favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Hạ 2026
Next

Walter Benjamin đọc Goethe (Phần 1)

24/06/2026 01:30

Walter Benjamin viết nhiều về Goethe - khối lượng văn bản có lẽ chỉ thua những gì Benjamin viết về Baudelaire. Giống như khi nhìn vào Baudelaire - người phát minh ra chủ nghĩa anh hùng của hiện đại tính ở buổi suy đồi, Benjamin đặc biệt chú ý đến những khía cạnh mâu thuẫn trong con người Goethe: là triều thần đỉnh cao của Weimar nhưng lại mang cái nhìn hư vô sâu xa đối với nhà nước; là bậc thầy của tự chủ và tiết chế, nhưng đồng thời cực kỳ mẫn cảm, mong manh về thể chất và thần kinh; là người tuyên ngôn mạnh mẽ nhất cho Sturm und Drang, rồi lại dùng toàn bộ quyền lực của mình chống chính những năng lượng tàn phá sinh ra từ đóỞ trung tâm chân dung ấy là logic của Fuge/ chạy trốn. Goethe chạy trốn những đòi hỏi của tuổi trẻ vào triều đình Weimar, chạy trốn Weimar sang Ý, chạy trốn cách mạng vào văn chương, chạy trốn văn chương vào khoa học: mỗi lần chạy trốn là một lần mở rộng đế chế. Nguyên tắc từ bỏ xuyên suốt cuộc đời Goethe - mà với Benjamin, trước hết nghĩa là từ bỏ chủ nghĩa anh hùng - là nền móng cho một chủ quyền hùng mạnh không bao giờ còn có thể, sau này. Ở Goethe, Benjamin nhìn thấy độ rộng và độ cao mà chủ nghĩa nhân văn Đức có thể đạt tới, cũng như những mâu thuẫn nền tảng và mầm mống suy sụp của nó.

 

Goethe: người bourgeois miễn cưỡng (1928)

- Walter Benjamin

Khi Johann Wolfgang Goethe chào đời ngày 18 tháng 8 năm 1749 tại Frankfurt am Main, thành phố này có 30.000 cư dân. Berlin, thành phố lớn nhất nước Đức lúc bấy giờ, có 126.000 dân, trong khi cả Paris lẫn London đều đã vượt quá 500.000 dân. Những con số ấy là chỉ dấu quan trọng về tình hình chính trị ở Đức, bởi khắp châu Âu, cách mạng bourgeois luôn phụ thuộc vào các đô thị lớn. Mặt khác, một sự thật đáng chú ý về Goethe là suốt đời mình, ông chưa bao giờ mất mối ác cảm mạnh mẽ đối với đời sống ở các thành phố lớn. Ông chưa từng đến Berlin, và về sau trong đời, ông chỉ miễn cưỡng trở lại quê hương Frankfurt hai lần; phần lớn cuộc đời ông sống tại một thị trấn nhỏ của vương hầu, chỉ có 6.000 cư dân. Những thành phố duy nhất mà ông từng thực sự quen thuộc là các trung tâm của Ý: Rome và Naples. Goethe là đại diện văn hóa và lúc đầu cũng là người phát ngôn chính trị của một bourgeoisie mới - một tầng lớp mà sự trỗi dậy từng bước có thể thấy rõ trong chính gia phả của ông. Các tổ tiên nam giới của ông đã vươn lên từ tầng lớp thợ thủ công, rồi kết hôn với những phụ nữ xuất thân từ các gia đình học thức, hoặc nói chung là thuộc vị trí cao hơn họ trên thang bậc xã hội. Về phía cha, cụ cố của ông là thợ đóng móng ngựa; ông nội ban đầu là thợ may, sau thành chủ quán trọ; còn cha ông, Johann Caspar Goethe, khởi đầu chỉ là một luật sư bình thường. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã đạt được tước hiệu Cố vấn Đế quốc; và khi cưới được Katharina Elisabeth Textor, con gái của Thị trưởng, ông đã xác lập dứt khoát vị trí của mình trong hàng ngũ các gia đình nắm quyền của thành phố.

