Thomas Mann: Lotte ở Weimar
Thomas Mann là một trong số các tác giả trải qua cả hai thế chiến khốc liệt nhất và lập trường chính trị của ông là chủ đề rất được bàn tán và nghiên cứu, vì quan điểm ấy không đứng yên, nó dịch chuyển và biến đổi. Nhưng không vì thế mà ông bị nhìn nhận là thiếu nhất quán hay phản bội chính mình và nước Đức. Một người gây ra nhiều tranh cãi nhưng chẳng ai có thể cho rằng đó không phải người con của nước Đức, không mang tinh thần Đức. Lotte ở Weimar (1939) được viết khi Mann đã trở thành một người lưu vong, đã không còn ở đất nước của mình, nơi lúc bấy giờ đã hoàn toàn đi theo chủ nghĩa Quốc Xã và khắp châu Âu đang tiến gần hơn đến Thế chiến II. Trong Thế chiến thứ nhất, ông đã xuất bản cuốn Những suy nghĩ về thời chiến (1918) và một trong số các tiểu luận trong đó đã được đăng ở Văn Bản.
Phần dưới đây được lấy ra từ chương VII trong cuốn tiểu thuyết Lotte ở Weimar của Thomas Mann. Tác phẩm vô cùng đặc biệt vì không chỉ có ý nghĩa với chính tác giả mà còn với những Goethean và các độc giả của Tình sầu của chàng Werther. Không như quan điểm vội vàng, song phổ biến dễ gặp khi nghe tên và bối cảnh của tiểu thuyết, rằng đây chỉ là một tiểu thuyết để Mann thể hiện sự ái mộ với con người vĩ đại của văn chương Đức - Goethe - bằng cách tự sáng tác phần ngoại truyện cho Werther, Lotte ở Weimar còn có thể được coi là một cuốn tiểu thuyết chính trị, một sự tự bào chữa có tính cách tự vệ cho lập trường cá nhân của Mann và rộng ra là cho cái tinh thần mà ông vừa yêu vừa hận - tinh thần Đức.
Trong chương này, độc thoại nội tâm của Goethe chiếm phần lớn, cũng là cách Mann giải phẫu con người thiên tài ấy bằng sự hiểu biết và những đánh giá cá nhân sắc sảo của mình. Ở Goethe và Mann có những tương quan và cho phép Mann làm được điều này. Không chỉ sự ái mộ, phải có thêm sự đồng cảm khi nhìn vào số phận người khác để một tác giả có thể vừa tạo ra và vừa trở thành nhân vật.
Ông ngoại ta, Textor, là một tay sát gái; đúng, điều đó đến từ vẻ hồn nhiên và đầy khát vọng; một kẻ phong tình vui tính, một kẻ rắp tâm săn đuổi phụ nữ, lúc nào cũng vướng vào mấy ông chồng phẫn nộ. Nhưng cũng là một người thấu suốt, có tài tiên tri. Sự kết hợp phi thường! Có lẽ ta phải loại bỏ tất tật các em[1] của mình để sự kết hợp đó truyền lại cho ta trong hình dạng dễ chịu, ôn hòa và làm hài lòng hơn. Cũng đủ sự điên rồ đọng lại trong ta, bên dưới toàn bộ vẻ xuất chúng! Nếu như ta không thừa hưởng tài tổ chức, mánh thoát thân, một hệ thống trọn vẹn các biện pháp phòng vệ - thì ta sẽ ra sao? Sự điên mà ta ghê tởm - khinh ghét từ trong tâm hồn, vượt mọi khả năng để diễn tả, căm ghét tận xương tủy lũ thiên tài hoặc gần bằng thiên tài đầu óc gàn dở, đề cao cảm xúc, khoa chân múa tay, phô trương! Táo bạo, phải, liều lĩnh, táo bạo là tất cả, điều không thể thay thế - nhưng âm thầm, đoan chính, gắn chặt với những phép tắc, được bọc nhung từ sự mỉa mai. Đó chính là ta, và là những gì ta sẽ trở thành. Từng có gã đó - tên gã là gì nhỉ? Tại Sonnenberg, họ gọi gã là Cimbrian. Từ Klopstock, mắt láo liên hay vò đâu bứt tóc - nhưng sâu thẳm là một người khá đoan trang. Vụ lớn nhất của gã là một bài thơ về Ngày Phán Xét Cuối Cùng, một việc nhớ ngẩn, không trau chuốt trong chính sự hồ đồ của nó. Không hình thức, như tận thế - gã thường đọc nó như kẻ bị quỷ ảm. Thật không thể chịu nổi. Khiến ta phát sốt. Cuối cùng thì, tên thiên tài nhảy khỏi cửa sổ. Vĩnh biệt, vĩnh biệt! Absit omen[2]!
