Chesterton về Stevenson
Stevenson, trong cái nhìn của Chesterton, hoàn toàn chệch ra khỏi văn chương thời Victoria. Sau đây là chương VIII rút ra từ quyển Robert Louis Stevenson (1927), ở đây Chesterton nói về một khía cạnh quan trọng của phong cách tiểu thuyết Stevenson. Chương tiếp theo ngay sau đó sẽ phần nào giải thích tại sao lại có sự chau chuốt nhọc công như thế, và hiệu ứng mà nó mang lại. Ngoài ra trong cả quyển sách, Chesterton cũng nhiều lần nhắc tới vai trò quan trọng của những ấn tượng thuở nhỏ, Skelt và những ký ức tuổi thơ, đối với văn chương của Stevenson.
Giới hạn của một việc thủ công
Lời phản đối Stevenson đúng nhất lại được viết bởi chính Stevenson. Nó cũng rất đậm chất Stevenson; bởi nó thể hiện qua việc nói, về các nhân vật hư cấu của riêng ông, rằng sự cám dỗ của ông luôn luôn là “róc thịt khỏi xương.” Ngay cả ở đây chúng ta cũng có thể nhận thấy cái giọng sắc hoặc gọn đặc trưng của ông; nghe như một tội ác kinh hoàng nào đó của Barbecue hay Billy Bones. Quả thật từ ấy đủ để đặc trưng cho Stevenson. Tên ông có thể là Bones, giống như gã hải nhân trên tàu “Đô đốc Benbow”, không phải chỉ vì tuổi thơ vĩnh cửu của ông đầy rẫy những xương sọ như cuộc sống ở trường của Traddles. Cũng bởi vì một cấu trúc toàn xương xẩu nào đó trong toàn bộ gu thẩm mỹ và lối suy nghĩ của ông; một thứ gì đó đầy góc cạnh, dù mảnh, như chính thân hình gầy gò dễ vỡ của ông và khuôn mặt dài Quixotic của ông. Tuy nhiên điều này được nói ra như một lời cáo buộc; và đó là một lời cáo buộc chính đáng.
Khuyết điểm thực sự của Stevenson với tư cách một nhà văn, không hề giống như một kiểu tơ dệt vặt vãnh và thêu thùa hời hợt không cần thiết, chính là việc ông đã đơn giản hóa quá mức đến độ mất đi một phần nào đó sự phức tạp dễ chịu của đời thực. Ông xử lý mọi thứ với lối tiết kiệm chi tiết và cấm chỉ những gì không thích hợp thành thử rốt cuộc làm ra một thứ cứng nhắc và không tự nhiên. Ông được các tác giả khác khen ngợi vì đã bám sát vấn đề; nhưng người ta không bám sát vấn đề lối cứng đầu như thế. Ở đây chúng ta có thể nhận ra thật rõ sai lầm thực sự, cũng như tính cách độc nhất của ông, khi so sánh ông với các tiểu thuyết gia lớn thời Victoria, dưới cái bóng mênh mông của họ ông đã lớn lên. Tôi sẽ có dịp lưu ý sau này rằng sự xung đột của ông với họ không phải là về mặt đạo đức hay triết lý; bởi ở mặt ấy ông hướng về phía trước chứ không phải nhìn lại đằng sau. Nhưng có một sự tương phản mạnh và một sự khởi đầu mới ấn tượng trong quá trình chuyển từ những gì tuyệt nhất của Thackeray hay Trollope sang những nét phác đầu tiên, mà tôi suýt nói là những vết rạch, của Stevenson. Các phác thảo ấy chỉ vòn vẹn vài dòng, và chỉ những nét thiết yếu; toàn bộ vấn đề ở đây là một nét thiết yếu thì mất nhiều hơn được. So với điểm này, những tiểu thuyết cũ hay nhất thời Victoria đều nhồi đầy đệm lót. Nhưng cũng có điều đáng kể ở những đệm lót Victoria này, cũng như vải bọc đệm thời Victoria. Sự thoải mái không phải lúc nào cũng là