Tuổi trẻ mà Goethe trải qua trong một gia đình quý tộc thị dân tại một thành phố đế quốc tự do đã phát triển và củng cố nơi ông một nét tính cách thường thấy ở vùng Rhein-Franken: sự dè dặt trước mọi cam kết chính trị, tương ứng với nó là một cảm tri rất nhạy bén về những gì thích đáng và có lợi cho cá nhân. Gia đình ông - Goethe chỉ có một người em gái, Cornelia - sớm cho phép ông tập trung vào chính mình. Dẫu vậy, những thái độ chi phối trong gia đình vẫn ngăn ông nghĩ đến một sự nghiệp nghệ thuật. Cha ông buộc ông phải học luật. Với mục đích ấy, năm mười sáu tuổi, ông trước hết vào Đại học Leipzig, rồi đến mùa hè năm 1770 thì tới Strasbourg. Khi đó ông hai mốt tuổi.

 

I. Thời kỳ Sturm und Drang

Chính tại Strasbourg mà lần đầu tiên ta có được một hình dung rõ ràng về môi trường văn hóa đã nuôi dưỡng thơ thời kỳ đầu của Goethe. Goethe và Klinger đến từ Frankfurt, Bürger và Leisewitz từ miền Trung nước Đức, Voss và Claudius từ Holstein, Lenz từ Livonia. Goethe thuộc tầng lớp quý tộc thị dân; Claudius là một burgher. Có những người là con của thầy giáo hoặc mục sư, như Holtei, Schubart và Lenz; những người petty bourgeoisie như Maler Müller, Klinger và Schiller; cháu nội của một nông nô như Voss; và sau cùng là các quý tộc như hai bá tước Christian và Friedrich von Stolberg. Tất cả họ làm việc cùng nhau trong nỗ lực “đổi mới” nước Đức bằng con đường ý luận. Tuy nhiên, điểm yếu chí tử của phong trào cách mạng đặc thù Đức này là nó không có khả năng hòa giải với chương trình nguyên thủy của giải phóng bourgeois: Khai sáng. Các khối quần chúng bourgeois, những người “được khai sáng”, vẫn bị ngăn cách với đội tiên phong của mình bởi một vực thẳm mênh mông. Các nhà cách mạng Đức thì không được khai sáng, còn các nhà khai sáng Đức thì không cách mạng. Tư tưởng của nhóm thứ nhất xoay quanh cách mạng, ngôn ngữ và xã hội; tư tưởng của nhóm thứ hai tập trung vào lý thuyết về lý trí và nhà nước. Về sau Goethe tiếp nhận mặt tiêu cực của cả hai phong trào: cùng với Khai sáng, ông chống lại cách mạng; cùng với Sturm und Drang, ông chống lại nhà nước. Chính trong sự phân đôi bên trong bourgeoisie Đức, ta tìm thấy lời giải thích cho thất bại của nó trong việc thiết lập tiếp xúc ý luận với phương Tây; Goethe, người về sau đã nghiên cứu Diderot và Voltaire rất kỹ, chưa bao giờ xa một sự hiểu nước Pháp hơn là khi ông ở Strasbourg. Đặc biệt có tính tiết lộ là nhận xét của ông về bản tuyên ngôn lừng danh của vật chất luận Pháp, cuốn Système de la Nature của Holbach, trong cuốn sách đó người ta có thể cảm thấy luồng gió lạnh buốt của Cách mạng Pháp. Ông thấy nó “xám xịt đến thế, Cimmerian đến thế, vô hồn đến thế”, nó làm ông giật mình như thể vừa thấy một bóng ma. Ông cho rằng nó “khó nuốt, nhạt nhẽo, tinh chất cô đặc của sự già nua”. Nó khiến ông cảm thấy rỗng hoác, bị nuốt chửng trong “bóng tối vô thần sầu muộn.”

