favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Hạ 2026
Next

Blanchot: Sự điên của ban ngày

31/05/2026 11:14

Tôi không uyên bác; tôi không vô tri. Tôi từng biết những niềm vui. Nói như thế còn quá ít: tôi đang sống, và cái sống đem lại cho tôi khoái lạc lớn nhất. Còn cái chết thì sao? Khi tôi chết (có lẽ ngay phút này đây), tôi sẽ cảm thấy một khoái lạc mênh mông. Tôi không nói tới vị nếm trước của cái chết, thứ vốn nhạt nhẽo và gây khó chịu. Đau đớn làm cùn mòn giác quan. Nhưng đây là sự thật đáng kinh ngạc và tôi chắc chắn về nó: tôi kinh qua một khoái lạc vô bờ bến trong sống và, tôi sẽ nhận lấy một sự mãn nguyện vô bờ bến trong chết.

Tôi lang thang; tôi đã đi từ nơi này sang nơi khác. Tôi đã ở yên một chỗ, đã sống trong một căn phòng duy nhất. Tôi từng nghèo, rồi giàu lên, rồi lại nghèo hơn rất nhiều người. Hồi còn nhỏ tôi có những say mê lớn và mọi điều tôi muốn đều được trao cho tôi. Tuổi thơ của tôi đã mất hút, tuổi trẻ của tôi ở lại phía sau. Chẳng hề gì. Tôi vui vì cái đã qua, tôi bằng lòng với cái đang là, và cái sắp đến cũng phù hợp với tôi.

Đời tôi có tốt hơn đời những người khác không? Có lẽ. Tôi có một mái nhà ở trên đầu mà nhiều người không có. Tôi không mắc bệnh phong, tôi không mù, tôi nhìn thấy thế giới - hạnh phúc ấy lạ biết bao! Tôi nhìn thấy ngày, và bên ngoài nó chẳng có gì. Ai có thể lấy điều đó khỏi tôi? Và khi ngày tàn đi, tôi sẽ tàn theo nó - một ý nghĩ, một điều chắc chắn, khiến tôi mê mẩn.

Tôi đã yêu những người khác, tôi đã mất họ. Tôi phát điên khi cú đánh giáng xuống mình, bởi đấy là địa ngục. Nhưng không có ai làm chứng cho sự điên của tôi; cơn cuồng loạn của tôi vô chứng cứ; chỉ có hữu thể sâu nhất là sự điên. Đôi khi tôi nổi giận. Người ta nói với tôi: “Sao anh bình tĩnh thế?” Nhưng tôi bị thiêu rụi từ đầu đến chân; ban đêm tôi chạy qua các con phố và tru lên; ban ngày tôi làm việc một cách bình thản.

Không lâu sau đó, sự điên của thế giới bùng lên. Tôi đã điên khi đứng dựa vào tường như bao người khác. Tại sao? Không vì gì hết. Những khẩu súng đã không nổ. Tôi tự nhủ: Chúa ơi, người đang làm gì vậy? Chính lúc ấy tôi thôi không còn mất trí. Thế giới do dự, rồi tìm lại thế thăng bằng của nó.

Khi lý trí trở lại với tôi, ký ức cũng trở lại cùng nó, và tôi thấy ngay cả trong những ngày tệ hại nhất, khi tôi nghĩ mình khốn khổ cùng cực, thì dẫu vậy, tôi vẫn, và gần như trong suốt thời gian ấy, hạnh phúc vô cùng. Điều đó cho tôi thứ gì để nghĩ. Khám phá ấy không dễ chịu. Tôi có cảm giác mình đang mất đi rất nhiều. Tôi tự hỏi: chẳng phải tôi đã buồn sao, chẳng phải tôi đã cảm thấy đời mình đang tan rã sao? Đúng, điều ấy từng là thật; nhưng mỗi phút, khi tôi ngồi yên không động đậy trong một góc phòng, cơn dịu mát của đêm và sự vững chãi của mặt đất cho tôi được thở và ngơi nghỉ trên niềm vui.

