Meister Eckhart: German Sermon 3
Bài giảng thứ ba[1]
Cha Eckhart
CON PHẢI Ở TRONG NHỮNG SỰ THUỘC VỀ CHA CON
(Lc 2, 49)
“Con phải ở trong những sự thuộc về Cha con.” Bản văn này đặc biệt thích hợp với những gì ta sắp nói về sự hằng sinh đã xảy ra trong thời gian[2] và vẫn đang xảy ra hằng ngày trong nơi thậm thâm của tâm hồn, trong nền tảng, xa biệt khỏi mọi biến cố ngoại-lai[3]. Để nhận biết sự sinh ra nội tâm này, con người trước hết phải chuyên chú vào những sự thuộc về Cha mình.
Các ưu phẩm của Cha là gì? Quyền năng được quy cho Người nhiều hơn hai Ngôi còn lại. Vì thế, chắc chắn không có ai kinh nghiệm được hay đến gần được sự sinh ra này mà không dốc toàn quyền sức. Con người không thể đạt tới sự sinh ra ấy nếu không rút các giác quan khỏi mọi sự. Và điều ấy phải được thực hiện với sức; không có sức thì không thực hiện được[4]. Như Đức Ki-tô đã nói: “Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được” (Mt 11, 12).
Một câu hỏi trỗi lên về sự sinh ra mà chúng ta đã nói đến: Nó xảy ra liên tục, hay theo quãng, khi con người đã đặt mình vào nó và gắng toàn quyền sức hầu quên hết mọi sự để ý thức về mỗi sự này thôi? Hãy nghe. Con người có một trí năng chủ động, một trí năng thụ động, cùng một trí năng tiềm thể[5]. Trí năng tác động thì luôn sẵn sàng hành động, dù nó ở trong Chúa hay trong thụ tạo, bởi nó vận hành theo lý trí trong thụ tạo bằng cách xếp sửa chúng, và đưa chúng về nguồn, hoặc bằng cách nâng chính nó lên, vì sự tôn kính và vinh hiển Chúa. Tất cả những điều ấy nằm trong năng lực và lãnh giới của nó, nên mới gọi là chủ động. Nhưng khi Chúa đã đảm lấy việc hoạt tác, tâm trí phải về trạng thái thụ động. Còn trí năng tiềm thể thì hướng đến cả hai: đến hoạt động của Chúa cùng tính thụ động của tâm hồn, hầu cho sự này còn được đạt đến trong hết mức có thể. Ở trường hợp trước thì có hoạt động, nơi tâm trí tự mình hoạt tác; ở trường hợp sau thì có sự thụ động, khi Chúa đã đảm lấy việc hoạt tác, và tâm trí khi ấy nên, đúng hơn là phải, ở yên và để Chúa tác động. Giờ, trước khi việc này khởi phát bởi tâm trí và hoàn tất bởi Chúa, tâm trí có một tiên kiến về việc ấy, một tiềm-tri rằng “điều ấy có thể xảy ra như vậy”. Đó chính là ý nghĩa của “trí năng tiềm thể,” dù nhiều khi nó bị bỏ xó và không bao giờ thành tựu. Nhưng khi tâm trí đã cố gắng tận quyền sức mình và với lòng thành chân thật, Chúa sẽ nắm lấy tâm trí và công việc của nó, rồi tâm trí thấy và kinh nghiệm[6] Chúa. Nhưng vì sự bền đỗ và thị kiến Chúa áp một sức ép khôn kham lên tâm trí khi còn ở trong thân xác [phàm] này, nên đôi lúc Chúa lui khỏi tâm trí, đó cũng là lý do Ngài phán, “Ít lâu nữa anh em sẽ không còn thấy Thầy, rồi ít lâu nữa anh em sẽ lại thấy Thầy” (Ga 16, 16).