Tốt, giờ thì; ông ấy đã uốn nắn ta, cho ta phẩm giá và lịch duyệt , một chút giống thời xưa cũ hơn, uy nghi hơn. Khi khách khứa đến, ta sẽ nói về những điều vụn vặt với một giọng chừng mực, làm hai bên đều vui. Không một dấu vết nào của bóng tối, thiên tài khó hiểu mà những kẻ tầm thường tội nghiệp ấy thích ngắm nhìn và thu nhận sự bồi dưỡng tinh thần từ những cơn rùng mình thích thú của họ. Mặt mũi ta hẳn đủ thứ cho họ bàn tán: trán, và đôi mắt được hết lời ca ngợi - mấy nét đó, nhìn qua những bức ảnh, lấy trực tiếp từ mẹ của mẹ ta, sinh ra ở Lindheymer, vợ của Textor, cả hình dạng cái đầu và khuôn miệng, và làn da kiểu Địa Trung Hải. Cái vỏ, những đường nét bề ngoài, chúng đã ở đó cả trăm năm, chẳng có gì đáng kể hơn là một người đàn bà, đẫy đà, một người đàn bà tóc nâu lanh lợi, ôm vừa một vòng tay. Nơi mẹ ta điều đó còn tiềm ẩn, bà có một dáng vẻ rất khác. Vì thế nó đã toát ra ở ta, trở thành vóc dáng và diện mạo của ta. Khoác lên một ý nghĩa thuộc trí năng không hề có trước đây và không cần phải có. Phải chăng tất yếu thể xác của ta thể hiện tâm trí ta? Liệu ta có thể mang đôi mắt này mà chúng lại không phải là đôi mắt của Goethe? Cứ giống bên Lindheymer - có lẽ là điều tốt nhất nơi ta. Thấy thích thú khi nghĩ đến trốn cư ngụ trước kia của họ, từ đó mà có cái tên cho họ, nằm sát tường thành La Mã, trên triền dốc phân thủy, nơi dòng máu tổ tiên và man rợ vẫn luôn luôn hòa quyện. Chính từ đó ngươi sinh ra, từ đó ngươi có làn da này, đôi mắt này, sự xa cách của ngươi với người Đức, nhận thức của ngươi về sự hèn hạ của họ; cái giống loài đáng nguyền rủa ấy, từ chính nó, bất chấp nó, ngươi chấp nhận cuộc đời mình, sự chán ghét dành cho nó gặm nhấm hàng ngàn gốc rễ nuôi dưỡng chính con người ngươi. Vì thế ngươi sống cái cuộc đời bấp bênh, khổ sở khôn tả này, bị triệu đến để cho họ sự giáo huấn, bị cô lập không chỉ vì địa vị của ngươi mà ngay từ đầu là vì bản năng của ngươi; miễn cưỡng được kính trọng và vinh danh, bị bắt lỗi bất kỳ chỗ nào họ có thể thấy! Chẳng lẽ ta không biết bọn họ đều quy trách ta, tất tật bọn họ! Làm sao ta có thể làm họ vừa lòng? Có những lúc ta hẳn sẽ rất vui khi làm thế. Hẳn phải khả thi chứ - đã có khi - vì trong xương tủy bọn họ cũng như ngươi có quá nhiều cốt túy của Sachs và Luther[3]; ngươi thậm chí còn có một khoái cảm ngang tàng trong sự vị, cũng chính là hình thức và dấu ấn của cái tinh thần thúc giục ngươi nâng và thắp sáng nó lên bằng toàn bộ tài châm biếm và sự duyên dáng trong ngôn từ. Vì thế họ không tin vào tinh thần Đức trong ngươi, họ thấy nó là một sự lăng mạ, danh tiếng của ngươi là một nguồn cho căm ghét và giày vò giữa bọn họ. Sự tồn tại đáng thương, dùng để vật lộn và giằng co với chính dòng máu của mình - song sau cùng thì đó vẫn là