Faulkner: Về truyện ngắn “Cuộc đua lúc sáng sớm”
William Faulkner trả lời sinh viên trong một khóa học viết, tháng Hai năm 1958
Sinh viên (SV): Khi viết một câu chuyện như vậy, “Cuộc đua lúc sáng sớm”, một câu chuyện chắc chắn phải dựa trên những kinh nghiệm cụ thể ông từng có, không biết đã bao giờ ông bị mắc vào một bụi nho thân gỗ dại khi đang cưỡi ngựa hay chưa? Ông có nhìn thấy toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối trước khi bắt tay vào viết không? Ông có hình dung sẵn câu chuyện đó trong đầu không, kiểu như cái kết đã là một phần của sự khởi đầu rồi ấy?
William Faulkner (WF): Không, tôi nghĩ một câu chuyện như thế sẽ tự sinh sôi, tự mở lối khi mình viết. Câu chuyện đó bắt đầu với hình ảnh của một cậu bé bị cả cha lẫn mẹ bỏ rơi, họ là những người chẳng ra gì, và theo lẽ thường thì đứa trẻ đó lớn lên cũng sẽ chẳng ra gì. Thế nhưng người đàn ông ấy, Ông Ernest, tuy thất học nhưng vẫn có thể nhìn ra rằng: đây là một con người, và một con người thì có thể làm được mọi điều nếu hắn có cơ hội. Câu chuyện nảy sinh từ chính việc một ông già độc thân cọc cằn nhìn thấy đứa trẻ bơ vơ này và chợt nghĩ: “Thằng bé này quá giá trị không thể bị bỏ mặc trong rừng.” Và truyện ngắn này chỉ đơn giản là việc xây dựng các tình huống để làm nổi bật mối quan hệ giữa hai con người đó - việc một ông già bỗng nhiên nhìn thấy trách nhiệm của mình và quyết tâm thực hiện nó. Ông ấy có thể không biết chữ - bản thân ông có lẽ chưa từng đến trường - nhưng ông nhận ra rằng có thể mài giũa, nhào nặn được điều gì đó từ đứa trẻ bơ vơ này, chỉ đơn giản vì đứa trẻ ấy là một con người.
SV: Thưa ông, nói cách khác, cuộc đi săn, cách Ông Ernest đưa cậu bé đi cùng, mà chúng ta thấy có phải tượng trưng cho việc ông ấy đón nhận cậu bé vào thế giới của mình và đưa cậu theo trong mọi việc, cũng như cách ông đưa cậu vào cuộc đời mình có phải không?
WF: Đúng vậy, và cả sự phụ thuộc lẫn nhau nữa. Người đàn ông đó bị điếc, ông ấy không thể nghe thấy bầy chó săn đang chạy theo hướng nào. Đứa trẻ này sẽ ngồi phía sau ông và bảo: “Chúng đi hướng kia kìa.”
SV: Vậy thì, ông có thể đặt phần kết - nơi ông Ernest nhận nuôi cậu bé sau khi bố mẹ cậu bỏ đi - lên đầu truyện trước, rồi mới kể về cuộc đi săn sau, tức là sau khi chúng tôi đã biết người đàn ông này đã cưu mang đứa trẻ, được không?
WF: Có thể chứ, nhưng tôi nghĩ cách của tôi tạo ra một câu chuyện hay hơn. Đó là quan điểm cá nhân thôi, nhưng tôi nghĩ việc để nút thắt nằm ở cuối sẽ hiệu quả hơn một chút. Nếu có gì khác biệt, thì nó làm cho câu chuyện có cảm giác cô đọng hơn, và có lẽ là ngắn gọn hơn.
SV: Khi ông nói về việc học hành là để cậu bé không chỉ biết điều gì là đúng, mà còn bởi vì cậu vốn đã biết điều gì là đúng rồi - ông có đang... ý ông lúc đó có phải là một kiểu hài hước châm biếm không?