Khi Chúa chúng ta đem ba môn đệ lên núi và kín nhiệm mà tỏ cho họ thấy sự soi sáng của thân xác Ngài, sự Ngài có được nhờ mối hiệp nhất với Thiên Chúa tính, và cũng là sự mà ta cũng sẽ có trong sự phục sinh của thân xác, thì thánh Phê-rô liền, nhân thấy sự ấy, ước cho được ở lại đó luôn. Thật vậy, khi con nguời tìm thấy sự tốt lành thì họ khó lòng rời bỏ nó lắm, miễn sao nó còn tốt lành. Khi điều này được trí hiểu nhận ra, tình yêu tất phải theo sau, rồi trí nhớ[7], và mọi (năng lực) của tâm hồn cũng thế. Và Chúa chúng ta[8], biết quá rõ điều này, nên buộc phải ẩn mình ít lúc, bởi tâm hồn là mô thể đơn nhất của thân xác, và hễ nàng quy về hướng nào, nàng quy toàn thể về đó. Giả như nàng luôn ý thức về sự tốt lành là chính Thiên Chúa, trực tiếp và không ngăn trở, nàng sẽ chẳng bao giờ rời bỏ nó mà đi tác động lên thân xác làm gì.
Điều ấy đã xảy đến với Phao-lô: nếu ngài đã ở cho kỳ hết một trăm năm ở chỗ ngài đã nhận biết Sự Tốt Lành[9], hẳn ngài đã chẳng bao giờ về lại với thân xác; ngài hẳn sẽ quên nó luôn. Vậy nên, bởi chưng điều ấy không có lợi gì cho đời sống này và xa lạ với nó, Thiên Chúa đã lấy lòng thương xót mà che điều ấy lại khi Người muốn và chỉ khải lộ khi nào Người biết điều ấy hữu ích và hữu dụng nhất, như một người lương y trung tín, cho anh em. Sự thối lui này không phải của anh em, mà là của Người, Đấng đã hoạt tác: Người có thể làm hoặc không làm theo ý Người, bởi vốn biết khi nào điều đó có ích nhất cho anh em. Khải lộ hay tàng ẩn thì cũng nằm trong tay Người, tùy Người biết anh em có chịu được điều ấy hay không. Bởi Thiên Chúa không phải Đấng hủy diệt bản tính: trái lại, Người kiện toàn nó, và anh em càng thích hợp với điều ấy bao nhiêu, Người lại càng làm nhiều hơn bấy nhiêu.
Nhưng anh em dễ lại nói, “Thưa thầy, nếu điều này đòi tâm trí phải được tự do khỏi mọi hình ảnh cùng mọi công việc (vốn nhiên tại trong các năng lực[10]), những công việc ngoại hướng mà đôi lúc ta phải làm thì làm thế nào, những việc bác ái chẳng hạn, lúc nào cũng phải làm ở bên ngoài, hay giảng dạy, hay an ủy người túng thiếu? Những người đó có bị tước mất điều này không? Các môn đệ của Chúa chúng ta đã bận rộn biết bao với những việc ấy, và (theo thánh Augustine) thánh Phao-lô đã mang nặng và bận lòng với nhu cầu của người khác như thể ngài là cha họ - ta có phải chịu tước mất sự tốt lành lớn này chỉ vì đang luôn tay với việc bác ái không?”
