hoan lạc khôn tả của linh hồn trong cơn xuất thần, vượt lên trên mọi lời hứa về hạnh phúc trần thế vốn chỉ được ban phát cho đám đông phàm tục! Hãy cho ta được bước vào vòng tròn những thị kiến mê hoặc của ngươi! Cầu sao, khi thân xác ta đã bị xiềng chặt trong những gông cùm nặng như chì của giấc ngủ, sẽ có một giấc mơ - thay vì bị ngươi khuấy thành ác mộng - sẽ chọn linh hồn ta làm sứ giả thân thiện của những kẻ còn bị cầm giữ nơi mặt đất, và dẫn nó tới những cánh đồng thanh khí của ngươi!
Tái bút: Một cuộc trò chuyện trong phòng ăn vào giờ trưa
GÃ KHÔN NGOAN CÓ HỘP THUỐC HÍT (đập nắp hộp lại): Dĩ nhiên, đáng tiếc là chẳng mấy nữa chúng ta sẽ không còn được nghe một vở opera tử tế nào. Nhưng đó là hậu quả của việc buông mình vào thứ diễn xuất kinh hãi như thế!
MẶT MULATTO: Đúng thế, đúng thế! Mà tôi đã nói với cô ta không biết bao nhiêu lần rồi! Hôm qua cô ta có vẻ bị vai Donna Anna làm cho kích động khác thường, như thể bị nó ám. Người ta kể rằng suốt giờ nghỉ cô ta nằm lịm như chết, và trong hồi hai đã hơn một lần lên cơn thần kinh…
KẺ VÔ DANH: Không!
MẶT MULATTO: Có, lên cơn thần kinh đấy! Sau đó họ gần như không thể kéo cô ta ra khỏi sân khấu.
TÔI: Lạy trời! Hy vọng những cơn thần kinh ấy không báo hiệu điều gì nghiêm trọng, và chẳng bao lâu nữa chúng ta lại được nghe Signora?
GÃ KHÔN NGOAN CÓ HỘP THUỐC HÍT (hít một nhúm thuốc): Khó lắm, vì Signora đã chết đúng lúc đồng hồ điểm hai giờ sáng nay rồi.