Con người muốn trốn thoát khỏi cái chết, những sinh thể lạ lùng như thế. Và vài người trong số họ kêu lên: “Chết đi, chết đi” bởi họ muốn trốn thoát khỏi cái sống. “Đời gì thế này. Tôi sẽ tự sát. Tôi sẽ đầu hàng.” Điều đó thật đáng thương và lạ lùng; một nhầm lẫn.

Thế nhưng tôi đã gặp những người chưa bao giờ nói với cái sống: “Im đi!”, chưa bao giờ nói với cái chết: “Đi đi!” Hầu như lúc nào cũng là phụ nữ, những sinh thể đẹp đẽ. Đàn ông thì bị nỗi kinh hoàng tấn công, đêm xuyên thủng họ, họ nhìn thấy các dự đồ của mình tan tác, công việc của mình hóa thành tro bụi. Những kẻ từng quan trọng đến thế, từng muốn tạo ra thế giới, bàng hoàng câm lặng; mọi thứ sụp xuống.

Tôi có thể mô tả những thử thách của mình không? Tôi đã không thể đi, không thể thở, không thể ăn. Hơi thở của tôi làm bằng đá, cơ thể tôi làm bằng nước, vậy mà tôi chết khát. Một ngày kia người ta xô tôi xuống đất; các bác sĩ phủ bùn lên tôi. Công việc gì đã diễn ra dưới đáy lớp đất ấy! Ai bảo ở đó lạnh? Đó là một giường lửa, đó là một bụi gai. Khi đứng dậy, tôi không còn cảm thấy gì nữa. Xúc giác của tôi lơ lửng cách tôi sáu bộ; nếu có ai bước vào phòng tôi sẽ kêu lên, nhưng con dao vẫn thanh thản cắt xẻ tôi. Vâng, tôi đã trở thành một bộ xương. Ban đêm, sự gầy guộc của tôi dựng lên trước mặt để khiến tôi khiếp hãi. Nó đến rồi đi, nó sỉ nhục tôi, nó làm tôi kiệt sức; ôi, tôi chắc chắn đã rất mệt.

Tôi có ích kỷ không? Tôi chỉ cảm thấy bị kéo về phía rất ít người, không thương hại ai, hiếm khi muốn làm vui lòng, hiếm khi muốn được làm vui lòng, và tôi, kẻ hầu như vô cảm nơi chính mình, chỉ đau khổ trong họ, đến mức nỗi lo nhỏ nhất của họ đối với tôi trở thành một bất hạnh lớn vô tận, và dẫu vậy, nếu phải thế, tôi cố ý hy sinh họ, tôi tước khỏi họ mọi cảm giác hạnh phúc (đôi khi tôi giết họ).

Tôi bước ra khỏi hố bùn với sức mạnh của độ chín. Trước đó tôi là gì? Tôi là một túi nước, một phần kéo dài không sức sống, một vực thẳm bất động. Tuy vậy tôi biết mình là ai; tôi vẫn sống tiếp, không rơi vào hư vô. Người ta từ xa đến nhìn tôi. Trẻ con chơi gần tôi. Phụ nữ nằm xuống đất để đưa tay cho tôi. Tôi đã từng trẻ. Hẳn là khoảng không đã làm tôi thất vọng.

Tôi không nhút nhát, tôi đã bị đời quật cho tơi tả. Một người nào đó (một người đàn ông đã đến bước đường cùng) nắm lấy tay tôi và cắm dao của hắn vào đó. Máu ở khắp nơi. Sau đó hắn run lên. Hắn chìa tay cho tôi để tôi có thể đóng đinh nó xuống bàn hoặc, lên một cánh cửa. Vì đã rạch tôi như thế, người đàn ông ấy, một kẻ điên, nghĩ rằng giờ đây hắn là bạn tôi; hắn đẩy vợ hắn vào vòng tay tôi; hắn theo tôi qua các con phố mà kêu: “Tôi bị nguyền rủa, tôi là món đồ chơi của một cơn mê sảng vô luân, tôi thú nhận, tôi thú nhận.” Một kẻ điên kỳ lạ. Trong lúc ấy, máu vẫn chảy xuống bộ com-lê duy nhất của tôi.