điều đáng khinh bỉ, khi mà tên gọi khác của nó là lòng hiếu khách; và Dickens, Thackeray hay Trollope trao một lòng hiếu khách khổng lồ cho các nhân vật của họ. Họ vui mừng chân thành chẳng hề gượng gạo khi gặp lại, và đặc biệt vui mừng khi gặp lại các nhân vật của mình. Bởi vậy họ thích những phần tiếp theo và những câu chuyện lịch sử gia đình nối tiếp; và cũng thế với tất tật những lần xuất hiện dường là cuối cùng của Mr. Pendennis hay Mrs. Proudie. Và sự lặp lại này, sự lan man này, tấm đệm lót này theo một lối lộn xộn lạ lùng lại xác nhận cái thực của các nhân vật. Bởi đồ nội thất bọc đệm thời Victoria thực sự khiến người ta cảm thấy như ở nhà, những cuốn tiểu thuyết bọc đệm Victoria cũng khiến độc giả như thể ở nhà cùng với các nhân vật. Độc giả không còn cảm thấy hoàn toàn thân thuộc như thế với các nhân vật của Stevenson . Ông không thể xóa đi ấn tượng rằng ông biết thật ít về họ; dẫu ông biết rằng mình biết tất tật những gì quan trọng về họ. Bi kịch của ông là chỉ biết những gì quan trọng. Alan Breck Stewart không chỉ là một nhân vật rất sống động mà còn rất đáng mến. Và tuy vậy có thật ít điều để mến; dẫu anh ta có thể sẽ chĩa thanh gươm Ê-cốt vào chúng ta nếu chúng ta dám bóng gió lối nguy hiểm như thế. Độc giả không hoàn toàn thoải mái với anh ta, như với Pickwick hay Pendennis. Độc giả biết những điều quan trọng về anh ta; và chúng quan trọng vô cùng. Nhưng độc giả không biết hàng ngàn điều khác về anh ta giống như biết về một người mà ta sống cùng suốt một quyển tiểu thuyết dài thời đầu Victoria. Stevenson quả thực đã làm chính xác cái điều mà ông đã buộc tội mình; chính ông là người vung lên thanh gươm Ê-cốt và chính ông đã róc thịt khỏi xương.
Một ví dụ minh họa cho điều khác biệt này, dĩ nhiên, có thể được tìm thấy trong cách thể hiện nét bên ngoài của một nhân vật. Vẻ nhanh nhảu đen tối trên khuôn mặt Alan Breck, cùng đôi mắt mang “cơn điên nhảy nhót, vừa thu hút vừa đáng e sợ,” hiện ra trước chúng ta rõ ràng như một bức ảnh màu ngay từ rất ít từ đầu tiên dùng để mô tả; và cũng chính những dòng ngắn ngủi ấy đã làm nghênh ngang bước đi toàn bộ hình tượng nhỏ nhanh nhẹn khoác cái áo lam đính cúc bạc và vẻ ngông nghênh của thanh gươm lớn. Nhưng toàn bộ quá trình này diễn ra thật chóng vánh và trọn vẹn đến mức hầu như khó tin, tựa như một màn ảo thuật. Nó giống như việc trông thấy thứ gì đó qua một lóe chớp; trong ánh sáng ấy ẩn chứa một dạng ảo giác. Bởi vì cốt lõi của bất cứ điều gì có dự phần của ma thuật cũng mang vẻ gì đó giễu cợt. Không phải giống như thế mà độc giả “biết được” hiện diện cá nhân của nhân vật nào đó trong tiểu thuyết của Thackeray hay Trollope. Phải nhờ vô số những chi tiết dường như tình cờ hay thậm chí những ám chỉ không cần thiết mà độc giả mới dần dần hình dung ra được Warrington ủ dột và tăm tối và có cái cằm nhẵn nhụi tái xanh [nhân vật trong The History of Pendennis của Thackeray]. Sự xuất hiện của Lord Steyne thì rải rác khắp Vanity Fair dưới dạng những mảnh ghép