Meister Eckhart: German Sermon 2
Bài giảng thứ hai
Cha Eckhart
ĐẤNG VỪA SINH RA VÀ LÀM VUA DÂN DO THÁI HIỆN Ở ĐÂU?
(Mt 2:2)
“Đấng vừa sinh ra và làm vua dân Do Thái hiện ở đâu?” Giờ ta hãy xem, sự sinh ra này, xảy ra ở đâu. “Đấng vừa sinh ra hiện ở đâu?” Thầy nói, như bấy lâu nay vẫn thường, rằng sự hằng sinh này diễn ra trong tâm hồn đúng y như nó diễn ra trong cõi đời đời, không hơn không kém, bởi lẽ đó là sự sinh ra độc nhất, và sự ấy diễn ra trong yếu tính và trong nền tảng của tâm hồn.
Giờ có vài nan đề trỗi lên thế này. Trước hết, vì Thiên Chúa ở trong mọi sự ở tư cách trí tuệ, và Người thật sự ở trong chúng hơn là chúng ở trong bản thân, và vì hễ Thiên Chúa ở đâu thì Người tất phải hoạt tác ở đó, tự-tri chính Người và phán Lời Người - thì, có phương diện gì đặc thù chăng mà tâm hồn lại hợp với động tác này của Thiên Chúa, hơn cả những vật thụ tạo có lý trí khác, vốn cũng là nơi Thiên Chúa ở trong? Hãy tập trung nghe giải thích.
Thiên Chúa ở trong mọi sự ở tư cách hữu thể, tư cách hoạt động, tư cách năng lực. Nhưng Người chỉ sinh hoa kết trái ở mỗi tâm hồn mà thôi, vì dẫu mọi thụ tạo đều là dấu tích của Thiên Chúa, tâm hồn lại mới là hình ảnh tự nhiên của Người. Hình ảnh này nhất thiết phải được sửa soạn và hoàn thiện trong sự sinh ra này. Không vật thụ tạo nào khác mà chỉ mỗi tâm hồn mới ứng-nhận được hành động này, sự sinh ra này. Thật thế, những sự toàn thiện như thế khi bước vào tâm hồn - dù có là sự sáng bất phân của Thiên Chúa, ân sủng, hay phúc lạc - đều phải nhờ sự sinh ra ấy mà bước vào tâm hồn, và chẳng qua con đường nào khác. Hãy cứ chờ sự sinh ra ấy trong chính anh em, rồi anh em sẽ kinh nghiệm được mọi sự tốt lành, yên ủi, mọi hạnh phúc, mọi hữu thể và mọi sự thật. Còn nếu anh em để vuột mất, anh em cũng sẽ mất hết mọi sự tốt lành lẫn phước báu luôn.
Hễ sự gì đến với anh em trong sự sinh ra ấy cũng sẽ đem cho anh em hữu thể nguyên tuyền và sự bền vững; còn sự gì mà anh em tìm kiếm hay bám víu, nằm ngoài sự sinh ra này thì sẽ hư mất - cứ nắm giữ đi, bằng đủ cách, ở đủ nơi - tất tật sẽ hư mất. Chỉ mình sự này mới ban cho hữu thể thôi - còn lại đều hư mất hết. Nhưng trong sự sinh ra này, anh em sẽ được thông phần vào dòng chảy từ Thiên Chúa và mọi ân tứ từ nó. Các vật thụ tạo không mang hình ảnh của Thiên Chúa không đón nhận được điều này, bởi hình ảnh của tâm hồn đặc biệt quy hướng về sự hằng sinh, một biến sự thực hữu, đặc biệt, ở trong tâm hồn, được sinh ra bởi Chúa Cha trong nền tảng của tâm hồn và nơi kín sâu tột cùng, nơi không hình ảnh nào từng chiếu đến cũng không năng lực nào (của tâm hồn)[1] từng ló vào.
Câu hỏi thứ hai là: Vì cuộc sinh ra diễn ra trong yếu tính và trong nền tảng của tâm hồn, nên nó cũng xảy ra trong tội nhân hệt như trong thánh nhân, vậy có ân sủng hay sự tốt lành nào ngụ trong đó cho ta chăng? Bởi nền tảng tự nhiên ở cả hai là như nhau - thật vậy, đến những người ở dưới địa ngục còn giữ sự trổi vượt mãi trong bản tính kia mà.