Phần lớn thời gian tôi sống trong các thành phố. Trong một thời gian, tôi đã sống một đời sống công khai. Tôi bị luật cuốn hút, tôi thích đám đông. Giữa những người khác tôi không được biết đến. Là không ai, tôi là tối thượng. Nhưng một ngày kia tôi mệt rũ vì làm hòn đá đánh chết những người cô độc. Để cám dỗ luật, tôi khẽ gọi nàng: “Lại đây; để ta nhìn nàng mặt đối mặt.” (Trong một khoảnh khắc tôi đã muốn kéo nàng ra riêng.) Đó là một lời gọi liều lĩnh. Tôi sẽ làm gì nếu nàng đáp lại?

Tôi phải thú nhận rằng tôi đã đọc rất nhiều sách. Khi tôi biến mất, tất tật những tập sách ấy sẽ thay đổi theo lối khó nhận ra; lề sách sẽ rộng ra, tư tưởng sẽ nhát hơn. Vâng, tôi đã trò chuyện với rất nhiều người, giờ đây điều đó làm tôi kinh ngạc; đối với tôi, mỗi người là cả một nhân quần. Con người khác rộng lớn ấy đã làm cho tôi trở nên nhiều hơn rất nhiều so với điều tôi hẳn đã muốn. Giờ đây đời tôi vững chắc đến đáng ngạc nhiên; ngay cả những căn bệnh chí tử cũng thấy tôi quá lì lợm. Tôi rất tiếc, nhưng tôi còn phải chôn cất vài người khác trước khi tự chôn cất mình.

Tôi đã bắt đầu chìm trong nghèo túng. Chậm rãi, nó vẽ những vòng tròn quanh tôi; vòng đầu tiên dường như còn để lại cho tôi mọi thứ, vòng cuối cùng chỉ chừa lại cho tôi chính tôi. Một ngày kia, tôi thấy mình bị giam trong thành phố; việc đi xa chẳng còn hơn gì một ảo tưởng. Tôi không thể gọi điện thoại. Quần áo tôi cũ mòn đi. Tôi chịu lạnh; mùa xuân, mau lên. Tôi đến các thư viện. Tôi đã kết bạn với một người làm việc trong một thư viện và anh ta đưa tôi xuống tầng hầm bí bức. Để có ích cho anh ta, tôi hân hoan phi nước đại dọc theo những lối đi nhỏ xíu và mang về cho anh ta những cuốn sách mà rồi anh ta chuyển tiếp cho tinh thần u ám của sự đọc. Nhưng tinh thần ấy ném vào tôi những lời chẳng mấy tử tế; tôi co rúm lại trước nó; nó nhìn thấy tôi đúng như tôi là, một con côn trùng, một sinh vật có hàm nhai trồi lên từ những vùng tối của sự nghèo túng. Tôi là ai? Trả lời câu hỏi ấy hẳn đã ném tôi vào nỗi bối rối lớn.

Ở ngoài trời, tôi có một thị kiến ngắn ngủi: cách tôi vài bước, ngay ở góc phố mà tôi sắp đi khỏi, một người phụ nữ với chiếc xe nôi đã dừng lại; tôi không nhìn rõ cô lắm, cô đang xoay xở chiếc xe để đưa nó qua cánh cửa ngoài. Đúng lúc ấy, một người đàn ông mà tôi đã không thấy tiến lại bước qua cánh cửa đó. Anh ta đã đặt chân qua ngưỡng thì lùi lại và lại đi ra. Trong khi anh ta đứng bên cạnh cửa, chiếc xe nôi, khi đi ngang trước mặt anh ta, hơi nhấc lên để vượt qua ngưỡng cửa, và người phụ nữ trẻ, sau khi ngẩng đầu lên nhìn anh ta, cũng biến mất vào trong.