Đó là phản ứng của một nghệ sĩ sáng tạo, nhưng đồng thời cũng là phản ứng của một patrician Frankfurt. Về sau Goethe đã cho phong trào Sturm und Drang hai tuyên ngôn mạnh mẽ nhất của nó: Götz von BerlichingenWerther. Nhưng chính Johann Gottfried Herder mới là người đã đem lại cho hai tác phẩm ấy hình thức phổ quát có thể dung hợp những yếu tố dị biệt của chúng thành một chỉnh thể ý luận duy nhất. Trong thư từ và đối thoại với Goethe, Hamann và Merck, ông đã cung cấp chương trình cho phong trào: “thiên tài nguyên thủy”; “Ngôn ngữ: sự mặc khải của tinh thần nhân dân”; “Liedern: ngôn ngữ đầu tiên của tự nhiên”; “sự thống nhất giữa lịch sử con người và lịch sử tự nhiên”. Cũng trong thời kỳ ấy, Herder bận thu thập tư liệu cho tuyển tập thơ lớn của mình, Stimmen der Völker in Liedern (Tiếng nói của các dân tộc trong ca khúc), một tập hợp thơ ca từ Lapland đến Madagascar, có ảnh hưởng hết sức sâu sắc đối với Goethe. Trong những sáng tác thơ thời kỳ đầu, Goethe cũng sử dụng dân ca như một phương tiện để làm hồi sinh thơ trữ tình, kết hợp với cuộc giải phóng lớn lao đã được các nhà thơ thuộc nhóm Göttinger Hain thực hiện. “Voss đã giải phóng tầng lớp nông dân vùng đầm lầy cho thơ. Ông đã dùng chĩa cỏ, néo đập lúa và phương ngữ Hạ Saxony - thứ phương ngữ chỉ nửa vời ngả mũ chào địa chủ - để xua đuổi những hình tượng quy ước của Rococo ra khỏi thơ.” Nhưng vì phương thức cơ bản của thơ Voss vẫn còn là miêu tả - cũng như thơ Klopstock vẫn còn được hình dung trong khuôn khổ tu từ học của thánh ca - nên phải đến những bài thơ Strasbourg của Goethe, như “Willkommen und Abschied”, “Mit einem gemalten Band”, “Mailied”, “Heidenröslein”, thơ Đức mới được giải phóng khỏi lãnh địa của miêu tả, giáo huấn và giai thoại. Tuy nhiên, sự giải phóng ấy vẫn chưa thể là gì hơn một hiện tượng mong manh, nhất thời, và rốt cuộc sẽ dẫn thơ Đức tới sự suy thoái trong suốt thế kỷ mười chín; trong khi đó, ở thơ tuổi già của mình, trong West-östlicher Divan, chính Goethe đã đưa vào những giới hạn có ý thức. Năm 1773, cùng với Herder, Goethe cho ra đời bản tuyên ngôn Von deutscher Art und Kunst, trong đó có bài nghiên cứu ca ngợi Erwin von Steinbach, người xây dựng Nhà thờ Strasbourg - sự tồn tại của tiểu luận ấy khiến chủ nghĩa cổ điển cuồng tín về sau của Goethe trở thành một nguồn kích thích thêm đối với các nhà Lãng mạn trong nỗ lực phục hồi Gothic.