dòng máu của ta, nó đã chống đỡ cho ta. Chuyện phải thế, ta sẽ không than vãn. Nhưng bọn họ căm ghét sự sáng tỏ là không đúng. Họ chẳng biết sức hút của chân lý, đáng tiếc thật. Họ coi trọng đến thế sự khoa trương mơ hồ và những sự thái quá cuồng bạo, phát tởm; khốn nạn khi họ buông mình một cách nhẹ dạ trước mọi tên vô lại cuồng tín nói trúng các phẩm chất thấp kém của họ, củng cố họ trong những sa đọa, dạy họ rằng tính dân tộc là sự man rợ và biệt lập. Với họ, dường như thấy bản thân vĩ đại và huy hoàng chỉ khi đã đánh cược toàn bộ điều đáng có của mình. Rồi họ nhìn, bằng ánh nhìn cay độc, những kẻ được những người ngoại quốc yêu mến và kính trọng, thấy trong đó nước Đức đúng nghĩa. Không, ta sẽ không cho họ thỏa mãn. Họ không ưa gì ta - thì cứ thế đi, ta cũng đâu thích bọn họ, chúng ta huề. Ta giữ cho riêng mình tinh thần Đức của ta - và quỷ tha ma bắt bọn họ cùng sự ác ý dung tục mà họ cho là kiểu Đức! Bọn họ nghĩ mình là nước Đức - nhưng phải là ta. Còn lại cứ diệt sạch tận gốc rễ. Sẽ còn sống sót trong ta. Cố hết sức mà gạt ta ra, thì ta vẫn đứng về phía các ngươi. Nhưng có điều, ta được sinh ra vốn để hóa giải hơn là gây bi kịch. Hòa hợp, quân bình - chẳng phải là toàn bộ nỗ lực của ta và việc của ta là khẳng định, thừa nhận và mang lại kết quả cho bên này cũng như bên kia, cân bằng, hài hòa đó ư? Sự kết hợp của tất tật các lực hợp thành thế giới; mỗi cái đều có sức nặng riêng, xứng đáng được phát triển, mỗi tố chất chỉ đạt đến sự toàn diện thông qua chính nó. Tính cá nhân và xã hội, ý thức và sự hồn nhiên, tinh thần lãng mạn và óc thực tế, đều ngang nhau, đều toàn vẹn - chấp nhận, dung nạp, thành toàn thể, khiến những kẻ khư khư bám lấy bất kỳ nguyên lý nào phải hổ thẹn bằng cách hoàn thiện chính nguyên lý ấy - và cả phía còn lại … Nhân tính như sự hiện diện phổ quát khắp nơi; sự chế nhạo âm thầm nhắm vào chính nó, khuôn mẫu cao quý nhất, không thể cưỡng lại, quyền bá chủ thế giới như sự mỉa mai và ung dung phản bội mọi phe! Vì thế bi kịch dần tan biến, sa xuống dưới kia nơi sự làm chủ vẫn chưa hiện hữu, nơi nước Đức của ta chưa tồn tại, vì nước Đức của ta cốt là ở chính sự thống trị và làm chủ ấy, nàng là hiện thân của điều đó - vì nước Đức theo cách đó là tự do, là văn hóa, tính phổ quát, tình yêu, - điều dù họ không nhận ra, cũng chẳng thể thay đổi được. Bi kịch giữa ta và dân tộc này ư? A, phải rồi, chúng ta có thể cãi cọ om sòm, nhưng trên hết ta tôn vinh sự hòa giải mẫu mực; nhắc đi nhắc lại một cách vừa khéo léo vừa sâu sắc, ta sẽ dung hợp sự diệu kỳ mang vần điệu từ phương Bắc mây mù với tinh thần tam cước của trời xanh vĩnh cửu - được thiên tài tạo ra. Nhưng vậy hãy nói xem tại sao ngôn từ của ta đẹp đẽ thế? - Điều sinh ra dễ dàng, hẳn phải tuôn ra từ con tim...