WF: Không hề. Người đàn ông thất học và thiếu tri thức này đang lầm lũi mò mẫm theo đuổi một điều mà ông nhận ra khá muộn màng trong đời: nó không chỉ là sự thật, mà còn vô cùng quan trọng. Rằng không một ai có thể là một ốc đảo cô độc giữa cuộc đời này, rằng anh luôn có trách nhiệm đối với nhân loại. Nghĩa là, anh có thể làm điều đúng đắn nhờ vào bản năng, hoặc vì điều đó đã được nhồi nhét vào đầu anh; điều đó có thể tốt cho riêng anh, nhưng anh còn có trách nhiệm với những người chưa từng được dạy để làm điều đúng. Họ cần phải biết tại sao họ phải làm điều đúng, và chỉ có giáo dục mới ban cho anh thuật hùng biện, năng lực tư duy nhạy bén để giải thích cho những kẻ u muội, những kẻ ngoan cố hiểu vì sao một điều gì đó là đúng, và vì sao họ phải làm điều đó chỉ đơn giản vì nó đúng.
Thực chất, chính mối duyên gặp gỡ với đứa trẻ đã làm thay đổi người đàn ông đến nhường ấy. Nếu họ không gặp nhau, người đàn ông sẽ cứ thế sống tiếp và hài lòng với sự cộc cằn, tăm tối của một lão nông bần tiện, mỗi năm kiếm một ít tiền; nhưng đột nhiên, trách nhiệm đối với đứa trẻ ấy đã đưa người đàn ông bước vào dòng chảy của nhân loại. Theo một cách nào đó, họ chính là sự cứu rỗi của nhau, là sự cứu rỗi lẫn nhau từ cả hai phía.
SV: Ông nghĩ sau đó cậu bé có đi học không?
WF: Tôi nghĩ là có. Cậu bé có thể… có lẽ sẽ không bao giờ trở thành một học giả Phi Beta Kappa, nhưng người đàn ông ấy sẽ đảm bảo thằng bé học được cách đọc, cách viết; với niềm hy vọng và ý niệm rằng, biết đâu một khi đã biết đọc, chính trí tò mò của đứa trẻ sẽ thúc đẩy nó đọc đủ nhiều để tự mình hiểu được vì sao con người ta lại làm điều đúng đắn.
SV: Như vậy cậu bé sẽ thay đổi nhờ việc đi học, và người đàn ông cũng sẽ thay đổi nhờ gánh vác trách nhiệm đối với đứa trẻ mồ côi này?
WF: À, người đàn ông sẽ thay đổi vì trách nhiệm với đứa trẻ mồ côi. Còn cậu bé ở độ tuổi đó vốn đã định hình khá rõ con đường mình sẽ đi rồi, tất cả những gì thằng bé cần chỉ là một cú hích hay một sự định hướng đúng lúc. Thằng bé vốn dĩ đã là một đứa trẻ trung thực, dũng cảm, biết cống hiến và có lòng trung thành. Toàn bộ những gì nó cần là giáo dục, là học đọc, để hiểu thêm về lịch sử của giống loài mình. Người đàn ông có lẽ đã thay đổi nhiều hơn cả cậu bé. Cậu bé không hẳn là thay đổi, mà chính xác là được cứu rỗi.
SV: Vậy có phải họ không chỉ săn hươu, mà theo một cách nào đó, họ cũng đang đi tìm chính bản thân mình?
WF: Ồ, dĩ nhiên là họ không hề biết điều đó, nhưng đó chính là những gì họ đang tìm thấy. Nghĩa là, người đàn ông - khi dạy cho cậu bé hiểu rằng việc không bao giờ chạm đến sự thỏa mãn tột cùng là một giá trị sống chân chính. Có lẽ trước đây ông chưa từng nghĩ về điều đó, định kiến trước đây của ông chỉ là dành ra hai tuần nghỉ ngơi, lao vào rừng và hạ gục mọi con hươu xuất hiện trước mặt; cho đến khi trách nhiệm với đứa trẻ đột nhiên khiến ông phải dừng lại và suy nghĩ: “Chà, điều gì tốt hơn đây, cứ kéo cái xác chết đầy thịt này về, hay là ngắm nhìn một sinh vật tuyệt đẹp, huy hoàng đang lao đi trong chính môi trường tự nhiên của nó?”
