The Pardoner’s Prologue
The Introduction to the Pardoner’s Tale
Những lời của Chủ quán nói với Đốc-tờ và Viên xá tội.
Chủ quán của chúng ta bắt đầu chửi thề như thể phát điên;
“Hỡi ôi!” ông bật thốt, “nhân danh những chiếc đinh và dòng máu thánh! [1]
Đó quả là một gã đê tiện gian tà và một tên thẩm phán bất lương.
Cái chết nhục nhã nhất mà lòng người có thể bày ra
Hãy nhìn những tên quan tòa và lũ trạng sư của chúng!
Dù sao nàng trinh nữ tội nghiệp đã bị giế, hỡi ôi!
Than ôi cái giá nàng trả cho sắc đẹp mới thật cay đắng!
Bởi thế ta hằng nói để người đời đều có thể rõ tỏ
Rằng những tặng phẩm của Vận May và của Tạo Hóa
Lại là căn nguyên cái chết bao kiếp chúng sinh.
Sắc đẹp của nàng chính là cái chết của nàng, ta dám chắc.
Hỡi ôi sao nàng lại bị sát hại thảm thương đến thế!
Trong cả hai tặng phẩm mà ta vừa mới nhắc tên,
Người đời thường chuốc lấy họa nhiều hơn là hưởng phúc.
Nhưng thực tình, thưa bậc thầy đáng kính của tôi,
Đây quả là chuyện kể nghe qua thật đau đớn.
Dù sao hãy gác lại; chẳng hề chi.
Ta nguyện cầu Chúa bảo toàn thân xác cao quý của ngài,
Cùng cả những bình thử nước tiểu [2] và những hũ nghiệm phương,
Rượu thuốc ypocras [3] và cả dược phẩm galiones của ngài,
Cùng mọi chiếc hộp đựng đầy cao thuốc [4] của ngài;
Nguyện Chúa và Đức Bà Maria Thánh thiện phù trì chúng!
Nguyện cho ta hưng thịnh [5], ngài quả là bậc nam nhi khôi ngô,
Lại có cốt cách tựa bậc cao tăng, nhân danh Thánh Ronyon [6]!
Ta nói chẳng phải sao? Ta vốn không biết luận bàn bằng danh từ học thuật;
Nhưng ta thấu rõ rằng ngài đã khiến lòng ta bi ai quá đỗi,
Đến mức ta suýt chút nữa đã mắc chứng đau tim.
Nhân danh thánh thể và xương cốt Chúa! Ví bằng chẳng có linh đan,
Hay ít ra hớp được ngụm bia mạch nha nồng đượm,
Hoặc giả được nghe thấy tức thì một tích chuyện vui,
Thì lòng ta hẳn tan nát vì xót thương nàng trinh nữ ấy.
Này vị hảo hữu, này Viên xá tội,’ ông ta gọi,
Hãy kể một chuyện mua vui hay những lời bông lơn đi.
“Sẽ được toại nguyện,” hắn đáp, “nhân danh Thánh Ronyon!
Nhưng trước hết,” hắn nói, “ngay tại tửu điếm này,
Ta muốn nhấp chút rượu và nhấm nháp chút bánh cay.”
Nhưng tức thì, những bậc cao quý ấy đồng thanh kêu lớn,
Chớ! Đừng để hắn kể những chuyện dung tục dâm ô!
Hãy giảng điều gì đạo hạnh để chúng ta được răn dạy,
Đôi chút minh triết, và rồi chúng ta sẽ vui lòng lắng nghe.”
“Ta chuẩn y, quả thực,” hắn đáp, “nhưng ta cần nghĩ đã
Về một tích chuyện thanh cao trong lúc ta cạn chén.”
The Pardoner’s Prologue
“Chư vị quân tử,” hắn nói, “nơi giáo đường mỗi khi ta thuyết giảng,
Ta dụng công để có giọng lời cao đạo vang rền,
Và vang vọng tròn đầy tựa tiếng chuông ngân,
Bởi mọi điều ta kể đều đã thuộc lòng như cháo chảy.
Chủ đề của ta xưa nay duy chỉ một, và mãi mãi vẫn là
Radix malorum est Cupiditas.
“Trước tiên ta tuyên cáo nơi ta tới,
Đoạn ta trình ra sắc chỉ [7] từng tấm một.
Ấn tín của vị minh quân trên tờ chứng thư của ta,
Ta trình ra trước hết, để bảo an cho thân xác này,
Ngõ hầu chẳng kẻ nào dám đường đột, dù linh mục hay giáo sĩ,
Mà quấy nhiễu ta thực thi công việc thiêng liêng của Chúa Kitô.
Sau đó ta mới kể ra những tích chuyện của mình;
Các sắc chỉ của Giáo hoàng cùng của những bậc Hồng y,
Của cả những Giáo trưởng lẫn Giám mục ta đều phô diễn,
Lại điểm xuyết thêm vào đó đôi lời tiếng Latinh [8],
Cốt để nêm thêm phong vị cho bài thuyết giáo,
Và ngõ hầu lay động lòng thành kính nơi chúng dân.
Đoạn ta mới phô ra những ống tinh pha trường thon,
Nhồi nén đầy những giẻ vụn cùng xương xẩu
Ấy là thánh tích như thảy mọi người đều đinh ninh.
Đoạn ta lại trình ra mảnh xương vai khảm đồng thiếc,
Vốn thuộc về con cừu của một bậc thánh đức Do Thái thuở xưa.
“Này chư vị hiền hữu,” ta phán, hãy lưu tâm lấy lời ta;
Ví bằng linh cốt này được gột rửa trong bất kỳ giếng khơi nào,
Nếu bò cái, bê con, cừu hay bò đực bị sưng tấy
Do sâu bọ rỉa rói, hay trùng độc cắn,
Hãy lấy nước giếng ấy mà rửa lưỡi cho chúng,
Thì chúng sẽ khang kiện lại tức thì; và hơn thế nữa,
Dẫu là bệnh đậu, bệnh ghẻ, hay mọi vết loét đau,
Mọi con cừu đều sẽ lành lặn nếu được dùng nước giếng này
Nhấp một ngụm đi. Lại phải lưu tâm điều ta sắp nói:
Ví bằng gia chủ [9], kẻ sở hữu bầy gia súc,
Cứ mỗi tuần lễ, trước khi tiếng gà gáy rộ,
Lúc bụng còn đói, nhấp một ngụm nước giếng này,
Y như bậc thánh đức Do Thái nọ truyền dạy cha ông,
Thì vật nuôi cùng sản nghiệp hắn sẽ sinh sôi nảy nở khôn cùng.
Lại thưa chư vị, linh cốt này còn trị được cả thói ghen;
Bởi dẫu có kẻ đang cơn thịnh nộ ghen điên dại,
Cứ dùng nước này mà ninh xúp cho hắn dùng,
Thì chẳng bao giờ hắn còn ngờ vực hiền thê nữa,
Dẫu cho tường tận mọi lỗi lầm hư hỏng của nàng,
Kể cả khi nàng đã tư thông với đôi ba gã thầy dòng.