Hãy nghe lời giải cho các câu hỏi trên. Một điều thì cao trọng hơn, một điều thì lại hữu ích hơn. Ma-ri-a được ngợi khen vì đã chọn điều tối cao; nhưng đời sống Mác-ta lại đem nhiều lợi lớn, bởi bà phục vụ Đức Ki-tô cùng các môn đệ Ngài.[11] Thầy Thomas nói rằng đời hoạt động tốt hơn đời chiêm niệm, miễn sao trong hành động, người ta tuôn đổ ra vì đức mến những thứ mà họ đã lĩnh nhận được từ việc chiêm niệm. Thực ra đó chỉ là một mà thôi, bởi ta chỉ lĩnh nhận từ cùng một nền chiêm niệm ấy rồi làm nó sinh hoa trái trong công việc, và cứ vậy mà đối tượng của sự chiêm niệm được đạt đến. Tuy có chuyển động, nhưng hết thảy chỉ là một; nó phát xuất từ một cùng đích, là Thiên Chúa, rồi lại trở về cùng đích ấy, như ta vòng đi từ đầu này sang đầu kia ngôi nhà; đó quả thật là chuyển động, nhưng chỉ là chuyển động trong cùng một thực tại. Cũng vậy, trong hoạt động này, ta vẫn ở trong trạng thái chiêm niệm trongThiên Chúa. Cái này nghỉ an trong cái kia, và làm cái kia viên thành. Bởi kế hoạch của Thiên Chúa trong sự hiệp nhất với chiêm niệm chính là làm sinh hoa trái trong công việc: bởi khi chiêm niệm, anh em phục vụ một mình anh em, nhưng trong công-việc bác ái, anh em phục vụ nhiều người.
Đức Ki-tô đã răn chúng ta điều ấy qua đời sống Ngài và đời sống mọi thánh nhân của Ngài, từng người ấy đã được Ngài sai vào thế gian để dạy bảo đám đông. Thánh Phao-lô nói với Ti-mô-thê, “Hỡi anh thân mến, hãy rao giảng Lời” (2 Tm 4, 2). Phải ý ngài là lời ngoại tại, vang dội trong không chăng? Chắc chắn không. Ý ngài là Lời nội-sinh và vẫn còn tàng ẩn, kín nhiệm mà ngự trong tâm hồn. Đó chính là Lời ngài truyền cho Ti-mô-thê đi rao giảng, để Lời được tỏ lộ và rồi nuôi dưỡng các năng lực (của tâm hồn), để con người có thể tự hiến mình trong mọi phương diện của đời sống bên ngoài nơi tha nhân cần đến - và để hết thảy những điều ấy có trong anh em, để anh em làm trọn vẹn chúng bằng hết khả năng mình. Lời cần phải ở trong anh em trong tư tưởng, trong trí năng, và trong ý chí, đồng thời cũng phải soi sáng ra nơi việc làm của anh em nữa. Như Đức Ki-tô đã nói, “Để sự sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ” (Mt 5, 16). Ngài nhắm đến những ai chỉ chăm chăm vào đời chiêm niệm mà bỏ bê việc thực hành đức mến, việc ấy, họ bảo rằng, họ chẳng thèm việc ấy nữa, bởi đã qua giai đoạn đó rồi. Không phải Đức Ki-tô nhằm đến họ khi Ngài nói “Hạt giống rơi nhằm đất tốt nên sinh hoa kết quả chục trăm” (Mt 13, 8). Mà nhằm chính họ, Đức Ki-tô nói rằng “Cây nào không sanh trái thì bị chặt đi” (Mt 3, 10; 7, 19).
Giờ anh em dễ nói, “Nhưng thưa thầy, còn sự thinh lặng mà thầy hay nói thì sao? Vì những điều trên dường kéo theo rất nhiều hình ảnh. Mọi hiện thể phải ứng với tương ảnh của nó, dù hiện thể ấy có ở trong hay ở ngoài, dù tôi đang dạy người ta hay an ủy người khác, hay sắp việc này xếp việc kia, thì tôi biết lấy đâu ra thinh lặng?[12] Bởi nếu tâm trí thấy và hình-thành, ý chí muốn, trí nhớ thu nhiếp, thì chẳng phải những điều ấy đều là hình ảnh sao?”
Xem đây. Ta vừa mới nói về một trí năng chủ động cùng một trí năng thụ động. Trí năng chủ động trừu xuất các hình ảnh từ các vật ngoại tại, tước chúng ra khỏi chất thể và các tùy thể, rồi đưa chúng vào trí năng thụ động, sinh ra[13] ảnh-niệm của chúng trong đó. Và trí năng thụ động, thụ thai bởi trí năng chủ động theo lối ấy, gìn giữ và nhận biết các vật với sự trợ giúp của trí năng chủ động. Nhưng ngay cả khi ấy, trí năng thụ động cũng không thể tiếp tục biết những vật kia nếu trí năng chủ động không liên tục soi sáng chúng. Như thế: trí năng chủ động làm điều chi cho con người tự nhiên, thì Thiên Chúa làm điều ấy và còn hơn cả thế cho kẻ nào có sự buông xả: Người lấy đi trí năng chủ động khỏi họ, đặt chính Người vào chỗ của nó, và chính Người đảm lấy tất cả những gì trí năng chủ động đáng ra phải làm.