rời rạc; bộ ria mép đỏ ở chương này, đôi chân vòng kiềng ở chương khác, cái đầu hói ở một chương khác nữa. Nhưng cách miêu tả này lại rất giống theo lối người ta thực sự nói về những con người thực, so với cách ấy, có điều gì đó gần như phi thực trong thực tại luận chớp nhoáng của Stevenson. Có lẽ người kể chuyện nên thường xuyên nhớ rằng anh ta là một người đang kể một câu chuyện. Có lẽ anh ta đã quên luôn rằng cần phải kể sao cho nghe giống một chuyện thật. Và suy cho cùng một người sẽ không nói với vợ trong bữa tối, ngoài đời thực, “có một người lạ đến văn phòng tôi sáng nay; ông ta có bộ dạng lịch lãm, nhưng căng thẳng, mặt nhìn nghiêng giống hệt chim ưng, lông mày và khóe miệng làm lộ rõ tính cách; và tổng thể diện mạo, dẫu đã không ít nét khác biệt, càng nổi bật theo lối thật kịch tính bởi cái áo được cắt rất bảnh cùng đôi ghệt trắng và nhành lan màu hồng tím cài ở khuyết áo.” Lời độc thoại như thế hiếm khi nào vang lên trong một căn nhà vùng ngoại ô; và nếu diện mạo người lạ có nghĩa thế nào đó, thì thông tin ấy cũng thường chỉ lộ ra từng chút một; chẳng hạn như khi nói, “tôi chẳng ngạc nhiên lắm lúc hắn ném lọ mực; bởi nhìn hàng lông mày là biết ngay hắn là kẻ cộc cằn,” hay, “cậu bé chạy việc cười ngất đến nỗi không đứng nổi nữa ngay khi trông thấy đôi ghệt kia.” Tương tự như vậy, chẳng ai thực sự nói ra những lời giống như Mackellar trong một tiểu thuyết lãng mạn Stevenson, “lúc này tôi đã đến đủ gần để nhìn rõ anh ta, một vóc dáng và khuôn mặt tuấn tú, da ngăm đen, cao, gầy, có ánh mắt đen sắc sảo và linh hoạt, toát lên khí chất của một tay thiện chiến và đã quen ra lệnh; trên má anh ta có một nốt ruồi chẳng hề lạc quẻ; một viên kim cương to tướng lấp lánh trên ngón tay; trang phục của anh ta, dẫu cùng một tông, là kiểu Pháp thật bảnh; diềm cổ tay, mà anh ta để rũ dài hơn bình thường, làm bằng loại đăng ten cực tinh xảo.” Người ta hiếm khi mô tả như thế; ước gì họ đều mô tả hay như thế! Những chi tiết về Master of Ballantrae hẳn sẽ chỉ được hé lộ cách rời rạc trong một ghi chép thực về một Mackellar thực. Viên kim cương hẳn sẽ được nhắc đến cùng với tin đồn về bọn trộm, còn dải đăng ten thì gắn liền với hiệu giặt. Và đó cũng là cách của của các tiểu thuyết gia Victoria thời kỳ trước khi mô tả hoặc đề cập đến những chi tiết như thế; và tôi nghĩ cách làm ấy thực sự đem lại một ấn tượng về cái thực. So với cách ấy, cách miêu tả rất trọn vẹn của Stevenson có vẻ như đầy khiếm khuyết. Tuy nhiên đúng là các nhà văn Victoria thời trước khó lòng đạt được một thực tại luận tương tự như vậy nếu không chấp nhận sự kém định hình so với Stevenson, và thiếu đi cảm giác tuyệt đẹp và bén nhạy của ông về một hình thức rõ ràng. Dù có thể là ông dường miêu tả đối tượng rất chi tiết, ông làm vậy chỉ để giải quyết dứt điểm; và ông không quay lại với chuyện ấy nữa. Ông không bao giờ nói cái gì thừa và trên hết không bao giờ nói điều gì hai lần. Hiếm ai dám mạo hiểm bảo rằng Thackeray không bao giờ nói điều gì hai lần, hoặc