Môi trường ấy cũng cung cấp khuôn mẫu sinh thành cho Götz von Berlichingen năm 1772. Bản tính phân đôi của bourgeoisie Đức được kịch hóa rất rõ trong tác phẩm này. Các thành thị và triều đình, với tư cách đại diện cho một nguyên tắc lý trí đã bị giản lược thành biểu hiện thô thiển của Realpolitik, tượng trưng cho đám đông những nhà Khai sáng thiếu trí tưởng tượng; đối lập với họ là Sturm und Drang, hiện thân nơi người thủ lĩnh của tầng lớp nông dân nổi dậy. Bối cảnh lịch sử của tác phẩm này, Chiến tranh Nông dân Đức, rất dễ tạo ấn tượng rằng Goethe có một cam kết cách mạng thật sự. Nhưng nghĩ như vậy là sai, bởi xét đến cùng, điều cuộc nổi loạn của Götz biểu đạt là những bất bình của tầng lớp lãnh chúa cũ, các hiệp sĩ đế quốc, vốn đang trên đường khuất phục trước quyền lực ngày càng lớn của các vương hầu. Götz chiến đấu và chết trước hết cho chính mình, rồi sau đó cho giai cấp của mình. Ý cốt lõi của vở kịch không phải là cách mạng mà là sự kiên trung. Những hành động của Götz phảng phất tinh thần hiệp sĩ phản động; đó là những hành động đẹp, quyến rũ của một lãnh chúa, là biểu hiện của một xung lực cá nhân, chứ không thể được nhìn dưới cùng một ánh sáng với những hành động phá hoại tàn bạo của đám cướp nông dân mà ông liên minh. Trong tác phẩm này, ta thấy trường hợp đầu tiên của một tiến trình về sau sẽ trở thành điển hình nơi Goethe: với tư cách nhà viết kịch, ông nhiều lần bị cám dỗ bởi các chủ đề cách mạng, chỉ để nhanh chóng chuyển hướng chúng hoặc bỏ mặc chúng như những mảnh đoạn. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất là Götz và Egmont; cho trường hợp thứ hai là The Natural Daughter. Sự rút lui căn bản của Goethe khỏi năng lượng cách mạng của phong trào Sturm und Drang, ngay trong vở kịch quan trọng đầu tiên của ông, hiện ra rất rõ khi so sánh với các vở kịch của người cùng thời. Năm 1774, Lenz xuất bản The Tutor or The Benefits of a Private Education, tác phẩm phơi bày không thương tiếc những ràng buộc xã hội đè nặng lên thế giới văn chương, những ràng buộc cũng có hệ quả đối với sự nghiệp của Goethe. Tầng lớp trung lưu Đức quá yếu để có thể tự mình nuôi dưỡng một đời sống văn học rộng lớn bằng các nguồn lực riêng. Vì thế, sự lệ thuộc của văn chương vào chế độ phong kiến vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả khi cảm tình của nhà văn đã chuyển sang phía tầng lớp trung lưu. Cảnh túng thiếu buộc người viết phải nhận ăn ở miễn phí, làm gia sư cho con cái quý tộc và tháp tùng các vương tử trẻ trong những chuyến du hành. Tình trạng lệ thuộc ấy đi xa đến mức đe dọa cả thu nhập văn chương của họ, bởi chỉ những tác phẩm được sắc lệnh của chính quyền nêu đích danh mới được bảo vệ khỏi các bản in lậu sản xuất trong những tiểu quốc khác nhau của Đức.

 

Những thành công của Werther

Năm 1774, sau khi Goethe được bổ nhiệm vào Tòa Phúc thẩm Tối cao Đế quốc ở Wetzlar, Die Leiden des jungen Werthers được xuất bản. Rất có thể đây là thành công lớn nhất từng được biết đến trong lịch sử văn chương. Ở đây Goethe đã hoàn thiện chân dung nhà văn như một thiên tài. Bởi nếu nhà văn lớn là người ngay từ đầu đã biến đời sống nội tâm của mình thành một vấn đề được công chúng quan tâm, đồng thời biến những vấn đề của thời đại thành mối bận tâm trực tiếp của tư tưởng và kinh nghiệm cá nhân mình, thì chính trong các tác phẩm thời kỳ đầu của Goethe, ta thấy sự hiện thực hóa trọn vẹn nhất kiểu tác giả ấy. Trong Werther, Goethe đã đem lại cho bourgeoisie thời ông một chân dung tinh tế và nịnh tai về bệnh lý của nó, theo cách có thể so sánh với chân dung mà Freud về sau cung cấp cho bourgeoisie hiện đại. Goethe đã đan câu chuyện về mối tình bất hạnh của mình với Charlotte Buff, hôn thê của một người bạn, vào câu chuyện về những phiêu lưu tình ái của một nhà văn trẻ, mà vụ tự sát đã gây chấn động đương thời.