Lại đây là chiếc bao tay, mời chư vị cùng chiêm ngưỡng.
Kẻ nào xỏ bàn tay mình vào chiếc bao này,
Hắn sẽ thấy hoa màu lúa thóc nảy nở bội phần,
Lúc gieo trồng, dẫu là lúa mì hay yến mạch,
Miễn là hắn biết dâng cúng xu đồng hay dăm đồng bạc lẻ.
“Hỡi thiện nam tín nữ, ta có một lời răn cáo:
Ví bằng hiện hữu nơi giáo đường này kẻ nào
Đã trót nhúng tay vào tội ác kinh hồn, kẻ mà
Vì hổ thẹn chẳng dám xưng tội giải bày,
Hay có người đàn bà nào, dẫu trẻ hay già,
Đã khiến phu quân mình phải mang danh mọc sừng,
Những hạng người ấy sẽ chẳng có quyền năng hay ân điển nào
Để dâng cúng trước những thánh tích của ta nơi đây.
Nhưng phàm ai thấy mình sạch bóng những vết nhơ ấy,
Hãy tiến lên phía trước mà dâng lễ nhân danh Chúa,
Và ta sẽ xá tội cho kẻ đó bằng quyền uy
Mà sắc chỉ của Giáo hoàng đã ban thác cho ta.”
“Nhờ tiểu xảo này ta đã thu lợi, năm nối tiếp năm,
Cả trăm đồng mác kể từ khi ta là viên xá tội.
Ta đứng đó như một vị giáo sĩ trên bục giảng kinh,
Và khi đám dân đen vô học đã ngồi yên vị dưới kia,
Ta rao giảng y hệt như những gì chư vị vừa nghe,
Lại bồi thêm hàng trăm tích truyện dối lừa khác nữa.
Đoạn ta dụng công rướn cổ thật dài,
Hết hướng đông sang hướng tây, ta gật gù trước dân chúng,
Tựa cánh chim bồ câu [10] đậu trên nóc lẫm lúa.
Đôi tay ta múa lượn, lưỡi ta lanh lẹ nhịp nhàng,
Đến độ kẻ xem lấy làm khoái lạc khi nhìn sự tất bật của ta.
Về thói tham tàn và những nghiệp chướng tà ác,
Là tất thảy bài thuyết giáo của ta, cốt làm chúng rộng tay
Mà dâng cúng những đồng xu và cốt yếu là dâng cho chính ta.
Bởi dã tâm của ta chẳng gì ngoài truy cầu lợi lộc,
Chứ tuyệt chẳng màng đến việc tu chỉnh tội khiên.
Ta chẳng bận lòng, một khi thây chúng đã vùi dưới đất,
Dẫu linh hồn chúng có vất vưởng đi hái dâu dại [11] nơi hoang mồ!
Vì xác thực thay biết bao bài thuyết giáo
Thường bắt nguồn từ những ý định tà gian;
Kẻ thì vì muốn mơn trớn, nịnh hót lòng người,
Để được tiến thân bằng sự giả ngụy điêu ngoa,
Kẻ lại vì hư vinh, kẻ khác vì thù hận.
Khi ta chẳng dám tranh biện bằng nẻo nào khác,
Ta sẽ châm chích kẻ đó bằng tấc lưỡi sắc lẹm,
Ngay lúc thuyết giảng, ngõ hầu hắn chẳng thể thoát thân
Khỏi bị bôi nhọ điêu ngoa, nếu như hắn
Đã đắc tội với huynh đệ ta hay với chính ta.
Bởi dẫu ta chẳng gọi đích danh tên họ,
Người đời hẳn sẽ biết rõ kẻ ấy là ai,
Qua những ám hiệu cùng sự trạng chẳng chạy vào đâu được.
Ấy là cách ta báo oán những kẻ đã gây sự bất bình;
Ấy là cách ta phun nọc độc dưới cái lốt
Của sự thánh khiết, hầu ra vẻ thành tín và chân tu.
“Nhưng ta sẽ nói tóm gọn dã tâm của mình:
Ta chẳng thuyết giáo điều gì ngoài lòng ham muốn.
Bởi thế chủ đề của ta xưa nay, và mãi mãi vẫn là,
Radix malorum est Cupiditas.
Ấy là cách ta thuyết giảng chống lại chính ác nghiệp đó,
Thứ mà chính ta đang lún sâu, chính là thói tham tàn.
Dẫu cho bản thân ta mang trọng tội ấy,
Ta vẫn có thể khiến kẻ khác phải lìa xa
Khỏi lòng tham và phải hối cải đớn đau.
Nhưng đó tuyệt chẳng phải dã tâm chính yếu của ta;
Ta chẳng thuyết giảng điều gì ngoài lòng tham muốn.
Về sự tình này bấy nhiêu hẳn đã đủ rõ.”
“Đoạn ta kể cho chúng nghe bao tích truyện gương soi,
Những cổ tích tự thuở xa xăm vạn đại.
Bởi đám dân đen ngu muội vốn chuộng những lời xưa;
Những thứ ấy chúng mới ghi lòng tạc dạ.
Gì chứ, chư vị tưởng chừng, khi ta còn có thể thuyết giảng,
Và thu về vàng bạc nhờ những lời giáo huấn,
Mà ta lại cam chịu sống cảnh bần hàn tự nguyện sao [12]?
Không, chẳng đời nào, ta thực tình chưa bao giờ nghĩ thế!
Vì ta sẽ chu du khắp chốn để rao giảng và khất thực;
Ta tuyệt chẳng nhúng tay vào bất cứ việc lao dịch [13] nào,
Hay đi bện giỏ để mưu sinh qua ngày,
Cốt sao ta chẳng phải ăn xin một cách vô ích.
Ta chẳng thèm mô phỏng bất cứ vị tông đồ nào;
Ta muốn có tiền bạc, len sợi, phô mai và lúa mì,
Dẫu cho đó là lễ vật của đứa tiểu đồng nghèo hèn nhất,
Hay của người góa phụ bần cùng nhất nơi thôn dã,
Ngay cả khi lũ con của mụ phải chết dần vì đói khát.
Không, ta sẽ nếm vị nồng cay của mỹ tửu
Và vui vầy cùng những nàng nhân tình ở mọi thị trấn.
Nhưng xin lắng nghe đây, hỡi chư vị, để kết lại:
Ý nguyện của chư vị là muốn ta kể một tích truyện.
Giờ ta đã cạn chén bia mạch nha nồng đượm,
Nhân danh Chúa, ta hy vọng sẽ kể cho chư vị một tích chuyện
Mà lẽ đương nhiên sẽ khiến chư vị hài lòng.