SV: Tôi có cảm giác như nghe thấy một chút tiếc nuối hoài cổ về cái thời mà con người ta chẳng phải làm gì ngoài làm nông và săn bắn, có lẽ là đoạn này - ông đã viết: “Đã từng có thời, tất cả những gì con người cần làm chỉ là làm nông và săn bắn.”
WF: Chắc chắn rồi, chẳng ai thực sự thích gánh vác trách nhiệm. Có lẽ người đàn ông này từng ghét cay ghét đắng việc mình không thể thong thả ở nhà vào ban đêm, lên giường đi ngủ và mặc kệ đứa trẻ mà ông biết rõ là đang bơ vơ, bị bỏ rơi trong căn lều giữa rừng tự sinh tự diệt. Nhưng ông không thể làm thế, ông buộc phải đi đón thằng bé. Và, đúng vậy, ông ấy có lẽ đã nghĩ: “Ước gì chúng ta có thể sống như ngày xưa, nơi con người ta không phải chịu trách nhiệm, nơi mỗi người có thể là một ốc đảo cô độc cho riêng mình.” Nhưng một khi ông nhận ra mình không thể làm thế, ông cũng nhận ra đứa trẻ này không thể, và không một con người nào khác có thể. Rằng trách nhiệm - việc chấp nhận trách nhiệm - làm cho tất cả chúng ta lớn lao hơn, cũng giống như việc chối bỏ nó sẽ làm tất cả chúng ta lụi bại đi.
SV: Thưa ông Faulkner, khi ông đặt nhan đề “Cuộc đua lúc sáng sớm” [Gốc: Race at Morning], ông có nghĩ đến tính phù hợp của nó trên nhiều tầng nghĩa khác nhau không ạ? Chẳng hạn như việc “buổi sáng” [morning] chính là ẩn dụ cho cậu bé, còn “cuộc đua” [race] vừa là cuộc rượt đuổi ngoài đời thực, vừa có nghĩa là “chủng tộc/nhân loại” [human race]? Người ta có thể diễn giải nhan đề đó theo nhiều cách. Tôi vừa nảy ra suy nghĩ này khi nghe ông nói...
WF: Không, nhan đề đó được nhìn nhận theo lăng kính của chính thằng bé: đó là buổi bình minh của cuộc đời cậu, và sự việc cũng diễn ra vào buổi sáng; còn tôi dùng từ “cuộc đua” [race] là để chỉ sự phấn khích, sự hăm hở của tốc độ. Đối với thằng bé, cuộc sống ở độ tuổi đó không bao giờ chậm lại; một khi nó bắt đầu chậm đi, anh sẽ thấy chán chường, thế nên nó luôn ở tốc độ tối đa. Không, tôi không hề nghĩ về nó với hàm ý liên hệ đến nhân loại. Nó chỉ đơn giản là nhan đề của thằng bé, theo cách hiểu của thằng bé.
SV: Thưa ông, ông thấy cách nào là tốt nhất: một khi có ý tưởng, ta sẽ ngồi xuống viết ngay lập tức, hay tốt hơn là nên suy ngẫm về nó và để nó tự cô đặc lại?
WF: Một khi anh đã thực sự bị cái nghiệp viết lách này đi vào máu rồi, anh sẽ không còn thời gian rỗi để ngồi xuống và suy ngẫm về điều gì đó đâu. Anh nảy ra một ý tưởng mới ngay khi đang dở dang viết một ý tưởng khác, và ý tưởng mới ấy chỉ đơn giản là phải chờ đợi cơ hội của nó, trừ khi - như người ta thường nói - nó quá hấp dẫn vào thời điểm đó đến mức anh sẵn sàng gác lại những gì đang làm để bắt tay vào nó.
Nhưng có lẽ có một kiểu - anh có thể gọi là sự ngụy trang bảo vệ - rằng ý tưởng đó không xuất hiện trong tâm trí như một điều hoàn toàn mới cho đến khi, một cách vô thức, nó đã được ấp ủ một thời gian. Nó đã bắt đầu định hình phom dáng cuối cùng trước khi kịp bước vào tâm trí tỉnh thức như một ý tưởng để viết. Anh không biết mình lấy nó từ đâu, không biết mình đã có nó từ bao giờ; nó như một quả trứng, hoặc như một con gà mái đã nằm ấp quả trứng duy nhất đó suốt bất kể khoảng thời gian cần thiết nào để làm nở sinh vật đó ra trước khi nó bước vào vùng ý thức của anh.