Trong các tâm trạng của Werther, ta thấy nỗi Weltschmerz của thời đại ấy mở ra trong mọi sắc thái của nó. Werther không chỉ là người tình bất hạnh, kẻ bị nỗi bất hạnh đẩy đi tìm một niềm an ủi nơi tự nhiên mà chưa người tình nào từng tìm kiếm kể từ sau sự xuất hiện của Nouvelle Héloïse của Rousseau; chàng còn là một burgher bị tổn thương niềm kiêu hãnh, đang va đập vào những rào chắn giai cấp và đòi hỏi sự thừa nhận cho chính mình nhân danh các quyền của con người, thậm chí nhân danh các quyền phải có của bất cứ sinh thể nào. Đây là lần cuối cùng, trong một thời gian rất dài, Goethe cho phép yếu tố cách mạng trong tuổi trẻ của mình được cất tiếng. Trong một bài điểm sách sớm về một tiểu thuyết của Wieland, ông từng viết: “Những nữ thần bằng cẩm thạch, những bông hoa, bình lọ, khăn thêu sặc sỡ trên bàn của những con người lịch thiệp ấy - chúng giả định một mức độ tinh luyện cao đến thế, một sự bất bình đẳng giữa các giai cấp cao đến thế, một sự thiếu thốn đến thế ở nơi có quá nhiều khoái lạc, một sự nghèo khổ đến thế ở nơi cải lớn lao.” Tuy nhiên, trong Werther, ông đã phần nào làm mềm thái độ của mình: “Có thể nói nhiều điều để biện hộ cho các quy tắc [của kịch cổ điển], đại khái cũng chính những điều có thể nói để ca ngợi xã hội bourgeois.” Trong Werther, bourgeoisie tìm thấy vị bán thần đã hiến dâng mạng sống cho họ. Họ cảm thấy mình được cứu chuộc, nhưng không được giải phóng; từ đó có sự phản đối của Lessing, người mà ý thức giai cấp không thể bị mua chuộc. Ông thấy thiếu vắng niềm kiêu hãnh bourgeois như một đối trọng với giới quý tộc và đòi hỏi cuốn sách phải có một kết thúc cay độc.

Sau những rắc rối tuyệt vọng trong mối tình với Charlotte Buff, viễn cảnh một cuộc hôn nhân bourgeois với một cô gái Frankfurt xinh đẹp và được kính trọng hiện ra như một lối thoát đáng hoan nghênh. “Thật là một quyết định kỳ lạ của những quyền lực chi phối cuộc đời, rằng trong những khúc quanh đáng chú ý của đời mình, tôi lại phải trải qua cả kinh nghiệm về đính hôn nữa.” Nhưng cuộc đính hôn với Lili Schönemann hóa ra chẳng hơn gì một biến cố dữ dội trong cuộc chiến chống hôn nhân mà ông tiến hành suốt hơn ba mươi năm. Việc Lili Schönemann có lẽ là người phụ nữ quan trọng nhất, và chắc chắn là người phụ nữ tự do nhất, từng có quan hệ thân mật với ông, rốt cuộc chỉ càng làm tăng sức kháng cự của ông trước những nỗ lực của nàng nhằm ràng buộc ông với nàng. Năm 1775, ông trốn thoát thành công, thực hiện một chuyến đi Thụy Sĩ cùng Bá tước Stolberg. Điểm nổi bật nhất của chuyến đi là cuộc gặp của ông với Lavater. Trong các nghiên cứu tướng diện học của Lavater, một hiện tượng gây chấn động thời bấy giờ, Goethe khám phá ra phần nào sự hiểu tự nhiên của chính mình. Về sau, Goethe dần không ưa cách Lavater thấy cần phải tổng hợp việc nghiên cứu thế giới tự nhiên ấy với các niềm tin Pietist của riêng ông.