Lắng nghe lời giải đây: Đặc tính của sự sinh ra này là nó luôn đi kèm với sự sáng mới. Nó luôn mang một sự sáng lớn đến cho tâm hồn, bởi bản tính của sự tốt lành là tự khuếch tán mình ở nơi nó hiện diện. Trong sự sinh ra này, Thiên Chúa tuôn đổ vào tâm hồn một sự sáng dư dật, đầy tràn khắp yếu tính lẫn nền tảng tâm hồn đến độ nó chảy đi mà làm ngập khắp các năng lực và ra tới con người bên ngoài. Sự này đã trút xuống Phao-lô như thế khi ông đang đi đường và Chúa chạm đến ông bằng sự sáng Người mà phán: một phản chiếu của sự sáng ấy ánh ra ngoại hướng, nên các bạn đường mới thấy nó bọc quanh ông như những phúc nhân (trên Trời). Sự sáng dư tràn trong nền tảng tâm hồn khai mạch ra khắp thân xác, khiến nó đầy dẫy huy hoàng. Không tội nhân nào có thể nhận sự sáng này, cũng chẳng xứng để nhận, bởi lòng họ đầy tội và gian ác, gọi là những “sự tối” [darkness]. Bởi thế có lời chép, “Sự tối đã không nhận và cũng không nhậm được sự sáng” (Ga 1:5). Ấy là vì, những con đường cho sự sáng đi vào đều đã bít lấp và ngăn trở bởi sự mờ [guile] và sự tối: bởi sự sáng không thể đồng hiện với sự tối, cũng như Thiên Chúa với thụ tạo; nếu Thiên Chúa đi vào, thụ tạo phải đồng thời đi ra. Một người nọ ý thức rõ ràng sự sáng này. Ngay khắc anh quay về với Chúa, một sự sáng lóe lên và bừng tỏa trong anh, khiến anh ta hiểu điều phải làm và điều phải tránh, cùng nhiều minh-hướng về những sự trước nay anh ta không hề biết hay hiểu.
“Thầy biết điều này từ đâu vậy, và bằng cách nào?”
Hãy cứ chú tâm. Trái tim anh em thường khi lay động và trở mình khỏi thế gian. Vậy điều ấy còn từ đâu đến nữa ngoài sự minh thị này? Nó thật cuốn hút và êm dịu đến nỗi anh em trở nên ngấy ngán hết những gì không phải Chúa hoặc không thuộc về Chúa. Nó kéo anh em lại gần Chúa và anh em nhận ra nơi mình nhiều thúc đẩy để làm việc lành, dù không biết chúng đến từ đâu. Nội khuynh này hoàn toàn không do các thụ tạo hay những gọi mời từ chúng: phàm chi thụ tạo dẫn hướng hay tác động đều ngoại tại. Nhưng trong sự hoạt tác này thì chỉ có phần nền (của tâm hồn) là lay động, và càng để mình tự do bao nhiêu, anh em càng tìm thấy nhiều sự sáng, sự thật và sự phân định[2] bấy nhiêu. Bởi thế nên chưa từng có ai lạc lối vì lý do nào khác hơn, ngoài việc họ rời bỏ sự này trước, rồi sau lại bám víu quá mức vào những sự bên ngoài. Thánh Augustine bảo rằng từng có lắm người tìm sự sáng và sự thật, mà chỉ tìm ở bên ngoài, nơi có tìm mấy cũng chẳng thấy. Rốt rồi họ đi ra thật xa đến mức chẳng còn về nhà được hay lần lại đường vào nữa. Nên họ đã không tìm ra sự thật, bởi sự thật nằm bên trong, trong nền tảng, chứ không bên ngoài. Vậy ai muốn tìm thấy sự sáng để phân định mọi sự thật, khá canh thức và nhận biết sự sinh ra ở trong này, ở nền tảng. Khi ấy, mọi năng lực của người ấy sẽ được soi sáng, và cả con người bên ngoài cũng vậy. Vì ngay khi Chúa lấy sự thật khuấy động nền tảng từ bên trong, sự sáng từ nó sẽ rọi vào các năng lực của người ấy, và người ấy lắm khi lại biết nhiều hơn người dạy dỗ mình. Như ngôn sứ nói, “Này tôi đã gom góp, đã thu thập được nhiều điều khôn ngoan hơn tất cả những vị từng dạy tôi”[3]. Anh em thấy đó, bởi sự sáng này không thể ánh lên hay thắp được lên ở tội nhân, nên sự sinh ra này không thể có nơi họ. Sự sinh ra ấy cũng không thể đồng hiện với sự tối từ tội, dẫu nó xảy ra - không phải ở các năng lực - ở yếu tính và nền tảng của tâm hồn.