Xen ngắn ngủi ấy làm tôi kích động đến mức mê sảng. Chắc chắn tôi không thể tự giải thích cho mình đến nơi đến chốn và vậy mà tôi chắc chắn về nó, rằng tôi đã tóm được khoảnh khắc ban ngày, vấp phải một biến cố đích thực, sẽ bắt đầu hối hả đi về tận cùng của nó. Nó đến rồi, tôi tự nhủ, tận cùng đang đến; có cái gì đó đang xảy ra, tận cùng bắt đầu. Tôi bị niềm vui chộp lấy.

Tôi đi tới ngôi nhà nhưng không bước vào. Qua khoảng mở tôi nhìn thấy rìa đen của một khoảng sân. Tôi tựa vào bức tường ngoài; tôi thật sự rất lạnh. Khi cái lạnh quấn lấy tôi từ đầu đến chân, tôi chậm rãi cảm nhận tầm vóc lớn lao của mình nhận lấy kích thước của cái lạnh mênh mông ấy; nó lớn lên một cách bình thản, theo các luật của bản tính thật của nó, và tôi nán lại trong niềm vui và sự toàn bích của hân hoan ấy, trong một khoảnh khắc, đầu tôi cao ngang phiến đá của trời và chân tôi trên mặt lát đường.

Tất tật điều này là thật; hãy ghi lấy.

Tôi không có kẻ thù. Không ai quấy rầy tôi. Đôi khi một nỗi cô độc mênh mông mở ra trong đầu tôi và toàn bộ thế giới mất hút vào trong đó nhưng rồi lại đi ra nguyên vẹn, không một vết xước, không hề hấn gì. Tôi suýt mất thị giác bởi có người đã nghiền thủy tinh trong mắt tôi. Cú đánh ấy làm tôi rối loạn, tôi phải thừa nhận. Tôi có cảm giác mình đang lùi vào bức tường, hoặc đi lạc vào một bụi đá lửa. Điều tệ hại nhất là sự tàn nhẫn đột ngột, gây choáng váng của ban ngày; tôi không thể nhìn, nhưng tôi không thể không nhìn. Nhìn thì khủng khiếp, mà thôi không nhìn thì xé tôi ra từ trán xuống tận cổ họng. Hơn thế nữa, tôi nghe những tiếng linh cẩu tru, phơi tôi ra trước mối đe dọa của một con thú hoang (tôi nghĩ những tiếng tru ấy là của chính tôi).

Khi thủy tinh đã được gắp ra, người ta luồn một lớp màng mỏng dưới mí mắt tôi và trên mí mắt người ta đặt những bức tường bông. Tôi không được nói bởi nói sẽ kéo căng những mấu neo của băng gạc. “Anh đã ngủ,” về sau bác sĩ nói với tôi. Tôi đã ngủ! Tôi đã phải chống đỡ trước ánh sáng của bảy ngày - một đám cháy đẹp đẽ! Vâng, bảy ngày một lúc, bảy thứ ánh sáng chết chóc, trở thành tia lửa của chỉ một khoảnh khắc, đang gọi tôi ra chịu phần trách nhiệm. Ai có thể tưởng tượng điều đó? Có lúc tôi tự nhủ: “Đây là cái chết. Dẫu sao đi nữa, nó đáng, nó gây ấn tượng mạnh.” Nhưng thường tôi nằm chết mà không nói gì. Rốt cuộc tôi tin chắc rằng mình đang mặt đối mặt với sự điên của ban ngày. Đó là sự thật: ánh sáng đang phát điên, độ sáng đã mất hết lý trí; nó tấn công tôi một cách phi lý, không kiểm soát, không mục đích.

Khám phá ấy cắn xuyên đời tôi.

Tôi đã ngủ! Khi tỉnh dậy tôi phải nghe một người đàn ông hỏi tôi: “Anh định kiện không?” Một câu hỏi lạ lùng để hỏi một kẻ vừa trực tiếp giao thiệp với ban ngày.