SV: Tôi chỉ đang thắc mắc, nếu ông có một câu chuyện, mục đích của ông hẳn là tạo ra thứ gì đó thú vị để đọc; nhưng nếu nó mang một chủ đề bên trong, để tập trung vào chủ đề đó và phát triển nó một cách trọn vẹn nhất, tôi nghĩ ông sẽ phải luôn ghi nhớ điều đó trong đầu, giữ cho những gì...
WF: Nếu tôi hiểu đúng ý anh, thì trong trường hợp đó, thông điệp sẽ là một trong những công cụ của người thợ thủ công - ồ, điều đó hoàn toàn hợp lý chứ. Thông điệp là một công cụ của nhà văn, giống như thuật hùng biện, giống như dấu câu vậy. Điều đó hoàn toàn chính đáng, nhưng anh không viết một câu chuyện chỉ để phô diễn sự đa tài của mình với các công cụ.
Anh viết một câu chuyện để kể về con người, về con người trong cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ với chính trái tim mình, với trái tim của đồng loại, hoặc với môi trường xung quanh. Đó là con người trong những cuộc đấu tranh muôn thuở, trường tồn mà chúng ta thừa hưởng và trải qua như thể chúng chưa từng xảy ra trước đây; được hiển hiện trong một khoảnh khắc kịch tính của chuyển động mãnh liệt của sự sống. Bất kỳ câu chuyện nào cũng chỉ có vậy thôi. Anh bắt trọn cái dòng chảy biến thiên vốn là cuộc đời của con người, rọi một chùm sáng vào đó, và giữ nó dừng lại đủ lâu để người ta có thể chiêm ngưỡng...
Bùi Gia Bin dịch
Faulkner: Về truyện ngắn “Cuộc đua lúc sáng sớm”
William Faulkner trả lời sinh viên trong một khóa học viết, tháng Hai năm 1958
Sinh viên (SV): Khi viết một câu chuyện như vậy, “Cuộc đua lúc sáng sớm”, một câu chuyện chắc chắn phải dựa trên những kinh nghiệm cụ thể ông từng có, không biết đã bao giờ ông bị mắc vào một bụi nho thân gỗ dại khi đang cưỡi ngựa hay chưa? Ông có nhìn thấy toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối trước khi bắt tay vào viết không? Ông có hình dung sẵn câu chuyện đó trong đầu không, kiểu như cái kết đã là một phần của sự khởi đầu rồi ấy?
William Faulkner (WF): Không, tôi nghĩ một câu chuyện như thế sẽ tự sinh sôi, tự mở lối khi mình viết. Câu chuyện đó bắt đầu với hình ảnh của một cậu bé bị cả cha lẫn mẹ bỏ rơi, họ là những người chẳng ra gì, và theo lẽ thường thì đứa trẻ đó lớn lên cũng sẽ chẳng ra gì. Thế nhưng người đàn ông ấy, Ông Ernest, tuy thất học nhưng vẫn có thể nhìn ra rằng: đây là một con người, và một con người thì có thể làm được mọi điều nếu hắn có cơ hội. Câu chuyện nảy sinh từ chính việc một ông già độc thân cọc cằn nhìn thấy đứa trẻ bơ vơ này và chợt nghĩ: “Thằng bé này quá giá trị không thể bị bỏ mặc trong rừng.” Và truyện ngắn này chỉ đơn giản là việc xây dựng các tình huống để làm nổi bật mối quan hệ giữa hai con người đó - việc một ông già bỗng nhiên nhìn thấy trách nhiệm của mình và quyết tâm thực hiện nó. Ông ấy có thể không biết chữ - bản thân ông có lẽ chưa từng đến trường - nhưng ông nhận ra rằng có thể mài giũa, nhào nặn được điều gì đó từ đứa trẻ bơ vơ này, chỉ đơn giản vì đứa trẻ ấy là một con người.