Có câu hỏi: Vì Đức Chúa Cha chỉ sinh ở yếu tính và nền tảng tâm hồn chứ không sinh ở các năng lực, vậy các năng lực có liên quan gì ở đây? Chúng giúp được gì khi chỉ ở yên và ngơi nghỉ? Chúng làm được gì khi sự sinh ra này không diễn ra nơi chúng? Đó là một câu hỏi hay. Hãy lắng nghe lời giải.
Mọi loài đều hoạt tác nhằm đến một cứu cánh. Cứu cánh luôn là điều tiên khởi trong ý hướng nhưng là điều chung kết khi tiến hành. Cũng vậy, Thiên Chúa nhắm đến một cứu cánh chí phúc trong mọi hoạt tác của Người, tức là chính Người: làm sao để đưa tâm hồn và mọi năng lực của nàng vào trong cứu cánh - tức chính Người. Mọi hoạt tác của Thiên Chúa cốt cũng tại điều này, vì điều này mà Cha mới sinh Con Người ra trong tâm hồn, để mọi năng lực của tâm hồn được đến với điều này. Người trông đợi mọi sự mà tâm hồn dung chứa, mời gọi chúng đến dự yến ở cung Người. Nhưng tâm hồn bị phóng tán ra các năng lực và bị tiêu biến mỗi khi các năng lực hành động: năng lực nhìn của mắt, năng lực nghe của tai, năng lực nếm của lưỡi - nên khả năng hoạt tác ở trong trở nên suy nhược: năng lực mà bị phân tán thì bất toàn. Bởi thế, để cho sự hoạt tác ở trong có hiệu quả, nàng phải triệu hồi mọi năng lực vào, quy tập chúng từ thế đa tạp về thành một hoạt động nội khuynh đơn nhất. Thánh Augustine nói rằng tâm hồn ưa ở nơi nàng yêu hơn là nơi nàng ban sự sống cho thân xác. Chẳng hạn, có một thầy ngoại say mê một loại nghệ thuật, là toán học, và đã tận hiến mọi năng lực của mình vào đó[4]. Ông ngồi bên đống lửa hồng, tính toán và thực hành nghệ thuật ấy, thế rồi có người đến, rút gươm ra và, không hay biết đó là vị thầy, bèn bảo, “Mau khai tên, không ta giết!” Thầy ta đã quá mê mải để còn thấy hay nghe gã hay nắm bắt lời gã nói: ông không nặn nổi một lời, dù là để nói “Tên tôi là A”. Tên kia, thấy kêu hoài mà không được đáp, đoạn đầu ông. Tất tật chỉ để lĩnh hội một môn khoa học tự nhiên thôi đấy! Vậy thì ta còn phải thối lui biết mấy, khỏi mọi sự, đặng kết tập mọi năng lực của ta vào việc tri nhận và biết lấy sự thật duy nhất vô hạn, tự hữu[5], đời đời! Vì cứu cánh này, anh em hãy tập hợp mọi năng lực của mình, mọi giác quan, cả trí khôn và trí nhớ; hướng chúng vào nền tảng nơi của báu của anh em vùi chôn. Nhưng nếu điều này xảy ra, hãy biết rằng anh em phải buông bỏ hết mọi tác động khác - phải đi vào một sự không-biết, nếu anh em muốn tìm thấy nó.
Lại có câu hỏi: Hình như, nếu để mỗi năng lực tự lo lấy phần riêng của mình, không cản trở các năng lực khác, không cản trở Thiên Chúa hay phần việc của Người, thì đáng hơn. Mà bộ trong trong tôi không có một kiểu nhận biết nào thuộc loài thụ tạo song không gây cản trở, giống như Thiên Chúa biết mọi sự mà không bị ngăn trở, giống các phúc nhân trên Trời, hay sao?[6] Đó là một câu hỏi hay. Hãy nghe lời giải.