Bởi dẫu cho bản thân ta là một kẻ đầy rẫy thói hư,
Ta vẫn có thể kể một câu chuyện đạo hạnh,
Thứ mà ta vẫn thường thuyết giảng để mưu cầu lợi lộc.
Giờ hãy giữ yên lặng! Ta sẽ bắt đầu câu chuyện của mình.”
The Pardoner’s Tale
Tại vùng Flanders [14] thuở nọ có một nhóm thanh niên
Chuyên thói ăn chơi trác táng lầm đường,
Nào náo loạn, bài bạc, lầu xanh và tửu điếm,
Nơi tiếng đàn cầm, đàn luýt cùng đàn ghi-ta réo rắt,
Chúng múa ca và gieo xúc xắc thâu đêm suốt sáng,
Lại còn ăn uống vô độ quá sức chịu đựng của bản thân,
Qua đó chúng thực hiện nghi lễ hiến tế cho quỷ dữ
Ngay trong ngôi đền của quỷ theo cách đầy nguyền rủa
Bởi sự dư thừa hoang phí đáng ghê tởm.
Lời thề của chúng thật lớn lao và đáng rủa sả,
Đến độ nghe chúng thề bồi thật kinh khiếp hãi hùng.
Thân thể Chúa phước lành chúng phanh xé tan tành
Như thể chúng ngỡ người Do Thái xưa chưa hành hạ Người cho đủ
Và mỗi kẻ lại cười cợt trước tội lỗi của đồng bọn mình.
Rồi tức thì những vũ nữ hiện ra,
Dáng vẻ thanh tân, mảnh khảnh, cùng những nàng bán quả tươi,
Những ca nhi với hạc cầm, bọn dắt mối, kẻ bán bánh ngọt,
Thảy đều là những thuộc hạ thực thụ của quỷ vương,
Cốt để nhóm lên và thổi bùng ngọn lửa dâm ô,
Thứ vốn dĩ luôn gắn liền với thói tham ăn tục uống.
Ta lấy Thánh kinh [15] làm minh chứng cho mình
Rằng nọc độc dâm ô ẩn trong men rượu và cơn say.
Xem kìa, gã Lot trong cơn say sưa trái đạo,
Đã ăn cùng hai con gái mình trong sự u mê;
Hắn say đến độ chẳng còn hay biết mình đã làm gì.
Herod [16] cũng vậy, kẻ nào chịu khó tìm tòi sử sách,
Khi hắn đã ngập trong men rượu tại buổi yến tiệc,
Ngay tại bàn tiệc của mình, hắn đã hạ lệnh
Sát hại John Tẩy giả, bậc hoàn toàn vô tội.
Seneca chẳng nghi ngờ gì đã thốt lời chí lý;
Ông bảo rằng chẳng thể tìm thấy điểm khác biệt nào
Giữa một kẻ đã hoàn toàn mất trí
Và một gã đang chìm đắm trong cơn say,
Ngoại trừ việc cơn điên, khi ám vào kẻ ác,
Sẽ kéo dài hơn một cuộc rượu nồng.
Hỡi thói phàm ăn, đầy rẫy sự rủa sả!
Hỡi căn nguyên đầu tiên cho sự suy vong của chúng ta!
Hỡi cội nguồn của nỗi đọa đày muôn kiếp,
Cho đến khi Chúa Kitô dùng máu mình chuộc lại!
Xem kìa, thật đắt giá biết nhường bao, nói gọn lại là,
Để đánh đổi cho chính cái ác nghiệp đáng nguyền rủa ấy!
Cả thế gian này đã mục nát cũng vì thói phàm ăn.
Adam tổ phụ chúng ta và cả hiền thê người,
Từ chốn Địa đàng đến cõi lao khổ sầu bi
Đã bị xua đuổi bởi chính ác nghiệp đó, chẳng chút nghi ngờ.
Bởi khi Adam còn tiết chế việc ăn, như ta được đọc,
Người vẫn ở Địa đàng; song đến khi người
Ăn trái cấm trên cây bị ngăn cấm,
Tức thì người bị tống vào chốn sầu đau.
Hỡi thói phàm ăn [17], ta thực đáng oán trách ngươi!
Ôi, giá nam nhân thấu hiểu bao tai ương
Luôn theo sau sự thái quá và thói phàm ăn,
Hẳn người ấy sẽ biết chừng mực hơn
Trong chế độ ăn, khi ngồi nơi bàn tiệc.
Than ôi, cái họng ngắn ngủn, cái miệng mềm nhũn,
Đã khiến cho khắp đông tây cùng nam bắc,
Trên đất, trên không, dưới nước, người người lao khổ
Chỉ để kiếm cho kẻ phàm ăn những món ngon vật lạ!
Về lẽ này, hỡi Thánh Paul, ngài luận bàn thật chí lý:
“Thức ăn dành cho bụng, và bụng cũng dành cho thức ăn,
Rồi Chúa sẽ hủy diệt cả hai,” như lời Thánh Paul đã dạy.
Than ôi, thật nhơ nhuốc thay, ta thề danh dự,
Khi thốt ra lời này, và còn nhơ nhuốc hơn là hành vi ấy,
Khi kẻ kia mải mê nốc cạn thứ rượu trắng rượu hồng
Đến độ hắn biến cái họng mình thành nơi xú uế
Bởi chính cái thói dư thừa đáng nguyền rủa kia.
Vị tông đồ vừa than khóc vừa thốt lời đầy bi thiết [18]:
“Biết bao kẻ ngoài kia đang rảo bước, hạng người mà ta đã từng can gián
Giờ đây ta phải nói ra trong dòng nước mắt và giọng khản đặc u sầu
Rằng chúng chính là kẻ thù của thánh giá Kitô,
Kẻ mà kết cục là cái chết; và cái bụng chính là thần thánh của chúng!”
Hỡi cái dạ dày! Hỡi cái bụng! Hỡi cái túi chứa thối tha,
Đầy rẫy những uế vật và sự mục rữa!
Ở cả hai đầu của ngươi, âm thanh phát ra thảy đều bẩn thỉu.
Thật tốn bao công sức và tiền của chỉ để cung phụng ngươi!
Lũ đầu bếp kia, chúng giã, chúng lọc, rồi lại xay,
Hòng biến đổi bản thể thành ngoại vật
Cốt để thỏa mãn mọi dục vọng phàm ăn của ngươi!
Từ những dóng xương cứng, chúng đập ra
Thứ tủy cốt, chẳng nỡ vứt chút gì
Miễn là trôi lọt cuống họng thật êm và ngọt.
Nào lá, nào vỏ, nào rễ, bao thứ hương liệu [19]
Được chế thành nước sốt cho thỏa niềm khoái lạc,
Cốt để khơi dậy một cơn thèm ăn mới lạ.
Song, thực sự, kẻ nào đắm chìm trong những cao lương ấy
Đã chết rồi, dẫu hắn vẫn đang sống trong ác nghiệp.