Ngay cả sau khi đã bình phục, tôi vẫn nghi ngờ việc mình lành lặn. Tôi không thể đọc hay viết. Tôi bị vây quanh bởi một phương Bắc mù sương. Nhưng điều lạ lùng là thế này: mặc dù tôi đã không quên sự tiếp xúc thống khổ với ban ngày, tôi lại đang héo mòn vì phải sống sau những tấm rèm, sau cặp kính đen. Tôi muốn nhìn thấy một cái gì đó giữa ban ngày đầy đủ; tôi đã no chán khoái lạc và sự dễ chịu của ánh sáng lưng chừng; tôi có cùng một dục vọng đối với ban ngày như đối với nước và khí trời. Và nếu nhìn là lửa, tôi đòi sự viễn mãn của lửa, và nếu việc nhìn thẳng lây cho tôi sự điên, tôi điên cuồng khao khát sự điên ấy.

Người ta cho tôi một vị trí khiêm tốn trong cơ sở ấy. Tôi trực điện thoại. Bác sĩ điều hành một phòng thí nghiệm bệnh học (ông quan tâm đến máu), và người ta đến đấy uống thứ thuốc nào đó. Nằm duỗi trên những chiếc giường nhỏ, họ thiếp đi. Một người trong số họ dùng mưu mẹo đáng kể: sau khi uống thứ thuốc được kê, anh ta uống thuốc độc và rơi vào hôn mê. Bác sĩ gọi đó là một trò bẩn thỉu. Ông làm cho anh ta sống lại và “kiện” anh ta vì giấc ngủ gian trá của anh ta. Thật vậy sao! Đối với tôi, dường như người bệnh ấy xứng đáng được hơn thế.

Dù thị giác của tôi hầu như chẳng suy yếu chút nào, tôi đi qua các con phố như một con cua, bám chặt lấy những bức tường, và mỗi khi buông chúng ra, cơn chóng mặt lại vây quanh từng bước chân. Tôi thường thấy cùng một tấm áp phích trên những bức tường ấy; đó là một tấm áp phích đơn giản với những chữ khá lớn: Bạn cũng muốn điều này. Dĩ nhiên tôi muốn nó, và mỗi lần gặp lại những chữ nổi bật ấy, tôi lại muốn nó.

Thế nhưng một cái gì đó trong tôi rất nhanh chóng không còn muốn nữa. Đọc đối với tôi là một nỗi mệt mỏi lớn. Đọc làm tôi mệt không kém gì nói, và lời nói đúng nhỏ nhất mà tôi thốt ra cũng đòi hỏi một sức lực nào đó mà tôi không có. Người ta nói với tôi: “Anh chấp nhận những khó khăn của mình một cách tự mãn quá.” Điều ấy làm tôi kinh ngạc. Ở tuổi hai mươi, trong cùng tình cảnh ấy, hẳn chẳng ai để ý tôi. Ở tuổi bốn mươi, hơi nghèo, tôi đang trở nên khốn cùng. Và vẻ ngoài thảm hại ấy đến từ đâu? Tôi nghĩ mình nhặt nó ngoài phố. Những con phố đã không làm tôi giàu lên, như theo lẽ chúng đáng ra phải làm. Hoàn toàn ngược lại. Khi tôi đi dọc các vỉa hè, chìm vào ánh sáng lóa mắt của tàu điện ngầm, rẽ xuống các đại lộ đẹp đẽ nơi thành phố tỏa rạng lộng lẫy, tôi trở nên vô cùng đờ đẫn, nhũn nhặn và lừ đừ. Hấp thụ một lượng quá đáng sự hoang tàn vô danh, tôi lại càng bị hút vào sự hoang tàn ấy vốn không dành cho mình và nó làm tôi thành ra một cái gì khá mơ hồ và vô dạng; chính vì thế mà nó có vẻ bộ tịch, không biết xấu hổ. Điều gây khó chịu nơi sự nghèo túng là nó nhìn thấy được, và bất kỳ ai nhìn thấy nó đều nghĩ: Thấy chưa, tôi đang bị buộc tội; ai đang tấn công tôi? Nhưng tôi tuyệt nhiên không muốn giắt công lý xung quanh quần áo mình.