Các phúc nhân thấy Chúa trong một hình ảnh đơn nhất, và trong hình ảnh ấy, họ thấy rõ ràng mọi sự. Thiên Chúa cũng thấy chính Người như thế, tri nhận mọi sự trong chính Người. Người chẳng cần đảo mắt từ sự này sang sự khác, như chúng ta. Giả thử trong đời này ta luôn có một tấm gương trước mặt, trong đó ta thấy mọi sự cùng một lúc và nhận định chúng trong một hình ảnh đơn nhất, thì không tác động hay tri thức nào sẽ ngăn trở chúng ta. Nhưng ta nhìn từ sự này sang sự nọ, nên ta chỉ có thể chú tâm vào một sự bằng cách bỏ sự khác đi mà thôi. Vì tâm hồn gắn chặt với các năng lực nên nàng phải xuôi theo chúng đến bất cứ nơi nào chúng xuôi, vì có làm việc gì thì tâm hồn cũng phải hiện diện và chú tâm trong việc đó, không thì chúng sẽ không hoạt tác được. Nếu nàng bị phân tán khi nương theo các hành động ngoại hướng, thì việc ấy tất sẽ làm yếu các hoạt tác nội hướng. Bởi trong sự sinh ra này, Chúa cần và đòi hỏi một tâm hồn rỗng không, tự do, không vướng bận, chẳng dung gì ngoài mỗi Người, và không hướng đến gì hay ai ngoài Người. Về điều này, Chúa Ki-tô dạy rằng, “Ai yêu điều gì khác hơn Thầy, yêu cha mẹ hay yêu điều gì khác thì không xứng với Thầy. Thầy không đến đem bình an cho đất, mà đem gươm, để đoạn lìa mọi sự, để chia rẽ anh em khỏi anh chị em, khỏi mẹ, con cùng bạn hữu, những kẻ thù thật của anh em.” (Mt 10:34-36). Bởi phàm chi thân thuộc với anh em đều là kẻ thù anh em. Nếu mắt anh em muốn thấy mọi sự, tai muốn nghe mọi sự, tim muốn nhớ mọi sự, thì quả thật, tâm hồn anh sẽ phân tán tứ tung trong hết mọi sự ấy.
Thành thử, có vị thầy nói, “Để đạt được một hành động nội tâm, con người phải gom nhặt mọi năng lực lại, thể như dồn mình vào một góc tâm hồn mà, ẩn đi khỏi mọi hình ảnh cùng hình thức, khởi sự hoạt tác.” Ở đó, con người phải đi vào một sự quên và một sự không biết. Phải có một tĩnh tại và một thinh lặng để Lời cất tiếng. Ngoài tĩnh tại và thinh lặng ra, chẳng còn cách nào để phục vụ Lời cho tốt hơn: ở đó, ta nghe được Lời, và cũng sẽ hiểu đúng Lời - trong sự không biết. Cho người không biết gì, Lời hiện ra và vén mình.
Lại có câu hỏi. Hẳn anh em sẽ bảo, “Thưa thầy, thầy đang đặt ơn cứu rỗi chúng ta vào trong vô tri. Nghe cứ thiếu thiếu. Thiên Chúa dựng nên con người là để thấy biết, như lời ngôn sứ, ‘Lạy Chúa, xin Người cho chúng con thấy biết!’ (Tb 13:4). Nơi đâu có sự vô tri, nơi đó có khuyết hụt, có điều bị thiếu, con người bỗng trở nên thô lậu, như con khỉ, như kẻ khờ, và chừng nào còn ở trong sự vô tri ấy thì người ta vẫn còn mãi như thế.” A, nhưng tại điểm này, ta chạm đến một tri thức đã được biến đổi đấy, và sự không biết này không phát sinh từ sự vô tri, nhưng từ chính “tri”, mà ta đạt được sự không-biết. Khi ấy ta sẽ là kẻ biết bằng sự biết của Thiên Chúa, và sự không biết của ta sẽ được tôn lên cao và điểm sức với sự biết siêu nhiên. Và qua việc giữ mình thụ động, ta lại hoàn thiện hơn so với khi tác động. Do vậy mà một thầy từng tuyên rằng thính giác cao trọng hơn thị giác, bởi ta học được nhiều điều khôn ngoan nhờ nghe hơn là nhờ thấy, và nhờ đó mà sống khôn ngoan hơn. Người ta kể rằng có một thầy ngoại đang giờ hấp hối. Các môn đệ bàn luận trước mặt ông một nghệ thuật tôn quý nào đó, và, tuy sắp chết đến nơi, ông vẫn ngóc đầu dậy để nghe, mà nói, “Ôi cho ta học nghệ thuật này ngay đi, để ta được hân hưởng nó đến mãi mãi!” Nghe thụ nhận vào trong nhiều hơn, còn thấy lại hướng ra ngoài nhiều hơn - chính hành động nhìn đã là như thế. Thành ra, trong sự sống đời đời, ta sẽ hân hưởng năng lực nghe của ta nhiều hơn cả năng lực nhìn. Bởi hành động nghe Ngôi Lời hằng hữu nội tại tôi, còn hành động thấy thì đi ra từ tôi: trong khi nghe, tôi thụ động, còn khi thấy, tôi tác động.