 

Triều thần Weimar

Trên đường trở về, tình cờ Goethe gặp Karl August, Thái tử và về sau là Công tước xứ Saxe-Weimar. Ít lâu sau đó, Goethe nhận lời mời của Thái tử đến triều đình của ông. Điều vốn được dự định như một chuyến thăm ngắn trở thành một cuộc lưu trú suốt đời. Goethe đến Weimar ngày 7 tháng 11 năm 1775. Cũng trong năm ấy, ông được bổ nhiệm làm Cố vấn Cơ mật, có ghế và quyền biểu quyết trong hội đồng nhà nước. Ngay từ đầu, chính Goethe đã nhìn quyết định phục vụ Karl August như một cam kết sẽ làm thay đổi hướng đi của đời mình. Hai nhân tố đã ảnh hưởng đến sự chấp thuận của ông. Trong một thời đại khi bourgeoisie Đức nuôi dưỡng những kỳ vọng chính trị ngày càng lớn, vị trí tại triều đình cho phép ông tiếp xúc gần gũi với các thực tại chính trị. Mặt khác, với tư cách một quan chức cấp cao trong bộ máy, ông được giải phóng khỏi nhu cầu thực hiện bất kỳ bước đi cấp tiến nào. Dù trong lòng đầy bất định, vị trí ấy ít nhất cũng đem lại một chỗ dựa bên ngoài cho lòng tự tin và hành động. Cái giá nặng nề mà ông phải trả là điều ông hẳn đã có thể dễ dàng biết được từ những tiếng nói chất vấn, thất vọng và phẫn nộ của bạn bè, nếu như sự tự tri tỉnh táo và không thể mua chuộc của chính ông đã không thường xuyên đặt nó trước tâm trí ông. Klopstock, và cả Wieland, cũng như Herder về sau, đều bất bình trước sự rộng rãi của Goethe trong việc chấp nhận những đòi hỏi của chức vị mình và còn bất bình hơn trước những đòi hỏi đặt lên ông bởi cá tính và lối sống của Đại Công tước. Bởi, với tư cách tác giả của GötzWerther, Goethe đại diện cho phe chống đối bourgeois. Tên tuổi ông càng có ý nghĩa hơn khi các khuynh hướng của thời đại hầu như bị chặn khỏi mọi phương tiện biểu đạt ngoài cái riêng tư và cá nhân. Trong thế kỷ mười tám, một tác giả vẫn còn là một nhà tiên tri, và các tác phẩm của anh ta là viên đá khóa vòm cho một phúc âm dường được biểu đạt hoàn hảo nhất bằng chính cuộc đời anh ta. Uy tín cá nhân vô hạn mà những tác phẩm đầu tiên đã đem lại cho Goethe - chúng được đón nhận như những mặc khải - đã bốc hơi ở Weimar. Nhưng vì người ta không muốn nghĩ về ông như bất cứ điều gì ngoài một nhân vật lớn hơn đời thường, những truyền thuyết phi lý nhất về ông bắt đầu hình thành. Người ta đồn rằng ông ngày nào cũng say bí tỉ còn Herder thì mang nguyên ủng và đinh thúc ngựa lên bục giảng đạo, giảng xong còn phi ngựa vòng quanh nhà thờ ba vòng - đó là cách người ta hình dung những trò phóng đãng hoang dại của những tháng đầu tiên ở Weimar. Tuy nhiên, hệ quả lớn hơn là tình bạn giữa Goethe và Karl August, nền tảng của nó được đặt trong thời kỳ này và về sau đem lại cho Goethe sự bảo đảm cho một chủ quyền trí tuệ và văn chương toàn diện: sự thống trị phổ quát đầu tiên thuộc loại ấy ở châu Âu kể từ Voltaire. “Về phán xét của thế gian,” Karl August, khi ấy mười chín tuổi, viết vào thời điểm đó, “vốn có thể không tán thành việc tôi đưa tiến sĩ Goethe vào hội đồng quan trọng nhất của mình khi ông chưa từng đạt địa vị thẩm phán, giáo sư, thị thần hay cố vấn nhà nước - thì chẳng điều nào trong số đó sẽ làm tôi nao núng dù chỉ mảy may.”