rằng Thackeray không có khả năng nói đi nói lại hai mươi lần một điều gì đó. Tuy nhiên theo cách nào đó sự lặp lại này, dẫu đôi khi thật chán, lại mang ít nhiều sức thuyết phục, tôi có thể nói rằng đó là hầu an ủi. Điều này bắt nguồn từ sự thoải mái trong giao tiếp xã hội, điểm đặc trưng ở Anh vào giai đoạn ngắn ngủi của thịnh vượng nhờ thương mại; hay ít nhất ở tầng lớp người Anh bao gồm các thương nhân thành công. Và bên cạnh những tính tốt hay xấu khác, nó còn bộc lộ một thứ lòng tốt suồng sã vừa là đức tính lại vừa là thói xấu. “Con trai của vị thương nhân người Anh ấy sẽ chẳng thiếu thốn gì đâu, thưa ông,” Mr. Osborne già nói; và đứa con tinh thần của mr. William Makepeace Thackeray cũng sẽ được đối đãi như thế. Lời lẽ sẽ tuôn ra như rượu ngon; các trang sách sẽ mở rộng trước anh như công viên, để anh thơ thẩn dạo bước. Anh sẽ được phép nán lại đâu tùy ý, và cả những người họ hàng nghèo nhất ở đó cũng được mời dùng bữa hết lần này đến lần khác. Tóm lại độc giả sẽ “biết về anh” và thong thả bàn luận đủ mọi chi tiết nhỏ về anh; chúng sẽ không được phơi ra hết ngay lập tức chỉ trong một đoạn văn nhồi đầy thông tin. Chúng ta sẽ được trở lại với lòng hiếu khách và tiếng trò chuyện rôm rả của hàng trăm bạn bè cùng họ hàng tại một bữa tiệc giánh sinh Anh quốc. So với điều đó, lối viết kiệm lời của nhà lãng mạn người Scotland gợi đến trò đùa cũ về người xứ ấy. Ông quá tằn tiện thành thử các nhân vật của ông hầu như mỏng quẹt.
Những điều cao cả nhất trên đời đều có điểm yếu hay khuyết điểm; và với từ “mỏng” ấy chúng ta chạm đến đỉnh vinh quang của Skelt [ý nói những hình nhân xếp giấy của một loại kịch đồ chơi dành cho trẻ con] và nhận ra rằng ngay cả người tạo ra những sân khấu kịch đồ chơi ấy cũng là con người. Chính bởi vì Stevenson đã học được, ở trường học của sự ngông nghênh trẻ con ấy, một cảm giác đáng ngưỡng mộ về thái độ và hành động mang tính biểu tượng, niềm hân hoan trước màu sắc tươi vui và phong thái hào hiệp, cảm giác tuyệt đẹp rằng cuộc sống là một câu chuyện và danh dự là một trận đấu; lời hồi đáp của ông trước thách thức của một cánh cửa mở hay sức hút của con đường vắt qua đồi - bởi vì ông đạt được tất tật những đức tính và phẩm chất tuyệt diệu ấy dưới biểu tượng của Một xu trơn và hai xu tô màu, ngay cả trong những tác phẩm hay nhất ông cũng bộc lộ những hạn chế về mặt kỹ thuật của một phương tiện như vậy. Không gì có thể diễn tả rõ hơn việc nói rằng những hình tượng bẹt này chỉ có thể được nhìn thấy ở một mặt. Chúng là những khía cạnh hay thái độ của con người hơn là chính con người; dẫu các khía cạnh và thái độ ấy được xem xét cách vô cùng quan trọng như là các biểu tượng, tựa như quầng hào quang bẹt của các vị thánh hay hình huy hiệu bẹt trên tấm khiên. Chỉ theo nghĩa ấy thì chúng không đủ bề dày và còn thiếu đi một chiều khác. Chúng đủ sâu theo nghĩa các bức tranh đẹp có chiều sâu, theo nghĩa bất kỳ cái gì đẹp luôn mang nhiều nghĩa hơn chúng thể hiện, thậm chí còn có thể có nghĩa hơn