Một thứ dâm ô ấy chính là rượu [20] và sự say sưa
Đầy rẫy những tranh đoạt cùng sự thảm hại.
Hỡi kẻ say, khuôn mặt ngươi đã biến dạng soi gương,
Hơi thở hôi thối, thật tởm lợm khi ôm ấp,
Và qua cái mũi nồng men, tiếng động phát ra
Ngỡ như ngươi cứ thốt lời suốt “Sampson, Sampson!” [21]
Trong khi, Chúa chứng tri, Sampson chưa từng nếm giọt rượu nào.
Ngươi ngã gục như con lợn bị chọc tiết;
Chẳng còn tấc lưỡi, chẳng màng đến phẩm giá tôn nghiêm,
Vì say mèn chính là huyệt mộ
Chôn vùi trí khôn và sự thận trọng của con người.
Kẻ nào bị rượu nồng khuất phục,
Kẻ đó chẳng giữ nổi lời kín kẽ; sự thật hiển nhiên là vậy.
Giờ đây hãy dè chừng rượu trắng cùng rượu đỏ,
Và đặc biệt là thứ vang trắng vùng Lepe [22]
Đang bày bán nơi phố Cá hay khu chợ Chepe [23].
Thứ rượu Tây Ban Nha này len lỏi thật tinh vi [24]
Vào những vò rượu khác, đương ủ sát cạnh bên,
Để từ đó bốc lên thứ khí nồng [25] mộng mị
Khiến một kẻ khi đã nốc quá chén thứ ba,
Dẫu đinh ninh mình đang ở nhà tại khu phố Chepe,
Kỳ thực hắn đã ở tận Tây Ban Nha, ngay thị trấn Lepe
Chẳng phải chốn Rochelle, hay thành Bordeaux nọ
Và đoạn hắn sẽ lại thốt “Sampson, Sampson!”
Nhưng xin hãy lắng nghe, hỡi chư vị, một lời ta khẩn cầu,
Rằng mọi kỳ tích lẫy lừng, ta dám khẳng định,
Về những chiến thắng trong thời Cựu Ước,
Nhờ Thiên Chúa thật, Đấng toàn năng,
Đều được thực hiện trong sự tiết chế và cầu nguyện.
Hãy tra cứu Thánh Kinh và ở đó chư vị có thể thấu triệt.
Hãy xem Attila [26], kẻ chinh phạt lẫy lừng,
Đã chết trong giấc ngủ đầy nhục nhã và ô danh,
Máu tuôn ra từ mũi ngay trong cơn say sưa.
Một vị thống lĩnh đáng ra phải sống trong sự tỉnh táo.
Và vượt trên hết thảy, hãy suy ngẫm thật kỹ
Về những điều đã được răn dạy cho Lamuel
Ta nói là Lamuel, chứ chẳng phải Samuel;
Hãy đọc Thánh Kinh và sẽ thấy lời chép rành rành
Về việc dâng rượu cho những kẻ nắm giữ công lý.
Đừng bàn thêm về chuyện này, bấy nhiêu đã đủ rõ.
Và giờ khi ta đã luận xong về thói phàm ăn,
Ta sẽ răn cấm chư vị về thú bạc bài.
Cờ bạc là thân mẫu của những lời dối trá,
Của sự lừa lọc, và những lời thề thốt đáng rủa sả,
Của sự phỉ báng Chúa, tội sát nhân và cả sự hoang phí
Của của cải cùng thời gian; và hơn thế nữa,
Thật nhục nhã và trái ngược với danh dự
Khi kẻ nào bị coi là một gã bạc thủ tầm thường.
Và kẻ nào địa vị càng cao quý bao nhiêu,
Thì sự đốn mạt của hắn càng sâu sắc bấy nhiêu.
Ví bằng một bậc quân vương lại sa vào cờ bạc,
Thì trong mọi việc trị quốc và đối sách
Người đó, theo như dư luận thế gian,
Sẽ bị hạ thấp thanh danh đi bội phần.
Stilboun [27], vị sứ thần thông thái ấy,
Được phái đến Corinth với trọng trách vinh hiển,
Từ xứ Lacedaemon để thiết lập liên minh.
Và khi người đến nơi tình cờ thay,
Mọi bậc quyền cao chức trọng nhất xứ ấy,
Người đều thấy họ đang mải mê sát phạt bên bàn xúc xắc.
Thế nên, ngay khi có thể,
Người lẳng lặng hồi hương về lại quốc gia mình,
Và nói rằng, “Nơi ấy ta chẳng thà không để thanh danh [28] hoen ố,
Cũng chẳng cam lòng chuốc lấy tiếng nhơ nhuốc dường ấy,
Khi để chư vị phải liên minh với những gã bạc thủ.
Hãy phái đi những vị sứ thần thông thái khác;
Bởi, thề có lòng thành, ta thà chết đi còn hơn
Là phải để chư vị kết giao với phường cờ bạc.
Vì chư vị, những người vốn rạng rỡ vinh quang,
Chẳng nên tự hạ mình kết liên với quân bạc bịp
Theo ý nguyện của ta, hay theo bản hòa ước này.”
Vị triết gia thông thái nọ đã phán như thế đó.
Hãy xem cả câu chuyện về vua Demetrius,
Kẻ mà vua xứ Parthia, như thư tịch đã truyền lại,
Gửi tặng một đôi xúc xắc bằng vàng với niềm khinh khỉnh,
Bởi trước đó hắn vốn là gã đam mê bài bạc;
Chính vì lẽ đó mà vị vua nọ coi vinh quang và danh tiếng của hắn
Chẳng có chút giá trị hay uy tín trên đời.
Các bậc quân tử hẳn phải tìm được những thú tiêu khiển khác
Đủ thanh tao để khuây khỏa tháng ngày.
Nay ta sẽ luận về những lời thề thốt giả tạo và lân la,
Một đôi lời, như những thư tịch cổ hằng răn dạy.
Thề thốt lăng loàn là một điều đáng ghê tởm,
Và thề gian lại càng đáng bị khiển trách bội phần.
Thiên Chúa tối cao cấm tuyệt mọi lời thề,
Cứ xem Phúc âm Matthew [29] sẽ rõ; nhưng đặc biệt
Về việc thề bồi, tiên tri Jeremiah thánh thiện có phán:
“Ngươi phải thề sự thật trong lời thề của mình, chớ có dối gian,
Và hãy thề trong sự minh xét cùng với lẽ công chính”;
Song thề thốt hão huyền lại là một điều rủa sả.
Hãy chiêm ngưỡng và nhìn xem ngay trong bảng thứ nhất
Về những giới luật cao quý của Thiên Chúa tối cao,
Rằng điều răn thứ hai của Người chính là:
“Chớ có nhân danh Ta một cách hão huyền hay sai lạc.”