Người ta nói với tôi (khi thì bác sĩ, khi thì các y tá): “Anh là một người có học, anh có thiên bẩm; vì không dùng những năng lực ấy, những năng lực mà nếu được chia cho mười người không có chúng hẳn sẽ cho phép họ sống, anh đang tước khỏi họ cái họ không có, và sự nghèo túng của anh, vốn có thể tránh được, là sự xúc phạm đối với những nhu cầu của họ.” Tôi hỏi: “Sao lại có những bài lên lớp này? Tôi đang đánh cắp chỗ của chính mình sao? Hãy lấy lại nó từ tôi.” Tôi cảm thấy mình bị vây quanh bởi những ý nghĩ bất công và những lý lẽ ác ý. Và người ta đang dựng cái gì lên để chống lại tôi? Một thứ học thức vô hình mà không ai có thể chứng minh và chính tôi cũng tìm kiếm bất thành. Tôi là một người có học! Nhưng có lẽ không phải lúc nào cũng thế. Có thiên bẩm? Những thiên bẩm ấy ở đâu, những thứ bị bắt phải nói như các quan tòa mặc áo choàng ngồi trên ghế xử, sẵn sàng kết án tôi đêm ngày?

Tôi khá thích các bác sĩ và tôi không cảm thấy mình bị hạ thấp bởi những hoài nghi nơi họ. Điều phiền nhiễu là uy quyền của họ cứ lớn lên từng giờ. Người ta không nhận ra điều đó, nhưng những người ấy là vua. Mở toang các phòng của tôi họ nói: “Mọi thứ ở đây thuộc về chúng tôi.” Họ chồm vào những mẩu tư tưởng của tôi: “Cái này là của chúng tôi.” Họ thách thức câu chuyện của tôi: “Nói đi”, và câu chuyện của tôi liền tự đặt mình dưới sự phục vụ của họ. Vội vã, tôi tự trút bỏ chính mình khỏi chính mình. Tôi phân phát máu của tôi và hữu thể sâu nhất nơi tôi cho họ, cho họ mượn vũ trụ, trao cho họ ban ngày. Ngay trước mắt họ, dẫu họ chẳng hề sửng sốt, tôi trở thành một giọt nước, một vết mực. Tôi tự rút mình về họ. Toàn bộ sự hiện diện của tôi đi qua trước mắt họ, trọn vẹn, và khi cuối cùng chẳng còn gì hiện diện ngoài hư vô hoàn toàn của tôi, chẳng còn gì để thấy nữa, thì họ cũng thôi không nhìn thấy tôi. Rất bực tức, họ đứng dậy và kêu lên: “Được rồi, anh ở đâu? Anh đang trốn ở đâu? Cấm được trốn, đó là tội,” vân vân.

Sau lưng họ tôi nhìn thấy hình bóng của luật. Không phải kiểu luật mọi người đều biết, nghiêm khắc và chẳng mấy dễ chịu; luật này khác. Còn lâu tôi mới làm mồi cho mối đe dọa của nàng, chính tôi mới là kẻ dường như khiến nàng khiếp đảm. Theo nàng, cái nhìn của tôi là một tia sét và hai bàn tay tôi là những lý do để tiêu vong. Hơn nữa, luật, một cách phi lý, gán cho tôi mọi quyền năng; nàng tuyên bố mình vĩnh viễn quỳ gối trước tôi. Nhưng nàng không để tôi hỏi bất cứ điều gì và khi nàng đã thừa nhận quyền của tôi được ở khắp nơi, điều đó có nghĩa là tôi chẳng có chỗ ở đâu cả. Khi nàng đặt tôi lên trên những thẩm quyền, điều đó có nghĩa là: Anh không được phép làm gì hết. Nếu nàng hạ mình, ấy là: Anh không kính trọng tôi.

Tôi biết một trong những mục đích của nàng là khiến tôi “thấy công lý được thực thi.” Nàng nói với tôi: “Giờ đây anh là một trường hợp đặc biệt; không ai có thể làm gì anh. Anh có thể nói, chẳng có gì ràng buộc anh; những lời thề không còn trói buộc anh; những hành vi của anh không có hệ quả. Anh giẫm đạp lên tôi, và tôi đây, tôi là đầy tớ của anh mãi mãi.” Đầy tớ ư? Tôi không cần một đầy tớ dù bất cứ giá nào.