“Đức Ngài vừa nói gì ạ?” Carl hỏi.
“Cái gì? Không - ta đã nói gì à? Nếu có thì cũng chẳng phải với ngươi. Chắc là tự nói với chính ta thôi - điều đó, ngươi biết đấy, do tuổi tác, người ta tự lẩm bẩm.”
“Không thể vì tuổi tác của ngài, thưa Đức Ngài, chắc hẳn chỉ là sự sống động trong các suy nghĩ của ngài. Tôi cá là ngài cũng đôi lúc làm vậy khi còn trẻ.”
“Cũng đúng đấy. Thường xuyên hơn cả khi ta đã già như bây giờ. Thật ngớ ngẩn, tuổi trẻ là cái thời khờ dại, nên rất có lý, nhưng rất có thể vẫn thế khi già. Khi còn trẻ ta lăng xăng khắp nơi - khi điều gì đó rạo rực trong ngực ta sẽ nói linh tinh và thành thơ.”
“Đúng ạ, thưa Đức Ngài, đó hẳn là cái mà người ta vẫn gọi là cảm hứng của thiên tài.”
“Có lẽ thế, theo như ta biết. Ai mà không gọi nó như thế. Tính cách và các chủ tâm sẽ bù đắp sau cho sự dại dột bẩm sinh; điều họ thực hiện căn bản sẽ có lý hơn. - Chà, rốt cuộc ngươi đã xong chưa? Phải hoàn thành đi. Từ góc nhìn của ngươi cũng khá đúng - ngươi coi công việc của mình là điều quan trọng nhất; nhưng những sự chuẩn bị cho đời sống phải giữ đúng chỗ của chúng.”
“Tôi hiểu, thưa Đức Ngài. Rốt cuộc, mọi thứ phải advenant[4]. Và một người biết ai đang trong tay mình. - đây là gương cầm tay, nếu ngài...”
“Rất đẹp, rất đẹp. Đưa ta nước hoa xức khăn tay. A, quá đẹp! Một sự sáng tạo phấn khởi, tươi mới làm sao! Có từ thời tóc giả kiểu Nhiếp chính. Ta đã luôn luôn thích nó. Vị Hoàng đế Napoléon toát lên cái vẻ ấy từ đầu đến chân. Mong là ông ấy vẫn như thế trên đảo Saint Helena. Ngươi thấy những êm ái và thỏa mãn của đời sống trở nên vô cùng quan trọng khi chiến công anh hùng, thậm chí là bản thân đời sống, hoàn toàn chấm dứt. Đúng là một con người, một con người! Bọn họ đã dập tắt cái tinh thần phản kháng, cứng đầu ấy nơi đại dương hoang vu bất khả xâm phạm, để thế giới được hòa bình và chúng ta ở đây tu dưỡng trong yên ổn... Cũng đúng đấy chứ. Thời đại của quân đội và sử thi đã qua, vua tháo chạy, thị dân lên ngôi. Chúng ta ở đây vì một thời kỳ thực tiễn, ngươi sẽ thấy: tiền, đầu óc, kinh doanh, thương mại, thịnh vượng - chúng ta có thể hy vọng và tin rằng ngay cả Tự Nhiên cũng trở nên biết điều, vĩnh viễn từ bỏ mọi cơn bốc đồng và thịnh nộ, và hoà bình vĩnh cửu rốt cuộc cũng trong tầm tay. Quả là một ý tươi mới - chẳng có bất kỳ điều gì chống lại nó. Nhưng khi ngươi nghĩ đến một lực bản nguyên như thế sẽ cảm thấy ra sao, khi sức mạnh của nó hoàn toàn bị bóp nghẹt giữa miền nước mênh mông, gã khổng lồ bị tê liệt, bị xích vào một tảng đá, một ngọn Etna bị vùi trong tro, đang sôi sục và cuồn cuộn bên dưới mà không có lối thoát cho những ngọn lửa của mình - và ngươi phải nhớ rằng khi dung nham tàn phá, nó cũng làm đất phì nhiêu thêm - khi ngươi nghĩ về tất tật, ngươi cảm thấy khốn khổ rằng người gần như rất muốn cảm thương - dù thương cảm không phải một cảm xúc thích hợp cho một trường hợp như thế. Ít ra, người ta có thể hy vọng ông ấy mang theo nước hoa. - Ta sẽ đi bây giờ, Carl. Nói Herr John rằng anh ta có thể đến.”