Xem đó, Người cấm đoán việc thề thốt ấy còn trước cả
Tội sát nhân hay bao điều rủa sả khác;
Ta nói rằng, xét theo thứ tự, mọi chuyện là như vậy;
Kẻ nào thấu hiểu giới luật hẳn sẽ rõ điều này,
Rằng đó chính là điều răn thứ hai của Chúa.
Và hơn thế nữa ta nói thẳng với ngươi,
Rằng báo ứng sẽ chẳng đi khỏi mái hiên
Của kẻ nào thề thốt quá lăng loàn.
“Nhân danh trái tim Chúa,” và “Nhân danh những chiếc đinh,”
Rồi “Nhân danh máu Chúa chốn tu viện Hayles,
Ta được bảy nút, còn ngươi chỉ năm với ba [30]!”
“Nhân danh cánh tay Chúa, nếu ngươi dám chơi gian,
Thì lưỡi dao này sẽ đâm thấu tim ngươi!”
Đó là thứ quả sinh ra từ hai hòn xương khốn khiếp,
Thề gian, phẫn nộ, dối lừa và sát nhân.
Giờ đây, vì tình yêu Thiên Chúa, Đấng đã vì ta mà tử nạn,
Hãy từ bỏ những lời thề, dẫu lớn hay nhỏ.
Nhưng, hỡi chư vị, giờ đây ta xin được tiếp tục câu chuyện.
Ba gã chơi bời trác táng mà ta kể,
Từ rất sớm trước cả lúc chuông kinh sáng điểm,
Đã ngồi lỳ trong tửu quán để chè chén;
Đương khi ngồi đó, chúng nghe tiếng chuông leng keng
Dẫn trước một tử thi đương được đưa về huyệt.
Một tên trong nhóm bèn gọi đứa tiểu đồng:
Hắn bảo: “Đi mau, và hỏi cho ra nhẽ
Cái xác đương đi ngang qua đây là của ai;
Và hãy nhớ bẩm lại danh tính hắn cho tường.”
“Thưa ông,” đứa trẻ thưa, “chẳng cần phải nhọc công như thế;
Con đã nghe chuyện này từ hai giờ trước khi các ông tới đây.
Hắn vốn là, quả thực, bạn cũ của các ông,
Và đêm qua hắn đã bị sát hại thật bất ngờ,
Ngay trong cơn say túy lúy, khi đang ngồi thẳng trên ghế.
Có một kẻ trộm âm thầm mà người đời gọi là Cái Chết,
Kẻ vẫn hằng sát hại dân chúng khắp vùng này,
Hắn dùng ngọn giáo đâm xuyên tim người bạn đó làm hai,
Rồi cứ thế bỏ đi chẳng thốt thêm một lời.
Trong trận dịch này, hắn đã kết liễu hàng ngàn mạng người.
Và thưa chủ nhân, trước khi ông phải đối mặt với hắn,
Con nghĩ rằng điều cần thiết là
Phải dè chừng một đối thủ như vậy.
Hãy luôn sẵn sàng đối đầu bất cứ khi nào;
Đó là lời mẹ con đã dạy; con xin hết.”
“Nhân danh Thánh Maria!” chủ quán rượu thốt lên,
“Thằng bé nói phải đấy, vì năm nay hắn đã giết sạch,
Ở một ngôi làng lớn cách đây hơn một dặm,
Cả đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ, kẻ làm thuê và tiểu đồng;
Ta đồ rằng nơi trú ngụ của hắn nằm ở chính nơi đó.
Thật là đại trí nếu chúng ta biết cảnh giác,
Trước khi hắn kịp gây ra tai họa cho một ai.”
“Chao ôi, thề có cánh tay Chúa!” gã trác táng thốt lời,
“Gặp hắn ta mà lại hiểm nguy thế sao?
Ta sẽ lùng sục hắn trên khắp nẻo đường cùng ngõ phố,
Ta thề nhân danh những khúc xương tôn quý của Chúa!
Hãy nghe đây, các bằng hữu, ba chúng ta giờ là một;
Mỗi người hãy giơ tay thề thốt với nhau,
Rằng chúng ta sẽ trở thành huynh đệ chi binh,
Để cùng nhau tiêu diệt kẻ phản trắc mang tên Cái Chết.
Hắn phải bị kết liễu, kẻ đã sát hại biết bao người,
Thề có uy danh của Chúa, trước khi đêm xuống!”
Cùng nhau cả ba đã đoan thề trung nghĩa
Sống chết có nhau, kẻ này vì kẻ khác,
Như thể là anh em ruột thịt một nhà.
Và chúng chồm dậy, cuồng nộ trong cơn say,
Thẳng tiến về hướng ngôi làng nọ
Nơi gã chủ quán đã nhắc tới lúc trước.
Biết bao lời thề kinh khiếp chúng thốt ra,
Phanh xé thân thể phước lành của Chúa Kitô
Cái Chết phải chết, nếu chúng tóm được hắn!
Khi chúng đi chưa đầy nửa dặm đường,
Ngay lúc định bước qua một bậc rào,
Một lão nhân nghèo khổ chợt hiện ra gặp gỡ.
Ông lão cung kính cất lời chào,
Và nói thế này: “Hỡi các ngài, cầu Chúa trông nom chư vị!”
Kẻ ngạo mạn nhất trong ba gã trác táng
Đáp lại rằng: “Cái gì đây, đồ lão già hèn mọn, rủa sả thay cho lão!
Sao lão lại quấn kín mít thân mình chỉ chừa mỗi khuôn mặt?
Sao lão lại sống dai thế ở cái tuổi già khọm này?”
Lão nhân nhìn thẳng vào dung mạo gã,
Và thốt lời: “Bởi ta chẳng thể tìm ra
Một ai, dẫu ta có bộ hành tới tận xứ Ấn,
Chẳng nơi thành thị, cũng chẳng chốn thôn quê,
Kẻ nào sẵn lòng đổi lấy tuổi xuân cho sự già nua của ta;
Vì lẽ đó ta cứ phải mang giữ tuổi già này,
Cho tới khi nào còn là ý muốn của Thiên Chúa.
Ngay cả Cái Chết, than ôi, cũng chẳng màng lấy mạng ta.
Vậy nên ta cứ bước đi, như một kẻ khốn khổ chẳng chút nghỉ ngơi,
Và trên mặt đất này, vốn là cánh cổng dẫn về lòng mẹ,
Ta gõ trượng, từ sáng sớm cho tới tối mịt,
Và van nài: “Mẹ hiền ơi, xin hãy cho con vào!
Xem này, con đang tan biến đi, cả thịt, máu và da!
Than ôi, đến khi nào xương cốt con mới được nghỉ ngơi?
Mẹ ơi, con nguyện đổi cả hòm báu với mẹ
Thứ đã nằm trong căn buồng ta từ bấy lâu nay,
Để lấy một mảnh vải thô liệm xác bọc lấy thân này!
Nhưng mẹ vẫn chưa ban cho ta ân huệ ấy,
Vì lẽ đó mà gương mặt ta mới xanh xao và héo hắt dường này.”