Nhưng phúc lạc của ta không hệ tại tác động, mà hệ tại việc trở nên thụ động cho Thiên Chúa. Vì như Thiên Chúa trổi vượt hơn thụ tạo, thì hoạt tác của Chúa cũng trổi vượt hơn của ta. Chính vì tình yêu vô lượng của Người mà Chúa đã đặt phúc lạc của ta vào trong sự chịu-đựng[7], bởi ta chịu nhiều hơn là tác, và lĩnh nhận nhiều vô kể hơn là ban cho; và mỗi ân tứ ta nhận được lại dọn sẵn ta để còn nhận thêm một ân tứ khác, lớn hơn cả thế, và mọi ân tứ từ Thiên Chúa lại càng tăng thêm dung-lượng và lòng khao khát lãnh nhận những điều cao cả, vĩ đại hơn. Bởi thế, có vài thầy dạy rằng chính trong phương diện này mà tâm hồn tương xứng với Chúa. Bởi như Chúa ban cho vô hạn thể nào, thì tâm hồn cũng thụ nhận vô hạn thể ấy. Và cũng như Chúa toàn năng trong tác, thì tâm hồn cũng thậm thâm không kém trong chịu; và nhờ đó, nàng được biến đổi với Chúa và trong Chúa. Chúa nhất thiết phải tác và tâm hồn phải chịu, Người nhất thiết phải biết và yêu chính Người trong nàng; nàng nhất thiết phải tri bằng tri thức của Người và yêu bằng tình yêu của Người, và do vậy, nàng hiện hữu bằng những sự thuộc về Người hơn là những sự thuộc về nàng, và phúc lạc của nàng cũng không khác, phụ thuộc vào tác động của Người hơn là của nàng.
Môn đệ của Thánh Dionysius từng hỏi ngài vì sao Timothy lại vượt trội hơn họ ở sự hoàn thiện. Ngài đáp, “Timothy là một con người chịu-Thiên-Chúa. Ai thạo được điều này thì vượt xa hơn hết mọi người.”
Như vậy, sự không biết của anh em chẳng phải là thiếu sót, mà chính là sự hoàn thiện cao nhất, và sự chịu đựng của anh em là hoạt động cao nhất. Thế nên, anh em phải vứt hết mọi việc làm, tắt lặng các quan năng, nếu anh em thật sự muốn kinh nghiệm sự sinh ra này trong anh em. Nếu anh em muốn tìm thấy vị Vua mới sinh, anh em phải vượt lên trên và bỏ lại mọi sự khác. Xin Đấng đã hiện thân làm một Hài Nhi giúp chúng ta được trở nên con cái Thiên Chúa để chúng ta vượt lên và bỏ lại đằng sau mọi sự không đẹp lòng vị Vua mới sinh. Amen.
Gia Hải dịch
[1] Xem lại Bài giảng 1, chú thích 8.
[2] Tức phân biệt các loại thần khí (spirit) tốt và dữ với nhau, để con người khỏi bối rối hay mắc chước quỷ, và biết đâu là thần khí tốt từ Thiên Chúa để thuận theo, yên lòng. Sự phân định này rồi sẽ rõ hơn khi đến với Thánh Ignatius Loyola.
[3] Giảng viên 1:16.
[4] Tức Ác-xi-mét, theo truyền tích là đã bị một lính La Mã giết khi đang vẽ các hình hình học trên cát trong vườn nhà mình tại Syracuse (năm 212 trước Công Nguyên).
[5] Nguyên bản: ungeschaffene. Từ này gồm un-: tiền tố phủ định, tương đương “không-, vô-”; geschaffen: quá khứ phân từ của động từ schaffen (“tạo thành”, “sáng tạo”); -e: đuôi biến cách tính từ yếu trong cụm danh từ. Tức chỉ cho sự đã có từ trước, không cần tạo ra. Tương đương với câu “được sinh ra mà không phải được tạo thành” trong Kinh Tin Kính.
[6] Điều này tương đương với khái niệm “docta ignorantia” của Nicholas Cusanus (1401–1464).
[7] Nguyên bản: Erleiden. Có nghĩa “chịu” một điều gì đó (như một loạt các từ tiếp theo trong đoạn), một hành động đưa mình vào thế bị động. Từ này còn có nghĩa là “sự khổ”, và ta hoàn toàn có thể hiểu rằng sự chịu khổ chính là phúc lạc mà Chúa đã ban cho ta.