Helena, Saint Helena, nơi ông ta có lẽ đang ngồi, đáng ra nên gọi nàng, bằng cái tên ấy, người ta kiếm tìm, khao khát duy nhất của ta, khả ái cùng duyên dáng, duyên dáng và được thèm muốn - nàng lẽ ra phải có cùng tên với cái tảng đá cực hình của Prometheus, con gái ta và yêu dấu của ta, đều là của ta, không thuộc về đời sống hay thời gian! Chính mong muốn ấy đã xích sức sáng tạo của ta vào công việc trọn đời này, đến nay vẫn chưa thể làm chủ - lạ thay tấm vải cuộc đời, dệt từ những số phận ấy! Đã đến thư phòng của ta, buổi sáng tỉnh táo, tươi tắn và mát mẻ, đang chờ đợi cuộc tấn công tiếp theo của ta. Đây subsidia, stimulantia[5], các tư liệu, công cụ để buộc thế giới khoa học cống nạp cho những mục tiêu sáng tạo của ta. Toàn bộ tri thức có thể trở nên thú vị cháy bỏng biết nhường nào, khi nó góp phần làm giàu thêm và duy trì một sáng tạo mới! Những điều không liên quan đến mục đích của tinh thần sẽ bị khước từ - song cái khối những điều không cốt yếu càng lúc càng lớn. Càng già đi, người ta càng lan sang các lĩnh vực khác; tiếp tục với tốc độ này, sớm muộn chẳng còn gì ngoài kia! Chuyên luận về bệnh học và dị biến ở thực vật, cần đọc thêm, chiều nay nếu ta có thể, hoặc tối nay. Các quái thể và đột biến thể mang đầy ý nghĩa cho muôn loài của sự sống! Có khả năng bệnh lý dạy ta rất nhiều về sự bình thường; đôi khi ta linh cảm được, chỉ khi mạnh dạn bước vào con đường của bệnh, mới có thể thấu đạt bóng tối trong mọi hình thức đang sống... Và ở đây nhiều mảnh của tinh thần và thế giới đang chờ niềm vui phê bình: Corsair và Lara[6] của Byron, tài năng xuất chúng cao ngạo, cần đọc thêm, bản dịch Calderón của Gries[7]; chuyên luận về Ngôn Ngữ Đức của Rückstühl có vài điều gợi suy nghĩ, nhất định phải nghiên cứu kỹ hơn Technologia Rhetorica của Ernesti[8]. Những điều như thế làm sáng tỏ nhận thức và khơi dậy niềm hứng thú. Mấy cuốn về Đông phương này - thư viện của Công tước đã chờ sự trở lại của chúng một hồi rồi, ngày hẹn đã qua từ lâu. Không nên có từng tập một, không thể từ bỏ những công cụ của ta khi ta đang viết Divan; cũng để lại bút tích trong đó, chẳng ai dám phàn nàn đâu mà. Carmen panegyricum in laudem Muhammedis - quỷ tha ma bắt cái bài thơ sinh thần ấy! Bắt đầu: Gió núi mơn man thổi, chẳng khác gì ê-te, Trên mỏm đá cao giữa những vực sâu rừng cao - sự kết hợp khá khó nhằn, đỉnh của vực thẳm; thôi kệ, bỏ qua, một hình tượng táo bạo và khơi gợi; nếu trong họng bọn họ trào lên, thì mặc bọn họ nuốt xuống! Với những đỉnh cao ấy, gương mặt điềm tĩnh cũng cùng một giuộc. Đến lượt lùm cây của thi nhân, chẳng mấy dễ chịu, nơi những Cupid phóng tên lên không trung. Điều thứ ba ta có là xã hội trí thức, bị thần Chiến tranh phá hủy. Cuối cùng là hòa bình ngọt ngào quay trở lại, ngay cả khi đó tâm trí chúng ta quay ngoắt, quay bên nọ bên kia, biến điều bất đắc dĩ thành một đức hạnh, cuối cùng thì trở về với quá khứ, với truyền thống cổ xưa, và rồi sẽ về với lập trường của đám đông, những kẻ có các yêu sách được chấp thuận - được, nếu ngươi ổn định lại sau khi đọc cho người ta chép, ngươi sẽ có nó sau hai mươi phút.