SV: Thưa ông, nói cách khác, cuộc đi săn, cách Ông Ernest đưa cậu bé đi cùng, mà chúng ta thấy có phải tượng trưng cho việc ông ấy đón nhận cậu bé vào thế giới của mình và đưa cậu theo trong mọi việc, cũng như cách ông đưa cậu vào cuộc đời mình có phải không?
WF: Đúng vậy, và cả sự phụ thuộc lẫn nhau nữa. Người đàn ông đó bị điếc, ông ấy không thể nghe thấy bầy chó săn đang chạy theo hướng nào. Đứa trẻ này sẽ ngồi phía sau ông và bảo: “Chúng đi hướng kia kìa.”
SV: Vậy thì, ông có thể đặt phần kết - nơi ông Ernest nhận nuôi cậu bé sau khi bố mẹ cậu bỏ đi - lên đầu truyện trước, rồi mới kể về cuộc đi săn sau, tức là sau khi chúng tôi đã biết người đàn ông này đã cưu mang đứa trẻ, được không?
WF: Có thể chứ, nhưng tôi nghĩ cách của tôi tạo ra một câu chuyện hay hơn. Đó là quan điểm cá nhân thôi, nhưng tôi nghĩ việc để nút thắt nằm ở cuối sẽ hiệu quả hơn một chút. Nếu có gì khác biệt, thì nó làm cho câu chuyện có cảm giác cô đọng hơn, và có lẽ là ngắn gọn hơn.
SV: Khi ông nói về việc học hành là để cậu bé không chỉ biết điều gì là đúng, mà còn bởi vì cậu vốn đã biết điều gì là đúng rồi - ông có đang... ý ông lúc đó có phải là một kiểu hài hước châm biếm không?
WF: Không hề. Người đàn ông thất học và thiếu tri thức này đang lầm lũi mò mẫm theo đuổi một điều mà ông nhận ra khá muộn màng trong đời: nó không chỉ là sự thật, mà còn vô cùng quan trọng. Rằng không một ai có thể là một ốc đảo cô độc giữa cuộc đời này, rằng anh luôn có trách nhiệm đối với nhân loại. Nghĩa là, anh có thể làm điều đúng đắn nhờ vào bản năng, hoặc vì điều đó đã được nhồi nhét vào đầu anh; điều đó có thể tốt cho riêng anh, nhưng anh còn có trách nhiệm với những người chưa từng được dạy để làm điều đúng. Họ cần phải biết tại sao họ phải làm điều đúng, và chỉ có giáo dục mới ban cho anh thuật hùng biện, năng lực tư duy nhạy bén để giải thích cho những kẻ u muội, những kẻ ngoan cố hiểu vì sao một điều gì đó là đúng, và vì sao họ phải làm điều đó chỉ đơn giản vì nó đúng.
Thực chất, chính mối duyên gặp gỡ với đứa trẻ đã làm thay đổi người đàn ông đến nhường ấy. Nếu họ không gặp nhau, người đàn ông sẽ cứ thế sống tiếp và hài lòng với sự cộc cằn, tăm tối của một lão nông bần tiện, mỗi năm kiếm một ít tiền; nhưng đột nhiên, trách nhiệm đối với đứa trẻ ấy đã đưa người đàn ông bước vào dòng chảy của nhân loại. Theo một cách nào đó, họ chính là sự cứu rỗi của nhau, là sự cứu rỗi lẫn nhau từ cả hai phía.
SV: Ông nghĩ sau đó cậu bé có đi học không?
WF: Tôi nghĩ là có. Cậu bé có thể… có lẽ sẽ không bao giờ trở thành một học giả Phi Beta Kappa, nhưng người đàn ông ấy sẽ đảm bảo thằng bé học được cách đọc, cách viết; với niềm hy vọng và ý niệm rằng, biết đâu một khi đã biết đọc, chính trí tò mò của đứa trẻ sẽ thúc đẩy nó đọc đủ nhiều để tự mình hiểu được vì sao con người ta lại làm điều đúng đắn.