Thật vậy, khi con người hoàn toàn không còn bận tâm, và trí năng chủ động trong họ đã im lặng, Chúa phải đảm nhận công việc và phải trở thành vị đại công tượng tự sinh ra chính Người trong trí năng bị động. Hãy xem thử có phải như thế không. Trí năng chủ động không thể ban điều mà nó chưa có: và nó cũng không thể ngắm hai hình ảnh đồng thời được, trước hết phải là hình ảnh này, rồi sau mới tới hình ảnh kia. Dù khí và ánh sáng đồng thời biểu lộ nhiều hình thức cùng màu sắc khác nhau, ta chỉ có thể quan sát từng cái một. Trí năng chủ động cũng làm y như thế. Nhưng khi Chúa hành động ở nơi trí năng chủ động thống ngự, Người sinh ra nhiều ảnh niệm cùng lúc tại cùng một chỗ. Bởi giả như Chúa nhắc anh em làm một việc lành, thì lập tức mọi năng lực của anh em sẽ tự hiến cho hết mọi điều lành: toàn thể tâm trí anh em liền hướng về điều lành nói chung tức khắc. Anh em làm được điều lành nào thì điều lành ấy liền mặc lấy dáng hình và hiện chính nó ra trước mắt anh em ngay trong một chớp, kết tựu lại ở một chỗ. Chắc chắn, điều này minh giải và làm chứng rằng điều lành không phải công trình bởi tay trí năng, bởi trí năng không có sự hoàn thiện hay nguồn sức cho điều ấy: đúng hơn, đó là công trình và là con một của Đấng chứa mọi ảnh niệm trong mình. Như Phao-lô nói, “Tôi chịu được hết mọi sự khi ở trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4, 13); trong Đấng, thầy không chỉ làm được điều này điều kia mà là làm được mọi điều trong sự hiệp nhất bất phân. Vậy anh em khá biết, rằng ảnh niệm của những hiện thể ấy không phải của anh em. Chúng cũng không xuất khởi từ tự nhiên: chúng thuộc về tác giả của tự nhiên, là nơi Người đã gieo hiện thể và ảnh niệm vào. Vậy nên đừng nhận chúng làm của mình, bởi nó là của Đấng, không phải của anh em. Tuy chúng được anh em thụ nhận trong thời gian, chúng thực chất được Chúa sinh ra và ban cho ngoài thời gian, trong cõi đời đời siêu vượt mọi ảnh niệm.
Anh em dễ lại hỏi, “Nếu trí năng của tôi bị tước khỏi các hoạt động bản nhiên của nó và không còn hình ảnh hay hoạt động nào của riêng nó nữa, thì nó sẽ nương vào đâu? Bởi nó luôn phải có một nơi nào đó để ngụ vào: các năng lực gắng bám lấy một điều gì đó và tác động trên đó, dù là trí nhớ, trí năng hay ý chí.”