Chất liệu thô sơ và nền tảng, không bao giờ tự cho mình là thô sơ, mà trong nó và tự thân nó mang ý nghĩa và mục đích riêng, đâu chỉ ở đấy đợi ai đó đến và ép ra một giọt tinh dầu hoa hồng từ cái mớ hỗn tạp, rồi quẳng đi những thứ dư thừa! Một người làm sao có gan để cho mình là một vị thần, khi mọi thứ quanh hắn ta chỉ toàn tạp nham, để khai thác theo ý mình? Để nghĩ hắn ta là tấm gương duy nhất của vũ trụ, và ngay cả bạn bè của hắn - hoặc những kẻ hắn ta coi là bạn - chỉ được coi như giấy, để hắn ta viết lên? Sự hỗn xược trắng trợn và hubris[9]? Không, đó là hình thái bản thể đặt lên một người và phải gánh lấy nhân danh Chúa - thãy bỏ qua và tận hưởng, điều đó cho chính khoái lạc của ngươi... Hành trình đến Shiraz[10] của Waring, rất hữu ích; Ghi chép về phương Đông[11] của Augusti, cũng có ích ở một vài chỗ; Kho tàng phương Đông, được một nhóm nghiệp dư biên soạn - phát hiện tuyệt vời cho cái hội chuyên bới rác! Phải xem qua những cặp thơ của Sheik Jalal al-Din Rumi, chòm sao Thất Nữ trên bầu trời Ả Rập; Tuyển Tập từ Kinh Thánh và văn học phương Đông sẽ vô cùng có giá trị cho các ghi chép của ta. Còn đây là ngữ pháp Ả Rập của ta, phải luyện tập một chút thư pháp hoa mỹ, sẽ giúp tiếp cận sâu hơn. Tiếp cận, từ hay, thể hiện cách ngươi khoan và đào sâu vào thế giới mới tươi đẹp mà ngươi nắm bắt được, hì hục đào như bị ám, đến khi ngươi biết những bí mật và nói được ngôn ngữ của nó. Và không ai thấy sự khác biệt giữa bắt chước và sáng tạo. Một lối chiếm hữu oái oăm! Chắc sẽ khiến người ta bất ngờ khi biết có bao nhiêu cuốn du ký và khảo tả mà một thi sĩ phải hấp thụ để có một cuốn sách nhỏ cho các vần thơ và cách ngôn. Khó mà thấy đó là biểu hiện của thiên tài. Lúc ta còn trẻ, Werther vừa mới gây tiếng vang, đã có một gã kệch cỡm tên là Bretschneider lo lắng về sự tự phụ của ta. Nói ta nghe ngọn ngành sự vị về bản thân ta - hoặc hắn cho là thế. Đừng quá coi trọng bản thân thế, anh bạn, nó không đáng nói như cái sự ồn ào mà cuốn tiểu thuyết nho nhỏ của anh muốn làm người ta tin vào. Anh thì đã là cái gì? Tôi biết anh: sự đánh giá của anh thường sai; sâu thẳm anh biết trí năng của mình không đáng tin, nếu không mất thời gian suy xét cho thật lâu; anh đủ trí tuệ, với những người anh cho là tinh tường, để lùi lại ngay và không bước vào tranh luận nghiêm túc; anh sẽ không mạo hiểm trưng ra yếu điểm của chính mình. Đó chính là con người anh. Và anh là dạng không vững, không bám vào một hệ thống bất kỳ nào, nhảy từ cái thái quá này sang cái khác, anh sẽ bị thuyết phục tin bất kỳ điều gì, cũng dễ bị lôi kéo thành một tín đồ hay một kẻ tư duy tự do, bởi anh là hạng người dễ bị ảnh hưởng đến Chúa cũng phải xót thương! Song anh lại quá đỗi tự phụ, anh coi tất cả là bạc nhược trừ mình, trong khi chính anh lại yếu đuối nhất trong tất cả - không có khả năng