cả ý định ban đầu. Theo cách nhìn ấy thì cũng đủ sâu rồi, ngay cả trong khung cảnh nông choèn của Skelt, khi con mắt đứa trẻ đắm mình vào đó, tuy nhiên lại không đủ chiều sâu theo nghĩa của một sự thân quen với những mặt khác của khung cảnh hay cuộc sống ngầm diễn ra đằng sau các xen. Khi mọi thứ đã kết thúc, hình tượng tráng lệ và khơi cảm hứng của Jack ba ngón chỉ là một hình ảnh chứ không phải một bức tượng. Không thể đi vòng quanh hắn; và nếu hắn chỉ có mỗi ba ngón tay, hắn còn có ít hơn ba chiều không gian. Nhưng nghịch lý quan trọng là sự khiếm khuyết trong tác phẩm thực chất lại bắt nguồn từ chính sự hoàn hảo của nghệ thuật. Chính vì Balfour hay Ballantrae chỉ thực hiện đúng những gì họ được định sẵn phải làm, làm quá tốt và nhanh chóng, nên mới có một cảm giác mơ hồ rằng người ta không thực sự hiểu họ như cách người ta hiểu các nhân vật thong dong, nhàn tản hay uể oải hơn. Điều này là một chỗ kém trong tác phẩm của Stevenson; nhưng đó lại càng là chỗ kém hơn của các nhà phê bình đã cho rằng ông kém. Họ buộc tội ông, ngược với khiếm khuyết thực sự của ông, về một sự kiểu cách thái quá bởi nuông chiều bản thân, hay một sự xa hoa lắm lời. Thói xấu nảy sinh từ chính dục vọng tiết kiệm và nghiêm cẩn của ông; từ việc ông cắt tỉa quá nhiều đến nỗi gần như làm chết cái cây; từ việc ông đi quá thẳng vào điểm chính, thế nên chuyển động quá nhanh và rõ, còn nói gì đến thân thuộc nữa; và trên hết, từ sự rắn của kỹ thuật có gì đó hầu như phi nhân tính. Đôi khi ông giản lược con rối đến mức để lộ cả sợi dây điều khiển. Nhưng ngay cả trong mối liên quan giữa dây và con rối ấy cũng có một thứ thực tại luận kỳ lạ.
Stevenson là người tin vào công việc thủ công; tức là, tin vào việc sáng tạo. Ông không có chút cảm thông tự nhiên nào với tất tật những quan niệm mơ hồ thuộc dị giáo hay phiếm thần luận thường được khoác lên cái tên cảm hứng. Có thể ông không biểu đạt điều đó bằng cách nói rằng con người là hình ảnh của đấng Sáng tạo; nhưng ông thực sự coi con người là một kẻ tạo ra hình ảnh. Đã từ rất lâu tràn lan khắp thế giới, chủ yếu bắt nguồn từ người Đức và người Slav, và có lẽ sâu xa hơn từ các triết lý Á Đông, một học thuyết về tình trạng bất lực huyền bí mang cả trăm hình thức khác nhau, ở đó mọi thứ trên đời đều được công nhận ngoại trừ ý lực. Nó phủ nhận ý lực của Chúa và thậm chí không tin vào ý lực con người. Nó không tin vào một trong các biểu hiện huy hoàng nhất của ý lực con người, đó là một hành động lựa chọn sáng tạo vốn là cốt yếu của nghệ thuật. Xu hướng này được phân tích đầy ngưỡng mộ trong cuốn sách Defence of the West của M. Henri Massis; và một nhà văn Pháp khác cùng trường phái, M. Maritain, cũng lưu ý đến vai trò quan trọng của từ artifex, vốn được dùng để chỉ một nghệ sĩ, trong cả triết học trung cổ cũng như nghề thủ công trung cổ. Như sẽ thấy sau này, nghịch lý ở Stevenson là ông chẳng hề bận tâm đến thứ siêu hình học trung cổ ấy; và tuy vậy ông thực hiện chính xác những gì mà các tác giả kia