Hãy nghe giải thích đây. Đối tượng cùng nơi trú ngụ của trí năng là yếu tính, không phải tùy thể nhưng là hữu thể nguyên tuyền không tạp nhiễm trong tự thể. Khi trí năng phân định được đâu là chân hữu thể, nó giáng mình xuống đó, đến an nghỉ nơi đó, và phán lời trí tuệ của mình về đối tượng nó đã nắm bắt. Nhưng, chừng nào trí năng còn chưa tìm được chân hữu thể, và chưa thấm nhập xuống nền tảng để mà nói, “này là nó, nó như thế, chứ không khác” thì chừng nấy nó còn ở trong phận truy tìm và trông đợi; nó không an định hay nghỉ ngơi, mà lao động tiếp, dõi kiếm, trông đợi và chối bỏ. Và tuy có khi nó dành ra một năm hay hơn đặng suy cứu một sự thật tự nhiên, nhằm biết sự ấy là gì, nó vẫn phải hoạt động thêm một quãng lâu nữa để tháo bỏ khỏi sự ấy những gì không-phải-là. Suốt quãng ấy nó không có gì để nắm bắt và không phán điều gì cả, chừng nào nó còn chưa thấm nhập vào nền tảng của sự thật với sự nhận biết toàn vẹn. Thành ra, trí năng không bao giờ nghỉ yên trong đời này. Dù Thiên Chúa có mặc khải chính Người bao nhiêu trong đời này đi nữa, chừng bấy vẫn chẳng đáng là bao so với những gì Người thực-là. Tuy sự thật có ở đó, trong nền tảng, nó vẫn bị che lại và giấu đi khỏi trí năng. Hết quãng ấy, trí năng không có một đối tượng bất biến nào để nương vào và nghỉ yên. Nó vẫn không ngơi nghỉ, mà tiếp tục trông đợi và sửa soạn vì một điều gì còn phải được nhận biết, tuy tới nay vẫn còn ẩn kín. Thế nên, con người không thể biết Thiên Chúa là gì. Nhưng có điều này thì họ biết: Thiên Chúa không phải là gì.[14] Điều này, con người có trí năng sẽ phản đối. Trong lúc ấy, trí năng, không tìm thấy một chân đối tượng nào để nương vào, cứ chờ như chất thể chờ mô thể. Cũng như chất thể không bao giờ nghỉ yên cho tới khi nó được mô thể đổ đầy, trí năng cũng không thể yên nghỉ trừ phi nó ở trong sự thật tối yếu vốn dung chứa mọi sự. Chỉ có yếu tính mới làm thỏa nó, và Chúa rút lui khỏi nó từng bước, từng bước một, để khơi dậy lòng sốt sắng của nó rồi quyến dụ nó tiếp tục đi tìm và nắm bắt sự tốt lành chân thật, vô căn để nó không đẹp lòng với thứ gì khác ngoài việc luôn kêu cầu sự tốt lành chí cao thống ngự trên hết mọi sự.
Giờ anh em dễ lại nói, “Thưa thầy, thầy cứ nói hoài chuyện các quan năng ta phải nên thinh lặng, và giờ thì thầy lại bảo phải kêu van nài xin trong thinh lặng ấy. Đó hẳn phải là một tiếng rên xiết kêu la vì một điều ta chưa hề có, và như vậy thì bình an và thinh lặng này chấm dứt. Dù là khát muốn hay mục đích hay ngợi ca hay tạ ơn, hay bất kể thứ gì mà tâm trí sinh ra hoặc tưởng đến - thì đó cũng không phải là bình an trọn vẹn hay sự thinh lặng tuyệt đối.”