đánh giá vài kẻ mà anh cho là có đầu óc, anh không thể kiểm chứng họ và phải chiều theo quan điểm của đám đông tầm thường. Một lần rốt ráo tôi nói anh nghe; một chút khả năng nhỏ nhoi anh có, tài năng thi ca của anh. Khi anh mang các thứ quanh mình một thời gian dài và nghiền ngẫm nó, và gom góp mọi thứ có thể hữu dụng từ nó - rồi thành công, thì điều gì đó sẽ ra đời. Anh có một ý tưởng, nó trong đầu anh, hoặc trong những cảm xúc của anh; nó như thể một khối đất sét trong tay anh, anh cố nhào nặn mọi thứ mà anh thấy vào nó, anh nghĩ và mơ tưởng không gì khác ngoài điều này. Đó là cách mà anh hoàn thành nó, đó là toàn bộ sự thiên tài của anh đạt đến. Đừng để sự yêu thích của công chúng thêu dệt viển vông vào đầu anh! - Ta vẫn còn nghe được ông ấy, một gã quái gở, kẻ đặt nặng chân lý, ám ảnh về tri thức, không hề có ác ý, rất có khả năng phải chịu đựng sự thấu triệt phê phán của chính mình, tên khốn! Tên khốn thông minh, sắc sảo, tên khốn bi quan - chẳng phải ông ta nói đúng hết sao? Đúng gấp ba lần, hoặc ít nhất cũng phải hai lần hoặc gấp rưỡi, trong tất tật những gì ông ta nhồi nhét vào ngươi về sự không nhất quán của ngươi, thiếu tự chủ của ngươi, tâm hồn dễ dãi của ngươi? Và cả sự thiên tài của ngươi, điều chỉ có ích để gây ấn tượng và mang theo trong một thời gian dài, tìm subsidia và biết cách tận dụng chúng? Liệu tất tật chất liệu có ở đây không nếu thời đại ấy không say mê Đông phương học trước khi ngươi tham gia vào? Ngươi có tự tìm ra Hafiz[12] không? Không, là Hammer[13] chỉ cho ngươi , cho ngươi một bản dịch tử tế, và khi ngươi đọc nó, anno Nga[14], ngươi đã say mê cuốn sách lúc đó đang là mốt trong giới trí thức. Nhưng ngươi không thể đọc gì mà không bị ảnh hưởng, nó ngấm vào máu ngươi và khiến ngươi muốn làm điều tương tự. Một kinh nghiệm mới như Hafiz làm ngươi muốn sáng tạo. Vì thế ngươi đã bắt đầu viết thơ theo phong cách Ba Tư và hút lấy bất kỳ điều gì phục vụ cho mục đích của ngươi trong địa hạt mới gây mê hoặc ấy, cho cái vai mới mà ngươi muốn hóa trang thành. Độc lập - ta muốn biết nó là gì! Anh ta là độc nhất, và chính vì độc nhất - Anh ta chẳng khác gì những kẻ ngốc. Lúc đó ta mới hai mươi, nhưng ta mặc kệ đám bám đuôi và cười nhạo đám “thiên tài” và sự cường điệu của tính độc nhất nơi họ. Ta biết tại sao mình làm thế. Độc nhất! Cái thứ ấy chỉ điên rồ, méo mó, nghệ thuật không còn sức sáng tạo, vô sinh, phù phiếm, nhỏ nhen khô héo kiểu một bà cô già! Ta căm ghét và khinh bỉ nó. Điều ta tìm là sức mạnh sinh sôi âm dương, thụ thai và sinh thành, dễ tiếp nhận ở mức độ cao nhất. Không hề vô ích khi ta trông giống nữ thủy tổ đẫy đà rám nắng ấy. Ta là một Lindheymer trong hình hài nam nhân, tử cung và hạt giống, nghệ thuật lưỡng tính, tiếp nhận nhanh, song tự ta tạo sinh, làm thế giới giàu lên bằng những gì ta được nhận. Dân