chủ trương trong nguyên tắc. Ông đích thực, nếu còn một người nào như thế, là một artifex; không phải chỉ là cái loa cho các lực cơ bản hay định mệnh, mà còn là một người tạo ra mọi thứ bằng sức mạnh của ý lực và trong ánh sáng của lý trí. Đó là kiểu tính cách thợ thủ công của tác phẩm trung cổ trong văn học cũng như điêu khắc. Tính cách ấy hiện diện rõ rệt nơi các nhà thơ trung cổ mà chính Stevenson ngưỡng mộ; và có lẽ ông ngưỡng mộ họ nhiều hơn là hiểu. Đó là đặc trưng rõ rệt nhất trong các bài ballade chặt chẽ và tinh xảo của Villon. Quả thực tôi cho rằng tên của Stevenson sẽ luôn gắn liền một cách hoa mỹ với tên của Villon; chỉ cần dạ khúc đêm rùng rợn đẹp tuyệt A Lodging for the Night [một truyện ngắn trong tập Đêm A Rập mới] là đủ. Tuy nhiên nếu có một thứ trên đời mà Stevenson hoàn toàn nhầm, đó chính là về François Villon. Ông thậm chí còn, về chủ đề này, mắc một sai lầm hiếm thấy hơn cả về mặt logic lẫn sự thật. Trong tiểu luận của ông về Villon, trong khi cho thấy tất tật nhiệt thành của một nhà phê bình xuất sắc dành cho một nhà thơ tài hoa, ông vẫn khăng khăng, với sự nhấn mạnh gần như là hung tợn, rằng tâm trí của nhà thơ đã mục ruỗng bởi thói hoài nghi thuần túy đồi bại và thứ duy vật luận thấp hèn. “Hai con mắt nhà thơ bị bít kín bởi chính sự nhơ nhuốc của chúng”; và nhà thơ chẳng thể nhìn thấy bất cứ điều gì cao quý hay đẹp đẽ ở thiên đường hay trần thế. Và về điểm này, Stevenson đưa ra thêm một nhận xét còn kỳ lạ hơn, rằng ngay cả ở Pháp thế kỷ mười lăm ấy, lẽ ra Villon đã có thể học hỏi được những điều tốt đẹp hơn; bởi lẽ mới vài năm trước đó, Joan of Arc đã sống một trong những cuộc đời cao quý nhất lịch sử. Thật có phần bất công cho Villon tội nghiệp khi cho rằng nhà thơ thản nhiên sống trong sự thiếu hiểu biết về những người như Joan of Arc, bởi thực tế nhà thơ đã chủ động nhắc đến bà trong những bài ballade nổi tiếng nhất của mình: “người phụ nữ tuyệt diệu xứ Lorraine mà quân Anh thiêu sống ở Rouen.” Nhưng lời chỉ trích này sai về tinh thần hơn là về câu chữ, Nó bắt nguồn từ một lối ngụy biện thời thượng, pha trộn giữa thói ủy mị và lạc quan, cho rằng một người mang nỗi cay đắng như thế về thế giới này thì không thể có lý tưởng nào hết; trong khi thực tế chính nỗi cay đắng ấy lại đôi khi phát xuất từ những lý tưởng mãnh liệt nhất. Dẫu sao đi nữa, bất cứ ai đọc thơ mà không mang định kiến đều sẽ thấy rằng Villon có lý tưởng, và là những lý tưởng tối cao, chỉ có điều chúng tình cờ cũng lại là những lý tưởng tối cao của Công giáo. Bài thơ sùng kính mà nhà thơ viết cho bà mẹ già, miêu tả bà đang ngắm nhìn ô cửa kính màu trung cổ rực rỡ, bản thân nó tỏa rạng niềm chân thành. Và nhà thơ viết ít nhất một câu đủ sức phá tan mọi cáo buộc; một trong những câu giản dị đến mức khó lòng chuyển cho trọn ý, “Offrit à la mort sa très claire jeunesse”, đại khái nghĩa là, “hiến tuổi trẻ trong và sáng của mình cho cái chết.” Ông viết câu ấy về Jesus Christ; nhưng còn có gì hay hơn để viết về Joan of Arc?