Để thầy giải thích. Khi anh em đã tước khỏi mình chính mình hoàn toàn, cùng mọi sự và mọi sự vướng mắc, và đã trao nộp, phó dâng, và từ bỏ mình hoàn toàn cho Thiên Chúa trong đức tin tối tuyệt cùng tình yêu trọn hảo, thì bất kể sự chi sinh ra trong anh em hay chạm đến anh em, bên trong hay bên ngoài, sầu khổ hay sướng vui, chua chát hay ngọt ngào, thì đều chẳng còn là của anh em nữa, mà hết thảy đều thuộc về Thiên Chúa của anh em, Đấng mà anh em đã bỏ mình cho Ngài. Anh em nói thầy nghe xem, lời được phán ra thuộc về ai? Thuộc về người nghe hay người phán? Tuy nó giáng đến người nghe, thực ra nó thuộc về người phán, là người đã sinh ra nó. Lấy ví dụ. Mặt trời chiếu ánh sáng vào bầu không; bầu không đón ánh sáng rồi truyền xuống mặt đất, nhờ vậy mà ta phân định được các màu sắc khác nhau. Giờ nhé, tuy ánh sáng tồn tại như là mô thể trong bầu không, nhưng về yếu tính thì nó ở trong mặt trời: ánh sáng thực sự phát xuất từ mặt trời, nơi sinh ra nó, chứ không phải trong không khí. Không khí chỉ tiếp nhận ánh sáng rồi truyền sang bất cứ vật gì khả năng đón ánh sáng mà thôi. Tâm hồn cũng thế thôi. Thiên Chúa sinh ngôi Lời trong tâm hồn, tâm hồn thụ thai Lời rồi truyền nó đến các năng lực của mình dưới nhiều dạng khác nhau: khi thì khát muốn, khi thì ý hướng tốt, khi thì bác ái, khi thì cảm tạ, hay bất cứ cách thức nào mà Lời tác động lên anh em. Tất tật là của Người, chứ chẳng phải của anh em dẫu một tơ hào. Điều gì Thiên Chúa làm theo lối ấy, anh em phải đón nhận tất cả như là của Người chứ không phải của anh em, như có lời chép, “Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng hằng hà sa số tiếng rên siết” (Rm 8:26). Ngài cầu nguyện bên trong chúng ta đấy, chứ chẳng phải chính ta đâu. Phao-lô còn nói, “Không ai có thể nói ‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’ mà không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12, 3).
Điều cần thiết trên hết mọi sự là: chớ xưng nhận bất cứ điều gì! Buông bỏ chính mình đi và để Thiên Chúa hành động với anh em và trong anh em theo ý Người. Công việc này là của Người, Lời là của Người, sự sinh này là của Người, từng sự hiện hữu nơi anh em đều thật là của Người. Bởi anh em đã từ bỏ ngã thể và đã đi ra khỏi các năng lực (của tâm hồn) cùng các hoạt động của chúng, và khỏi bản tính cá thể. Thành nên Thiên Chúa phải nhập vào hữu thể và các năng lực của anh em, vì chưng anh em đã tự tước bỏ khỏi mình mọi sở hữu, và nên như một hoang địa, như có lời chép, “Có tiếng người hô trong hoang địa” (Mt 3, 3). Khá để tiếng hằng cửu ấy kêu lên trong anh em theo điều nó muốn kêu, và trở nên như hoang địa, đối với chính mình và với hết thảy mọi sự.
Giờ anh em dễ lại nói, “Nhưng thưa thầy, người ta phải làm gì để trống không như hoang địa đối với chính mình và mọi sự? Có phải người ta nên đợi luôn, để Chúa hoạt tác và chẳng làm gì, hay người ta nên làm gì đó giữa lúc đợi, như cầu nguyện hay đọc hay làm một việc lành mạnh nào đó như nghe giảng hay học Sách Thánh chăng? Vì khi một người như thế không được đón nhận sự gì vào từ bên ngoài, nhưng chỉ từ bên trong, từ Thiên Chúa của người ấy, thì chẳng phải họ sẽ đánh mất đôi điều do không làm các việc ấy sao?”
Hãy nghe. Mọi công việc ngoại hướng đều được thiết lập và định liệu để hướng con người bên ngoài về Chúa và để thao luyện hầu cho họ sống thuộc linh và làm việc các việc lành, để họ khỏi sa đà vào những điều vô bổ: để làm chiếc cương ghì lại bản khuynh ưa trốn chạy khỏi mình mà đến các sự ngoại tại; hầu khi Thiên Chúa muốn hoạt tác trong họ, Người thấy họ đã sẵn sàng, khỏi phải kéo họ về từ những điều xa lạ và thô trọc. Bởi niềm khoái thích các sự ngoại tại càng lớn bao nhiêu, càng khó lìa bỏ chúng bấy nhiêu; tình yêu càng mạnh, nỗi đau khi phải phân ly càng bén.