Nỗi đau và xung đột nội tâm của những năm đầu ở Weimar được tình yêu của Goethe dành cho Charlotte von Stein đem lại một hình dạng và nguồn nuôi dưỡng mới. Khảo sát phong cách những bức thư ông viết cho bà trong các năm từ 1776 đến 1786 cho thấy sự chuyển tiếp đều đặn từ thứ văn xuôi cách mạng thời kỳ đầu - một thứ văn xuôi “tước đoạt của ngôn ngữ các đặc quyền của nó” - sang những nhịp lớn, điềm tĩnh và tiết chế trong các bức thư ông đọc cho người khác chép gửi bà từ Ý, trong khoảng 1786 đến 1788. Về mặt nội dung, chúng là nguồn tư liệu quan trọng nhất cho hiểu biết của chúng ta về những khó khăn mà nhà thơ trẻ đã trải qua khi phải thích nghi với công việc hành chính và, trên hết, với xã hội triều đình. Về bản tính, Goethe không phải lúc nào cũng là người dễ thích nghi.

Tuy nhiên, ông muốn trở thành một người như thế, và chăm chú quan sát “những kẻ được gọi là từng trải thế gian, để xem họ làm điều đó ra sao”. Và quả thật, khó có thể hình dung trường học nào khắc nghiệt hơn quan hệ của ông với Charlotte, mối quan hệ, trong môi trường tỉnh lẻ nhỏ bé ấy, tất yếu bị phơi cả ra trước mắt người đời. Thêm vào đó là chuyện Charlotte von Stein, ngay cả trong những năm bà có sự thông giao thân mật với thế giới của Goethe, vẫn không sẵn sàng vượt qua những quy tắc lễ nghi của đời sống triều đình. Phải mất nhiều năm Charlotte mới có thể giành được một vị trí vững chắc và thuận lợi trong đời ông, để hình ảnh của bà đi vào tác phẩm của ông qua hình tượng Iphigenie và Eleonore d’Este, người yêu của Tasso. Việc Goethe có thể bén rễ ở Weimar gắn bó rất mật thiết với quan hệ của ông với Charlotte von Stein. Qua bà, ông không chỉ học được về triều đình mà còn cả thành phố và vùng thôn quê. Bên cạnh tất cả các bản ghi chính thức là một dòng liên tục những mảnh thư ít nhiều vội vã gửi Frau von Stein, trong đó Goethe hiện ra, như thói quen của ông khi yêu, trong toàn bộ phổ rộng tài năng và hoạt động của mình: họa sĩ, người làm vườn, kiến trúc sư, vân vân. Khi, trong phần tường thuật về đời Goethe năm 1779, Riemer kể rằng Goethe đã dành một tháng rưỡi đi khắp Công quốc, ban ngày thanh tra đường sá, buổi tối tham gia tuyển mộ thanh niên vào quân dịch, rồi nghỉ ở những quán trọ nhỏ và ban đêm làm việc với Iphigenie, ông đã đem lại cho ta một chân dung thu nhỏ về giai đoạn then chốt và, xét trên nhiều phương diện, đầy bắp bênh này trong đời Goethe.