Tôi dừng lại ở ý chen ngang này mộ chút, bởi nó báo trước quan điểm chung mà tất tật những phê bình có phần lan man kia hướng tới, đó là Stevenson đứng về phía sự thật nhưng lại chưa thực sự hiểu sự thật mà ông đại diện. Nếu ông hiểu nó, hẳn ông đã nhận ra tài nghệ đầy khí phách mà ông hết lòng ngưỡng mộ ở Villon thực chất gắn liền với những phẩm hạnh nhất định, những phẩm hạnh chẳng kém thuộc về một thợ thủ công chỉ vì chúng tình cờ cũng là phẩm hạnh của một tên trộm. Chẳng ai vờ rằng Villon là một ông thánh, nhưng những biểu hiện bề ngoài đầy tiếng xấu của nhà thơ không khiến ông ta (đối với những người cùng đức tin với ông) trở thành một tội đồ đặc biệt vô phương cứu chữa. (…) Khi Stevenson bắt tay vào khắc họa Villon cùng đám du thủ du thực bạn hắn giữa khung cảnh tuyết rơi và những gargoyle của Paris trung cổ, ông đã khắc lên thật cẩn thận tác phẩm kỳ dị ấy như một con gargoyle và làm cân xứng câu chuyện của ông cách tuyệt đẹp hệt như một bản ballade Pháp. Ông không dùng thuốc phiện hay rượu absinthe rồi ngồi xuống và đợi cho nguồn năng lượng vũ trụ vô danh từ đâu đó đến tràn vào tâm hồn mình. Tinh thần ông hoàn toàn khác biệt với thứ hoài nghi luận thần bí vốn phổ biến vào thời ông. Ông là người có trách nhiệm, thận trọng và tằn tiện; ông xứng đáng đường hoàng với danh xưng một người lao động.
Điểm mấu chốt ở đây là ngay cả sơ suất lớn nhất của ông với tư cách một nghệ sĩ cũng lại là sơ suất điển hình của một thợ thủ công. Ông có lẽ đã làm việc trong một phạm vi quá hẹp, chỉ tập trung tạo ra một tác phẩm hoàn hảo trong thể loại của nó với những chất liệu nhất định, bằng một phương pháp nhất định và trong khuôn khổ những giới hạn của một phong cách nhất định. Cùng một lối phê bình cảm thấy một bài ballade Pháp quá gò bó và mang hình thức quá nhân tạo, hoặc cảm thấy bức tượng Đức Trinh Nữ thế kỷ mười bốn mang tư thế quá cứng nhắc hay thiếu tự nhiên, hẳn cũng thấy rằng một câu chuyện của Stevenson là quá nghèo nàn về chất liệu hoặc quá khắt khe trong sự thống nhất của phong cách. Tôi không cố tình cho lối phê bình như thế là hoàn toàn bất công hay vô lý. Tác phẩm của Stevenson có các khiếm khuyết, giống như mọi tác phẩm xuất sắc khác; và thiếu sót lớn nhất của ông dường như nằm ở một độ mỏng nhất định, vốn phát xuất từ bản năng muốn giản lược triệt để. Tuy nhiên không ai có thể viết cách thỏa đáng một lịch sử văn chương thế kỷ mười chín mà không đề cập đến điểm xuất phát quan trọng này trong sự hướng tới chỗ lựa chọn từ ngữ sát sao và thận trọng hơn, khi so sánh với sự buông lỏng đầy vui tươi của giai đoạn trước đó hay sự buông lỏng nhiều tính chất ảm đạm hơn sau này. Dẫu Stevenson có đại diện cho bất cứ điều gì khác, ông chắc chắn đại diện cho cái ý rằng văn chương không chỉ thuần là cảm giác, tự bộc lộ và ghi chép; đó là cảm giác tác động đến những giác quan xác định, sự tự bộc lộ thông qua một chất liệu cụ thể và ghi chép theo một phong cách nhất định. Qua đó, ông khẳng định chắc chắn quyền của linh hồn con người, đối lập với những lực vô hình mà một số người cho là linh hồn của tự nhiên; anima mundi của các nhà phiếm thần luận. Theo cách này Stevenson đại diện cho chân lý sâu xa, cổ xưa, thiêng liêng và có tính cách truyền thống đã được truyền dạy cho thế hệ ấy bởi William Morris, và cả hai người họ đều hoàn toàn không ý thức được đó là gì.
Công Hiện dịch
Chesterton đọc văn chương thời Victoria
William Morris: Nghệ thuật và lao động
Stevenson: Các yếu tố kỹ thuật của phong cách