Vậy ta thấy: Mọi công việc cùng các việc hành đạo - cầu nguyện, đọc, ca, thức canh, chay kiêng, khổ chế đền tội, hay bất cứ phép kỷ luật nào khác - đều được đặt ra để bắt lấy con người và hãm họ khỏi những sự xa lạ và không thánh. Bởi chưng, khi người ta nhận ra rằng Thần Khí không hoạt động trong mình và con người bên trong bị Chúa lìa bỏ, thì nhất định con người bên ngoài phải thực hành những việc nhân đức ấy, nhất là những việc nào khả thi, hữu ích, cần thiết cho họ; song không phải vì sự vướng mắc vị ngã, nhưng là để, nhờ lòng từ tôn dành cho chân lý giữ họ khỏi bị những điều thô trọc dụ dỗ và dẫn đi, họ được ở gần Chúa, để khi Chúa muốn trở lại và hành động trong tâm hồn thì Người thấy họ ở gần, chẳng phải tìm kiếm ở đâu xa. Nhưng nếu ai biết mình đã được thao luyện vững vàng trong đời nội hướng thật, thì hãy mạnh dạn buông bỏ mọi phép kỷ luật ngoại hướng, thậm chí những phép mà mình đã kết bản thân vào, vốn không giáo hoàng hay giám mục nào tháo gỡ mình ra được nổi. Những lời khấn con người đã lập với Thiên Chúa thì không ai có thể tháo gỡ, nhưng chúng có thể chuyển thành những điều khác: bởi mỗi lời khấn là một giao ước với Thiên Chúa. Song nếu người nào đã khấn trọng nguyện về những điều như cầu nguyện, chay kiêng, hay hành hương, rồi sau gia nhập một dòng tu nào đó, thì người ấy được giải thoát khỏi lời nguyện, bởi trong dòng tu họ đã khấn cho sự tốt lành toàn thể, và cho chính Thiên Chúa.
Đây thầy cũng sẽ nói như thế: Ai khấn trăm nghìn điều mặc lòng, khi đã nhập vào đời nội hướng thì họ được giải thoát khỏi chúng. Chừng nào đời nội hướng này còn - có là một tuần, một tháng, hay một năm - không chút thời gian nào bị mất đối với nam hay nữ tu ấy, bởi Thiên Chúa, Đấng đã bắt và giam họ, phải chịu trách nhiệm cho điều đó. Khi trở lại với Người, người ta nên thực hiện các lời mình khấn cho thời hiện tại; nhưng còn về khoảng thời gian trước đó mà anh em tưởng như mình đã bỏ phí, anh em chẳng phải bận tâm bù lại, bởi chính Thiên Chúa sẽ bù lại cho quãng mà Người đã khiến anh em bất động. Anh em chớ mong bù đắp quãng ấy bằng bất cứ hành động nào của loài thụ tạo, bởi hành động khẽ nhất của Thiên Chúa thôi cũng đã vượt xa hết mọi việc công việc của thụ tạo.
Bấy nhiêu là để nói với những người học thức và được sáng soi, những người được Chúa cùng sách Thánh dạy dỗ và soi sáng. Nhưng còn một giáo dân thuần phác chẳng hiểu và biết gì ngoài các phép kỷ luật thân xác, và đã vâng lấy một lời khấn nào đó, như cầu nguyện hay những việc tương tự, thì sao? Với người như thế, thầy nói thế này: Nếu họ thấy điều ấy ngăn trở và thấy mình đến gần Chúa hơn khi không có chúng, thì cứ mạnh dạn buông bỏ. Vì hễ việc chi mang anh em đến gần Chúa cùng vòng tay của Người hơn, việc ấy là tốt nhất. Đó chính là ý của Phao-lô khi ngài nói, “khi sự hoàn toàn tới, sự bất toàn biến đi” (1 Cr 13, 10). Có một nét khác biệt lớn giữa lời khấn lập trước linh mục với lời khấn được lập sơ thuần trước chính Chúa. Nếu người ta khấn gì với Chúa, thì đó là một ý hướng đáng khen bởi lấy đó mà kết mình vào Chúa, điều người ta thấy là tốt nhất vào lúc bấy giờ. Nhưng nếu về sau họ nhận ra một con đường khá hơn, thì, nhờ kinh nghiệm mà biết rằng đường ấy khá hơn, thì hãy cứ thoải mái bước khỏi điều trước mà đến với điều này, và đẹp lòng.