Nàng nói với tôi: “Anh yêu công lý.” “Vâng, tôi nghĩ thế.” “Vì sao anh để công lý bị xúc phạm nơi con người anh vốn đáng kể đến thế?” “Nhưng con người tôi đối với tôi chẳng có gì đáng kể.” “Nếu công lý yếu đi trong anh, nàng sẽ yếu đi nơi những người khác, những kẻ sẽ phải chịu khổ vì điều đó.” “Nhưng việc này không liên quan đến nàng.” “Mọi việc đều liên quan đến nàng.” “Nhưng như nàng đã nói, tôi là một trường hợp đặc biệt.” “Đặc biệt nếu anh hành động - không bao giờ, nếu anh để những người khác hành động.”

Nàng bị giảm xuống tới chỗ chỉ nói những điều vô ích: “Sự thật là chúng ta không bao giờ còn có thể tách khỏi nhau nữa. Tôi sẽ theo anh khắp nơi. Tôi sẽ sống dưới mái nhà anh; chúng ta sẽ chia sẻ cùng một giấc ngủ.”

Tôi đã để mặc cho người ta nhốt mình lại. Tạm thời thôi, họ nói với tôi. Được, tạm thời. Trong những giờ ngoài trời, một cư dân khác, một ông già râu trắng, nhảy lên vai tôi và khua khoắng trên đầu tôi. Tôi nói với ông ta: “Ông là ai, Tolstoy à?” Vì thế bác sĩ nghĩ tôi điên thật. Rốt cuộc tôi cõng tất cả mọi người đi vòng quanh trên lưng mình, một nút thắt những người quấn chặt vào nhau, một toán đàn ông trung niên bị dụ lên đó bởi một dục vọng thống trị hão huyền, một tính trẻ con bất hạnh, và khi tôi sụp xuống (bởi rốt cuộc tôi đâu phải ngựa) phần lớn các bạn đồng cư của tôi cũng ngã lăn theo, họ đánh tôi bầm dập. Đó là những thời gian hạnh phúc.

Luật phê phán hành xử của tôi một cách gay gắt: “Anh đã rất khác so với lúc trước kia tôi biết anh.” “Rất khác?” “Người ta không thể nhạo báng anh mà không bị trừng phạt. Nhìn thấy anh là đáng bằng cả mạng sống. Yêu anh có nghĩa là cái chết. Người ta đào những cái hố rồi tự chôn mình trong đó để thoát khỏi cái nhìn của anh. Họ nói với nhau: ‘Anh ta đi qua chưa? Phúc thay mặt đất che giấu chúng ta.’” “Họ sợ tôi đến thế sao?” “Nỗi sợ đối với anh chưa đủ, lời ngợi ca từ đáy lòng cũng chưa đủ, một đời sống ngay thẳng cũng chưa đủ, sự khiêm nhường trong bụi đất cũng chưa đủ. Và trên hết, đừng để ai chất vấn tôi. Ai còn dám nghĩ đến tôi?”

Nàng kích động một cách lạ lùng. Nàng tôn vinh tôi nhưng chỉ để mình được nâng cao lên. “Anh là nạn đói, bất hòa, sát nhân và tận cùng.” “Chà,” tôi nói với nàng, “như thế đã quá đủ để cả hai chúng ta bị nhốt lại rồi.” Sự thật là tôi thích nàng. Trong khung cảnh này, nơi đàn ông đông quá mức, nàng là yếu tố nữ duy nhất. Một lần nàng đã khiến tôi chạm vào đầu gối nàng - một cảm giác lạ lùng. Tôi đã nói với nàng đúng như thế: “Tôi không phải loại đàn ông chỉ thỏa mãn với một cái đầu gối!” Nàng đáp: “Như vậy thì ghê tởm!”