“Nhưng thưa các ngài, thật chẳng có chút lễ nghi
Khi buông lời thô bỉ với một lão già,
Trừ phi lão có lỗi lầm trong lời nói hay hành động.
Trong Thánh Kinh [31], các ngài có thể tự mình đọc rõ:
“Trước mặt người già, kẻ có mái đầu bạc trắng,
ác ngươi nên đứng dậy”; vì thế ta khuyên rằng,
Đừng gây hại cho một ông lão ngay lúc này,
Cũng như các ngài muốn người khác đối đãi với mình
Khi về già, nếu các ngài còn sống được đến lúc đó.
Và cầu Chúa ở cùng các ngài, dù đi bộ hay cưỡi ngựa!
Ta phải đi đến nơi ta cần phải đến.”
“Không, lão già đê tiện, thề có Chúa, lão đừng hòng làm thế,”
Gã bài bạc nọ lập tức thốt lời;
“Lão chẳng đi khỏi đây dễ dàng vậy đâu, thề có Thánh John!
Lão vừa nhắc đến tên phản trắc mang tên Cái Chết đó,
Kẻ đã sát hại hết thảy bạn hữu chúng ta nơi vùng đất này.
Nghe lời thề của ta đây, rằng lão chính là tên do thám của hắn,
Hãy khai ra hắn ở đâu, bằng không lão sẽ phải trả giá đắt,
Nhân danh Chúa và Bí tích thánh thiêng!
Bởi thực sự lão đã đồng lõa với hắn
Để kết liễu đám trẻ tụi ta, hỡi tên trộm xảo quyệt!”
“Này các ngài,” lão thốt lời, “nếu chư vị đã thiết tha
Tìm kiếm Cái Chết đến thế, hãy rẽ vào lối ngoằn ngoèo [32] này,
Bởi ta đã để hắn lại chốn lùm cây nọ, thề có lòng thành,
Dưới một gốc cây và hắn đợi sẵn ở đó;
Hắn chẳng màng lẩn trốn trước lời huênh hoang của các ngài đâu.
Thấy cây sồi kia chăng? Chính tại đó các ngài sẽ gặp hắn.
Cầu Chúa cứu rỗi chư vị, Đấng đã chuộc tội cho nhân loại,
Và giúp chư vị hối cải!” Lão già dứt lời như thế;
Và rồi từng gã trác táng nọ đều tức tốc chạy nhanh
Cho tới khi đến gốc cây và tại đó chúng tìm thấy
Những đồng florin bằng vàng ròng đúc tròn tinh xảo
Chừng tám đấu đầy theo như chúng ước tính.
Chẳng còn màng tìm Cái Chết nữa,
Mỗi gã đều sướng vui trước cảnh tượng đó,
Bởi những đồng florin kia quá đỗi đẹp đẽ và sáng ngời,
Đến nỗi chúng cùng ngồi thụp xuống bên kho báu quý giá.
Kẻ đê tiện nhất trong bọn, là đứa lên tiếng đầu tiên.
“Hỡi các anh em,” hắn nói, “hãy khắc cốt lời ta;
Trí khôn ta rất lớn, dẫu ta thường hay giễu cợt vui đùa.
Nàng Vận May đã ban kho báu này cho chúng ta
Để ta được sống đời vui sướng hân hoan,
Của thiên thì cũng trả địa, ta cứ thế mà tiêu xài.
Ôi, uy danh tôn quý của Chúa! Có ai ngờ được
Rằng hôm nay ta lại nhận được ân điển tốt lành dường này?
Nhưng nếu đống vàng này được mang khỏi nơi đây
Về nhà ta, hay có lẽ về nhà các anh
Vì các anh rõ cả rồi, toàn bộ vàng này là của chúng ta
Thì khi ấy ta sẽ đắm chìm trong phúc lạctột cùng.
Song thực tình, chẳng thể làm thế giữa ban ngày.
Người ta sẽ bảo chúng ta là lũ trộm cướp bạo tàn,
Và vì chính kho báu của mình mà ta bị treo cổ.
Phải vận chuyển vàng này thầm lặng giữa đêm thâu
Càng khôn khéo và kín kẽ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Vậy nên ta khuyên hãy cùng nhau bốc thăm
Để xem xem lá thăm sẽ rơi vào tay ai;
Và kẻ nào bốc phải lá thăm ấy, với lòng vui sướng
Sẽ chạy thật nhanh vào trong thị trấn,
Lén lút mang về đây cho ta bánh và rượu.
Còn hai người chúng ta sẽ kín đáo canh chừng
Kho báu này cho cẩn mật; và nếu hắn không chậm trễ,
Khi đêm xuống chúng ta sẽ chuyển số vàng này đi,
Theo sự đồng thuận chung đến nơi nào ta thấy ổn nhất.”
Hắn nắm những lá thăm trong tay cho cả bọn,
Bảo chúng rút đi để xem thăm rơi vào ai;
Và lá thăm rơi đúng vào gã trẻ tuổi nhất,
Thế là hắn lập tức lên đường vào thị trấn.
Và ngay giây phút gã vừa rời gót,
Kẻ này liền thì thầm với kẻ kia như thế này:
“Anh biết rõ anh là người anh em kết nghĩa của tôi;
Giờ tôi sẽ mách cho anh cách để kiếm lời.
Anh biết đấy, gã bạn của chúng ta đã đi rồi.
Và ở đây là vàng, một khối lượng khổng lồ,
Vốn dĩ sẽ được chia đều cho cả ba.
Nhưng dẫu vậy, nếu tôi có thể sắp xếp sao cho
Số vàng này chỉ chia cho hai chúng ta thôi,
Chẳng phải tôi đã làm một việc tốt cho anh hay sao?”
Kẻ kia đáp: “Tôi chẳng rõ làm sao có thể thế được.
Hắn biết rõ vàng này đương ở cùng hai ta;
Ta phải làm gì đây? Phải nói với hắn ra sao?”
“Đây sẽ là mật kế của chúng ta chứ?” gã đê tiện đầu tiên hỏi,
“Và tôi sẽ nói thật vắn tắt đôi lời
Những gì ta phải thực hiện, để mọi việc thành công.”
“Tôi đồng ý,” gã kia nói, “chẳng chút nghi ngờ,
Thề có lòng thành, tôi sẽ không phản bội anh.”
“Giờ đây,” gã thứ nhất bảo, “ngươi thừa biết ta có hai người,
Mà hai kẻ chúng ta chắc chắn sẽ mạnh hơn một.
Hãy nhìn xem, khi hắn ngồi xuống, ngay lập tức sau đó
Ngươi hãy đứng dậy như thể muốn cùng hắn vui đùa,
Còn ta sẽ đâm xuyên hai bên sườn của hắn
Đang khi ngươi vật lộn với hắn như thể một trò chơi,
Và với con dao găm của mình, ngươi hãy làm y như vậy;
Thế rồi toàn bộ số vàng này sẽ được chia chác,
Hỡi người bạn thân mến của ta, giữa ta và ngươi.