Sản lượng thi ca của những năm này bao gồm những khởi đầu của Wilhelm Meister’s Theatrical Mission, Stella, Clavigo, Werther’s Letters from Switzerland, Tasso, và trên hết là phần lớn những bài thơ trữ tình mạnh mẽ nhất của ông: “Harzreise im Winter”, “An den Mond”, “Der Fischer”, “Nur wer die Sehnsucht kennt”, “Über allen Gipfeln”, “Geheimnisse”. Trong những năm này Goethe cũng đã bắt đầu Faust và thậm chí đã đặt nền tảng cho một số phần của Faust II, ít nhất trong chừng mực chính từ những kinh nghiệm của các năm đầu ở Weimar ấy mà ta tìm thấy nguồn gốc của cái nhìn hư vô của Goethe về nhà nước - cái nhìn về sau sẽ được biểu đạt thẳng thừng trong Hồi II. Năm 1781, ta thấy ông nói: “Thế giới đạo đức và chính trị của chúng ta bị đào rỗng bên dưới bởi những hành lang ngầm, hầm chứa và cống rãnh, như vẫn thường xảy ra trong một đô thị lớn khi không có ai nghĩ đến và quan tâm tới những nhu cầu của nó cũng như điều kiện sống của cư dân; chỉ có điều, với bất cứ ai đã đánh hơi được tình hình, sẽ chẳng có gì quá ngạc nhiên nếu một ngày nào đó mặt đất sụp xuống, nếu khói bốc lên ở chỗ này và những giọng nói kỳ lạ vang lên ở chỗ kia.”

Mỗi bước củng cố vị trí của Goethe ở Weimar lại làm tăng thêm khoảng cách giữa ông và những người bạn, những cộng sự thời trẻ của ông ở Strasbourg và Wetzlar. Uy quyền vô song đã theo ông đến Weimar và đã được ông vận dụng hết sức hiệu quả trong triều đình, dựa trên vai trò thủ lĩnh phong trào Sturm und Drang. Tuy nhiên, trong một thị trấn tỉnh lẻ như Weimar, phong trào ấy chỉ có thể xuất hiện trong khoảnh khắc; và vì bị ngăn không cho kết trái, nó buộc phải dừng lại ở mức một cuộc phô diễn phóng túng. Goethe thấy điều này rất rõ ngay từ đầu, và đã làm hết sức để ngăn chặn mọi nỗ lực đem lối sống Strasbourg cấy sang Weimar. Năm 1776, khi Lenz xuất hiện ở Weimar và cư xử tại triều đình theo phong cách Sturm und Drang, Goethe đã cho trục xuất ông. Đó là sự khôn khéo chính trị. Nhưng ở mức còn lớn hơn, đó là một phản ứng bản năng chống lại tính bốc đồng vô giới hạn và sự phóng túng cảm xúc trong lối sống thời trẻ của chính mình, thứ mà ông cảm thấy về lâu dài mình không thể kiềm giữ. Trong bạn bè thời ấy, ông đã chứng kiến những ví dụ quá mức nhất của hành vi bê bối, và một nhận xét của Wieland cho ta thấy phần nào những tác động tàn phá mà việc giao du với những con người như thế gây ra cho ông. Wieland viết cho một người bạn rằng ông sẽ không muốn mua lấy danh tiếng của Goethe nếu cái giá phải trả là những đau đớn thể xác của Goethe. Vì thế, trong những năm về sau, nhà thơ đã áp dụng những biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt nhất để bảo vệ sự mẫn cảm bẩm sinh của mình. Quả vậy, khi quan sát những phòng bị mà Goethe dựng lên để tránh một số khuynh hướng - chẳng hạn mọi hình thức của chủ nghĩa dân tộc và phần lớn chủ nghĩa Lãng mạn - ta buộc phải kết luận rằng ông sợ chúng có thể lây nhiễm trực tiếp. Việc ông không viết tác phẩm bi kịch nào, chính ông cũng quy cho thể trạng mong manh ấy.

(còn nữa)

Anh Hoa dịch

 
 
 
favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công