Đó là một trong những trò chơi của nàng. Nàng chỉ cho tôi một phần của không gian, giữa mép trên cửa sổ và trần nhà. “Anh ở đó,” nàng nói. Tôi nhìn chằm chằm vào điểm ấy. “Anh có ở đó không?” Tôi nhìn nó bằng tất tật sức lực của mình. “Thế nào?” Tôi cảm thấy các vết sẹo bay khỏi mắt tôi, thị giác của tôi là một vết thương, đầu tôi là một cái lỗ, một con bò mộng bị moi ruột. Đột nhiên nàng kêu lên: “Ôi, tôi thấy ban ngày, ôi Chúa ơi,” vân vân. Tôi phản đối rằng trò chơi này làm tôi mệt ghê gớm, nhưng nàng thì cứ khăng khăng không biết no với vinh quang của tôi.

Ai đã ném thủy tinh vào mặt anh? Câu hỏi ấy sẽ trở lại trong tất tật những câu hỏi khác. Nó không được đặt ra trực tiếp hơn thế, nhưng là ngã tư nơi mọi con đường đều dẫn về. Người ta đã chỉ cho tôi thấy rằng câu trả lời của tôi sẽ chẳng hé lộ điều gì bởi mọi thứ từ lâu đã được hé lộ. “Vậy thì lại càng có lý do để không nói.” “Nghe này, anh là một người có học; anh biết im lặng thì gây chú ý. Sự câm lặng của anh đang phản bội anh theo cách ngu xuẩn nhất.” Tôi đáp họ: “Nhưng sự im lặng của tôi là thật. Nếu tôi giấu nó khỏi các người, các người sẽ lại tìm thấy nó xa hơn một chút. Nếu nó phản bội tôi thì càng tốt cho các người, nó giúp các người, và càng tốt cho tôi, kẻ mà các người nói là các người đang giúp.” Vì thế họ phải khuấy đảo cả trời đất để đi đến tận đáy chuyện ấy.

Tôi đã bị lôi vào cuộc tìm kiếm của họ. Tất cả chúng tôi đều như những thợ săn mang mặt nạ. Ai đang bị hỏi? Ai đang trả lời? Kẻ này trở thành kẻ kia. Những lời tự chúng nói. Sự im lặng đi vào trong chúng, một nơi trú ẩn tuyệt hảo, bởi tôi là người duy nhất nhận ra nó.

Người ta đã yêu cầu tôi: Hãy kể cho chúng tôi “thật chính xác” điều đã xảy ra. Một câu chuyện ư? Tôi bắt đầu: Tôi không uyên bác; tôi không vô tri. Tôi từng biết những niềm vui. Nói như thế còn quá ít. Tôi kể cho họ toàn bộ câu chuyện và họ lắng nghe, đối với tôi dường như vậy, với vẻ quan tâm, ít nhất là lúc đầu. Nhưng đoạn cuối làm tất cả chúng tôi ngạc nhiên. “Đó là phần mở đầu,” họ nói. “Bây giờ hãy đi vào các sự kiện.” Thế nghĩa là sao? Hết chuyện rồi!

Tôi phải thừa nhận rằng mình không có khả năng tạo ra một câu chuyện từ những biến cố ấy. Tôi đã mất cảm thức về câu chuyện; điều đó xảy ra trong khá nhiều bệnh tật. Nhưng lời giải thích này chỉ khiến họ càng khăng khăng. Khi ấy lần đầu tiên tôi nhận ra rằng họ có hai người, và sự bóp méo phương pháp truyền thống này, dù được giải thích bởi sự kiện một người là bác sĩ mắt, người kia là chuyên gia về bệnh tâm thần, vẫn không ngừng trao cho cuộc trò chuyện của chúng tôi tính chất của một cuộc thẩm vấn uy quyền, được giám sát và kiểm soát bởi một bộ quy tắc nghiêm ngặt. Dĩ nhiên chẳng ai trong hai người là cảnh sát trưởng. Nhưng bởi vì họ có hai người, nên đã có ba người, và người thứ ba ấy, tôi chắc chắn, vẫn tin một cách vững vàng rằng một nhà văn, một con người nói và lý luận một cách xuất sắc, bao giờ cũng có khả năng kể lại những sự kiện mà anh ta nhớ.

Một câu chuyện? Không. Không còn câu chuyện nào hết, không bao giờ.

Thanh Nghi dịch

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công