Khi ấy cả hai ta có thể thỏa mãn mọi dục vọng của mình,
Và chơi đổ xúc xắc theo đúng ý muốn của chúng ta.”
Và thế là hai kẻ đê tiện ấy đã đồng thuận với nhau
Để tiêu diệt kẻ thứ ba, như chư vị đã nghe ta kể.
Gã trẻ nhất nọ, kẻ đương tiến bước vào thành,
Trong lòng gã cứ mãi đảo điên, nung nấu
Vẻ đẹp của những đồng florin mới đúc sáng ngời.
“Ôi lạy Chúa!” gã thốt lên, “giá như ta có thể
Chiếm trọn kho báu này cho riêng mình ta thôi,
Thì chẳng có kẻ nào sống dưới ngai vàng
Của Thiên Chúa lại được hưởng phúc lạc hơn ta!”
Và cuối cùng, tên ác quỷ, kẻ thù của chúng ta,
Gieo vào tâm trí gã ý định phải mua thuốc độc,
Để nhờ đó gã có thể kết liễu hai tên bằng hữu;
Bởi tên ác quỷ thấy gã sống trong nếp đời như thế
Nên mới được phép dẫn dụ gã tới chốn u sầu.
Vì đó hoàn toàn là ý định vẹn toàn của gã:
Tiêu diệt cả hai và chẳng bao giờ hối cải.
Thế là gã bước tiếp, chẳng màng nán lại thêm,
Vào trong thị trấn, tìm đến một tiệm thuốc,
Và khẩn khoản nài xin người bán hãy bán cho gã
Chút ít độc dược, để gã tiêu diệt lũ chuột trong nhà;
Và lại có cả một con chồn hôi nơi sân vườn,
Thứ mà gã bảo, đã giết sạch lũ gà thiến của gã,
Và gã rất sẵn lòng báo thù, nếu có thể,
Lũ ác thú đã phá hoại gã trong đêm thâu.
Vị dược sĩ trả lời: “Và ngươi sẽ có được
Một thứ mà, nguyện Chúa cứu rỗi linh hồn ta,
Khắp thế gian này chẳng một tạo vật nào,
Khi đã nếm hay uống phải liều thuốc đó
Dẫu chỉ bằng một hạt lúa mì bé nhỏ,
Mà không lập tức lìa bỏ cõi đời;
Phải, hắn sẽ chết, và trong thời gian còn ngắn ngủi hơn
Cả lúc ngươi thong thả dạo bước một dặm đường,
Độc dược này thật quá đỗi tàn khốc và kinh hồn.”
Kẻ đáng rủa sả nọ nắm chặt trong tay
Hộp độc dược này, rồi vội vã chạy ngay
Đến con phố kế bên tìm gặp một người,
Mượn lấy ba chiếc bình lớn, miệng rộng cổ dài,
Hai bình hắn lén trút thuốc độc vào trong;
Còn bình thứ ba hắn để lại sạch lòng cho chính mình.
Vì gã định bụng sẽ dốc sức suốt đêm thâu
Chuyển đống vàng kia khỏi nơi ẩn náu.
Và khi gã trác táng nọ, kẻ bạc phước thay,
Đổ đầy rượu vào ba chiếc bình cầm tay,
Gã quay trở lại nơi bằng hữu đương đợi.
Cần gì phải thuyết giáo thêm về chuyện này nữa?
Bởi đúng như cách chúng đã lập mưu sát hại kẻ kia,
Chúng đã hạ thủ gã ngay lập tức chẳng chút chần chừ.
Và khi việc đã xong xuôi, một tên liền lên tiếng:
“Giờ hãy ngồi xuống chè chén, và vui vẻ cùng nhau,
Rồi sau đó ta sẽ đem chôn xác hắn.”
Vừa dứt lời, tình cờ thay hắn lại vớ ngay
Chiếc bình chứa độc dược bên trong,
Hắn nốc ực rồi đưa cho tên bằng hữu cùng uống,
Vì lẽ đó, cả hai đều lăn ra chết tươi.
Nhưng chắc chắn rằng, ta đồ là Avicenna [33]
Chẳng hề viết trong bộ “Chính điển” hay bất cứ chương hồi nào,
Về những dấu hiệu trúng độc kinh hoàng và dị thường hơn
Thứ mà hai kẻ khốn cùng nọ phải nếm trải trước lúc lâm chung.
Đó là cách mà hai kẻ sát nhân đã kết thúc đời mình,
Và cả gã hạ độc xảo trá kia cũng chung số phận.
Ôi tội lỗi bị rủa sả giữa muôn vàn rủa sả!
Ôi kẻ sát nhân phản trắc, ôi sự gian tà!
Ôi thói tham ăn, dâm ô và cờ bạc!
Ngươi, kẻ phỉ báng Chúa Kitô bằng lời thô bỉ,
Và những lời thề lăng loàn của thói quen và sự kiêu ngạo!
Than ôi, nhân loại, làm sao có thể xảy ra nông nỗi,
Rằng đối với Đấng Tạo Hóa, người đã tạo nặn ra ngươi,
Và chuộc lại ngươi bằng dòng máu đỏ từ trái tim tôn quý,
Mà ngươi lại dối trá và vô ơn đến thế, than ôi?
Giờ đây, hỡi những người anh em thiện lành, nguyện Chúa thứ tha tội lỗi cho chư vị,
Và hãy thận trọng giữ mình trước con quỷ tham lam!
Ơn xá tội thánh thiện của ta có thể chữa lành cho tất thảy,
Miễn là chư vị dâng cúng những đồng vàng hay đồng xu,
Hay thậm chí là trâm bạc, thìa bạc, hay nhẫn vàng.
Hãy cúi đầu dưới sắc lệnh thánh này của Đức Giáo hoàng!
Lại đây nào, hỡi những bà nội trợ, hãy dâng cúng cả những cuộn len của các bà!
Ta sẽ ghi danh chư vị vào sổ bộ của ta ngay lập tức;
Và chư vị sẽ được bước thẳng vào phúc lạc trên thiên đàng.
Ta xá tội cho chư vị, bằng quyền năng cao cả của mình,
Cho những ai sẵn lòng dâng cúng, để chư vị được sạch trong và thanh khiết
Như lúc mới chào đời. Và xem kìa, hỡi các ngài, đó là cách ta thuyết giáo.
Và nguyện xin Đức Chúa Jesus, vị lương y của linh hồn chúng ta,
Ban cho chư vị được nhận lãnh ơn tha thứ của Người,
Vì đó là điều tốt đẹp nhất; ta chẳng lừa dối chư vị đâu.