SV: Như vậy cậu bé sẽ thay đổi nhờ việc đi học, và người đàn ông cũng sẽ thay đổi nhờ gánh vác trách nhiệm đối với đứa trẻ mồ côi này?
WF: À, người đàn ông sẽ thay đổi vì trách nhiệm với đứa trẻ mồ côi. Còn cậu bé ở độ tuổi đó vốn đã định hình khá rõ con đường mình sẽ đi rồi, tất cả những gì thằng bé cần chỉ là một cú hích hay một sự định hướng đúng lúc. Thằng bé vốn dĩ đã là một đứa trẻ trung thực, dũng cảm, biết cống hiến và có lòng trung thành. Toàn bộ những gì nó cần là giáo dục, là học đọc, để hiểu thêm về lịch sử của giống loài mình. Người đàn ông có lẽ đã thay đổi nhiều hơn cả cậu bé. Cậu bé không hẳn là thay đổi, mà chính xác là được cứu rỗi.
SV: Vậy có phải họ không chỉ săn hươu, mà theo một cách nào đó, họ cũng đang đi tìm chính bản thân mình?
WF: Ồ, dĩ nhiên là họ không hề biết điều đó, nhưng đó chính là những gì họ đang tìm thấy. Nghĩa là, người đàn ông - khi dạy cho cậu bé hiểu rằng việc không bao giờ chạm đến sự thỏa mãn tột cùng là một giá trị sống chân chính. Có lẽ trước đây ông chưa từng nghĩ về điều đó, định kiến trước đây của ông chỉ là dành ra hai tuần nghỉ ngơi, lao vào rừng và hạ gục mọi con hươu xuất hiện trước mặt; cho đến khi trách nhiệm với đứa trẻ đột nhiên khiến ông phải dừng lại và suy nghĩ: “Chà, điều gì tốt hơn đây, cứ kéo cái xác chết đầy thịt này về, hay là ngắm nhìn một sinh vật tuyệt đẹp, huy hoàng đang lao đi trong chính môi trường tự nhiên của nó?”
SV: Tôi có cảm giác như nghe thấy một chút tiếc nuối hoài cổ về cái thời mà con người ta chẳng phải làm gì ngoài làm nông và săn bắn, có lẽ là đoạn này - ông đã viết: “Đã từng có thời, tất cả những gì con người cần làm chỉ là làm nông và săn bắn.”
WF: Chắc chắn rồi, chẳng ai thực sự thích gánh vác trách nhiệm. Có lẽ người đàn ông này từng ghét cay ghét đắng việc mình không thể thong thả ở nhà vào ban đêm, lên giường đi ngủ và mặc kệ đứa trẻ mà ông biết rõ là đang bơ vơ, bị bỏ rơi trong căn lều giữa rừng tự sinh tự diệt. Nhưng ông không thể làm thế, ông buộc phải đi đón thằng bé. Và, đúng vậy, ông ấy có lẽ đã nghĩ: “Ước gì chúng ta có thể sống như ngày xưa, nơi con người ta không phải chịu trách nhiệm, nơi mỗi người có thể là một ốc đảo cô độc cho riêng mình.” Nhưng một khi ông nhận ra mình không thể làm thế, ông cũng nhận ra đứa trẻ này không thể, và không một con người nào khác có thể. Rằng trách nhiệm - việc chấp nhận trách nhiệm - làm cho tất cả chúng ta lớn lao hơn, cũng giống như việc chối bỏ nó sẽ làm tất cả chúng ta lụi bại đi.
SV: Thưa ông Faulkner, khi ông đặt nhan đề “Cuộc đua lúc sáng sớm” [Gốc: Race at Morning], ông có nghĩ đến tính phù hợp của nó trên nhiều tầng nghĩa khác nhau không ạ? Chẳng hạn như việc “buổi sáng” [morning] chính là ẩn dụ cho cậu bé, còn “cuộc đua” [race] vừa là cuộc rượt đuổi ngoài đời thực, vừa có nghĩa là “chủng tộc/nhân loại” [human race]? Người ta có thể diễn giải nhan đề đó theo nhiều cách. Tôi vừa nảy ra suy nghĩ này khi nghe ông nói...