tộc Đức nên phải thế, ta là hình tượng và khuôn mẫu cho họ. Đón nhận thế giới, trao lại thế giới, những trái tim mở rộng trước niềm ngưỡng mộ phong nhiêu, to lớn thông qua hiểu biết và tình yêu, qua sự trung gian, qua tinh thần - vì sự trung gian chính là tinh thần - dân tộc Đức lẽ ra phải thế, đó cũng là số phận của họ, không phải ngoan cố trở thành một quốc gia độc nhất, trong sự chiêm nghiệm và tự tôn vinh kệch cỡm này mà đần độn đi và hoàn toàn chìm trong ngu muội, bằng sự ngu muội ấy mà làm chủ toàn bộ thế giới! Dân tộc bất hạnh, xem chừng sẽ chẳng khả quan, họ không hiểu chính mình, và khiến cả thế giới không chỉ chế nhạo họ, mà còn khơi lên sự căm ghét từ thế giới và đưa mình vào nguy hiểm tột cùng. Số phận sẽ giáng đòn lên họ, vì phản bội chính mình và không muốn trở thành thứ họ vốn là. Nó sẽ xé họ tan tác khắp thế giới như dân Do Thái - một cách công bằng, bởi những kẻ giỏi nhất luôn luôn bị lưu đày giữa đồng bào của họ; và chỉ khi lưu vong, trong sự phân tán, đám đông mới phát triển mọi điều tốt đẹp có trong mình để chữa lành cho tổ quốc, và trở thành muối của đất[15].
Hoàng Hiền dịch
[1] Cha mẹ Goethe hạ sinh bảy người con nhưng năm người sinh non hoặc chết trẻ. Goethe là con cả.
[2] Thành ngữ La-tinh thường được nói sau khi vừa nhắc đến một điểm gở, để cầu cho điều ấy không xảy ra.
[3] Hans Sachs (1494-1576) đại thi hào trong văn hóa Đức, Martin Luther (1483-1546) nhà cải cách tôn giáo và là người dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức.
[4] Tiếng Pháp có nghĩa là thích hợp.
[5] Tiếng La-tinh có nghĩa là sự trợ lực và kích thích.
[6] Hai tác phẩm thơ tự sự nổi tiếng của Byron được sáng tác cùng năm 1814, có liên hệ chặt chẽ về mặt tinh thần, đều thể hiện hình tượng phản anh hùng đặc trưng của Byron.
[7] Johann Diederich Gries (1775-1842) dịch các tác phẩm của nhà soạn kịch người Tây Ban Nha Pedro Calderón de la Barca sang tiếng Đức.
[8] Johann August Ernesti (1707-1781) là nhà ngữ văn cổ điển, nhà tu từ học, thần học đạo Tin Lành và nhà giáo dục Đức.
[9] Tiếng Hy Lạp cổ có ý nghĩa biểu tượng trong văn hóa Hy Lạp để chỉ sự ngạo mạn và tự phụ của con người dám vượt quá giới hạn làm người và thách thức các vị thần.
[10] Cuốn sách của tác giả người Anh Edward Scott Waring (1787-1819).
[11] Johann Christian Wilhelm Augusti (1772-1841) là nhà thần học theo đạo Tin Lành, nhà Đông phương học và học giả nghiên cứu Kitô giáo cổ đại.
[12] Một đại thi hào người Ba Tư sống ở TK14, là biểu tượng tinh thần có ảnh hưởng sâu sắc đến Goethe khi viết tập Divan.
[13] Joseph von Hammer-Purgstall (1774-1856) là nhà Đông phương học, sử học, dịch giả và chính khách người Áo.
[14] Ý chỉ năm Napoléon chinh phạt nước Nga, 1812.
[15] Nói theo Kinh Thánh, Phúc âm của thánh Matthew, ý nói những người đại diện cho sự lương thiện và tốt đẹp.