Chứng minh điều ấy rất dễ, bởi người ta nên xét đến hoa trái và sự thật nội hướng hơn là các hành động ngoại hướng. Như Phao-lô nói, “Chữ viết [tức là, mọi thực hành ngoại hướng] thì giết chết, còn Thần Khí thì mới ban sự sống” (2 Cr 3, 6), nghĩa là, một sự nhận ra nội hướng về sự thật. Anh em khá ghi nhớ điều này và hãy theo sự chi thích hợp hơn hết tất thảy cho anh em trên bước đường này. Thần [spirit] anh em phải được nâng lên, chứ không sa xuống, đúng hơn là phải bừng lên, mà vẫn ở trong một sự buông bỏ, tĩnh tại lặng thinh. Chẳng cần phải thưa với Chúa anh em muốn hay mong gì: Người đã biết rồi. Đức Ki-tô nói với các môn đệ Ngài rằng “Khi cầu nguyện, anh em đừng nhiều lời như các Pha-ri-sêu, họ tưởng cứ nói nhiều là được nhậm” (Mt 6, 7) .
Nguyện xin chúng ta biết tìm kiếm sự bình an và sự thinh lặng nội hướng, để Ngôi Lời hằng cửu được phán ra trong ta và cho ta hiểu được, để chúng ta được trở nên một với Ngài, nài xin Chúa là Cha cứu giúp chúng ta, cùng với Ngôi Lời và Thánh Thần của cả hai Ngôi. Amen.
Gia Hải dịch
[1] Đây là bài giảng cuối về Sự Sinh ra của Ngôi Lời.
[2] Tức Sự Giáng sinh sử tính của Chúa Giê-su Ki-tô, phân biệt với sự hằng sinh.
[3] Nguyên bản: zuoval. Đây cũng tức các “tùy thể” theo nghĩa kinh viện.
[4] Các nhà bình luận cho rằng, nhấn mạnh vào “sức” (gewalt) như thế này hình như không giống với Eckhart lắm.
[5] Ở tư cách một tu sĩ Đa Minh, Eckhart đặt trí năng cao hơn ý chí, trái với các tu sĩ Phan Sinh. Ông từng tranh luận về vấn đề này tại Paris với Tổng quyền Phan Sinh là Gonsalvus xứ Spain.
[6] Nguyên bản: lîdet. Nghĩa đen là “chịu” như đã thấy ở Bài giảng 2.
[7] Trong Bài giảng thứ hai của kỳ trước, người dịch đã dịch năng lực này thành “ký ức”, trong khi phải là “trí nhớ”. Ba năng lực của tâm hồn, theo thánh Augustine, bao gồm: trí năng, trí nhớ và ý chí.
[8] Cũng là Ngôi Lời.
[9] Giữa đường tới Đa-mách. Trung Đại lúc nào cũng quay đi quay lại với cú ngã của Phao-lô như thể toàn bộ thần học phương Tây được xây trên một cú ngã ngựa. Chắc cũng chẳng sai.
[11] Trong Expositio sancti Evangelii secundum Iohannem (Chú giải Tin Mừng Gioan), Eckhart đặt Ma-ri-a cao hơn Mác-ta, theo truyền thống.
[12] Là một thầy quản bận rộn, hẳn Eckhart đã ý thức rất sâu về vấn đề này.
[13] Nguyên bản: gezeugt. Ta gặp từ này trong Tín biểu Nicea: “được sinh ra mà không phải được tạo thành”.
[14] Ta thấy được con đường thần học phủ định của Eckhart ở đây.