WF: Không, nhan đề đó được nhìn nhận theo lăng kính của chính thằng bé: đó là buổi bình minh của cuộc đời cậu, và sự việc cũng diễn ra vào buổi sáng; còn tôi dùng từ “cuộc đua” [race] là để chỉ sự phấn khích, sự hăm hở của tốc độ. Đối với thằng bé, cuộc sống ở độ tuổi đó không bao giờ chậm lại; một khi nó bắt đầu chậm đi, anh sẽ thấy chán chường, thế nên nó luôn ở tốc độ tối đa. Không, tôi không hề nghĩ về nó với hàm ý liên hệ đến nhân loại. Nó chỉ đơn giản là nhan đề của thằng bé, theo cách hiểu của thằng bé.
SV: Thưa ông, ông thấy cách nào là tốt nhất: một khi có ý tưởng, ta sẽ ngồi xuống viết ngay lập tức, hay tốt hơn là nên suy ngẫm về nó và để nó tự cô đặc lại?
WF: Một khi anh đã thực sự bị cái nghiệp viết lách này đi vào máu rồi, anh sẽ không còn thời gian rỗi để ngồi xuống và suy ngẫm về điều gì đó đâu. Anh nảy ra một ý tưởng mới ngay khi đang dở dang viết một ý tưởng khác, và ý tưởng mới ấy chỉ đơn giản là phải chờ đợi cơ hội của nó, trừ khi - như người ta thường nói - nó quá hấp dẫn vào thời điểm đó đến mức anh sẵn sàng gác lại những gì đang làm để bắt tay vào nó.
Nhưng có lẽ có một kiểu - anh có thể gọi là sự ngụy trang bảo vệ - rằng ý tưởng đó không xuất hiện trong tâm trí như một điều hoàn toàn mới cho đến khi, một cách vô thức, nó đã được ấp ủ một thời gian. Nó đã bắt đầu định hình phom dáng cuối cùng trước khi kịp bước vào tâm trí tỉnh thức như một ý tưởng để viết. Anh không biết mình lấy nó từ đâu, không biết mình đã có nó từ bao giờ; nó như một quả trứng, hoặc như một con gà mái đã nằm ấp quả trứng duy nhất đó suốt bất kể khoảng thời gian cần thiết nào để làm nở sinh vật đó ra trước khi nó bước vào vùng ý thức của anh.
SV: Tôi chỉ đang thắc mắc, nếu ông có một câu chuyện, mục đích của ông hẳn là tạo ra thứ gì đó thú vị để đọc; nhưng nếu nó mang một chủ đề bên trong, để tập trung vào chủ đề đó và phát triển nó một cách trọn vẹn nhất, tôi nghĩ ông sẽ phải luôn ghi nhớ điều đó trong đầu, giữ cho những gì...
WF: Nếu tôi hiểu đúng ý anh, thì trong trường hợp đó, thông điệp sẽ là một trong những công cụ của người thợ thủ công - ồ, điều đó hoàn toàn hợp lý chứ. Thông điệp là một công cụ của nhà văn, giống như thuật hùng biện, giống như dấu câu vậy. Điều đó hoàn toàn chính đáng, nhưng anh không viết một câu chuyện chỉ để phô diễn sự đa tài của mình với các công cụ.
Anh viết một câu chuyện để kể về con người, về con người trong cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ với chính trái tim mình, với trái tim của đồng loại, hoặc với môi trường xung quanh. Đó là con người trong những cuộc đấu tranh muôn thuở, trường tồn mà chúng ta thừa hưởng và trải qua như thể chúng chưa từng xảy ra trước đây; được hiển hiện trong một khoảnh khắc kịch tính của chuyển động mãnh liệt của sự sống. Bất kỳ câu chuyện nào cũng chỉ có vậy thôi. Anh bắt trọn cái dòng chảy biến thiên vốn là cuộc đời của con người, rọi một chùm sáng vào đó, và giữ nó dừng lại đủ lâu để người ta có thể chiêm ngưỡng...
Bùi Gia Bin dịch