Nhưng các ngài, có một lời ta trót quên trong câu chuyện:
Ta có mang theo thánh tích và ơn xá tội trong túi hành lý,
Đẹp đẽ chẳng kém bất cứ thứ gì trên khắp nước Anh,
Những thứ được trao tận tay ta bởi chính Đức Giáo hoàng.
Nếu ai trong chư vị, vì lòng sùng kính,
Muốn dâng cúng để nhận lấy sự giải tội của ta,
Hãy bước lên ngay, và quỳ xuống nơi đây,
Để cung kính nhận lấy ơn xá tội của ta;
Hoặc không, hãy nhận lấy ơn xá khi các ngài hành hương,
Luôn mới mẻ và tươi rói sau mỗi dặm đường,
Miễn là chư vị cứ dâng cúng, mãi mãi không thôi,
Những đồng vàng hay đồng xu bạc, thật thà và quý giá.
Thật là một vinh dự cho mỗi người có mặt tại đây
Khi chư vị có được một người xá tội đủ quyền năng
Để giải tội cho chư vị trên khắp nẻo đường đi,
Đề phòng những bất trắc có thể xảy đến.
Biết đâu đấy, có thể có một hay hai người
Ngã ngựa và gãy cổ làm đôi.
Hãy xem đây là một sự bảo đảm cho tất cả,
Rằng ta tình cờ có mặt trong đoàn hành hương này,
Kẻ có thể giải tội cho chư vị, dù cao sang hay thấp hèn,
Khi linh hồn lìa khỏi xác thân.
Ta khuyên rằng hủ quán đây nên là người bắt đầu,
Vì ông ta là kẻ ngập ngụa trong tội lỗi nhất.
Bước lên đi, thưa Chủ quán, dâng cúng ngay đi,
Và ông sẽ được hôn lên tất thảy các thánh tích,
Phải, chỉ với một đồng bốn xu! Mở ví ra ngay đi!”
“Không đời nào!” ông quát, “thà ta chịu sự nguyền rủa của Chúa!
Dẹp ngay,” ông nói, “chẳng bao giờ có chuyện đó đâu, thề có tiền đồ của ta!
Ngươi định bắt ta hôn cái quần lót cũ kỹ của ngươi,
Rồi bắt ta thề rằng đó là thánh tích của một vị thánh,
Dù cho nó có vấy đầy phân từ cái lỗ đít của ngươi!
Nhưng, nhân danh cây thập tự mà Thánh Helena tìm thấy,
Ta ước gì mình tóm được đôi tinh hoàn của ngươi trong tay
Thay vì thánh tích hay những thứ linh thiêng.
Cắt phăng chúng đi, ta sẽ giúp ngươi xách chúng;
Chúng đáng được thờ phụng trong một cục phân lợn!”
Viên xá tội chẳng đáp lại lấy một lời;
Hắn giận đến độ không thốt nên lời.
“Thôi,” Chủ quán bảo, “ta chẳng màng đùa thêm
Với ngươi, hay với bất cứ kẻ nóng nảy nào khác.”
Nhưng ngay lúc đó, vị Hiệp sĩ đáng kính liền can thiệp,
Khi ngài thấy mọi người xung quanh đều cười nhạo,
Ngài phán: “Thế là đủ rồi, không thêm lời nào nữa!
Này Viên xá tội, hãy vui vẻ tươi tỉnh lên;
Và cả ông nữa, Chủ quán, người mà ta rất mực quý mến,
Ta mong ông hãy trao nụ hôn hòa giải cho Viên xá tội.
Và này Viên xá tội, ta xin ngươi, hãy lại gần đây,
Để như trước đây, ta lại cùng nhau cười đùa.”
Tức thì họ hôn nhau [34], và tiếp tục cuộc hành trình.
Thanh Nghi dịch
Chú thích:
[1] Người trung cổ tin rằng khi ai đó chửi thề bằng các bộ phận cơ thể của Chúa Kitô, họ đang trực tiếp làm đau xác thân của Ngài thêm một lần nữa.
[2] Vào thời Chaucer, việc soi nước tiểu là phương pháp chẩn đoán chính.
[3] Một loại rượu thuốc cay.
[4] Một loại thuốc dạng sệt pha với mật ong hoặc siro.
[5] Trong văn hóa trung cổ, việc đem sự thành bại của chính mình ra để đảm bảo cho lời nói là cách khẳng định sự chân thành tối cao.
[6] Không có vị thánh nào tên là Ronyan. Chủ quán nói chệch từ “ronion” (một từ lóng thô tục chỉ kẻ ghẻ lở) hoặc ông đang sáng tạo ra một vị thánh để lời thề nghe có vẻ uy nghiêm.
[7] Đây là những Papal Bulls (Sắc chỉ của Giáo hoàng) có đóng dấu chì. Trong xã hội Trung cổ, đây là những văn bản có uy quyền tuyệt đối.
[8] Trong thời Trung cổ, đa số giáo dân không hiểu tiếng Latinh.
[9] Trong xã hội Trung cổ, đây là tước hiệu dành cho những người chủ gia đình, nông dân có tư hữu nhưng không thuộc giới quý tộc.
[10] Trong biểu tượng Kitô giáo, chim bồ câu là hình ảnh của Chúa Thánh Thần và sự tinh khiết.
[11] Chỉ việc đi lang thang vô định, không có mục đích, hoặc bị đày đọa.
[12] Voluntary poverty (nghèo khó tự nguyện) là một trong những lời thề thiêng liêng nhất của giới tăng lữ (đặc biệt là các dòng tu hành khất).
[13] Trong truyền thống Kitô giáo, Thánh Paul và các vị tổ phụ sa mạc thường bện giỏ (make baskettes) hoặc làm việc chân tay để không trở thành gánh nặng cho giáo dân và để rèn luyện đức khiêm nhường.
[14] Flanders (vùng đất thuộc Bỉ ngày nay) vào thời Chaucer nổi tiếng là một trung tâm thương mại sầm uất nhưng cũng đầy rẫy tệ nạn đô thị.
[15] Trong tư duy Trung cổ, chân lý đến từ các văn bản cổ xưa, đặc biệt là Kinh Thánh. Bằng cách gọi Kinh Thánh là witnesse, Viên xá tội biến mình từ một kẻ kể chuyện rong thành một người phát ngôn của ý Chúa.
[16] Herod Antipas trong cơn say đã hứa ban cho Salome bất cứ điều gì cô muốn, dẫn đến cái chết của Thánh John Tẩy giả.
[17] Thông thường, sự sa ngã của Adam và Eve được hiểu là tội kiêu ngạo hoặc không vâng lời. Tuy nhiên, để phục vụ mục đích răn đe của bài giảng, Viên xá tội đã cụ thể hóa nó thành Thói phàm ăn.
[18] Mượn lời Thánh Paul, Viên xá tội trích dẫn Thư gửi tín hữu Philipphê (3:18-19). Việc nhấn mạnh hình ảnh vị tông đồ “than khóc” (wepyng) tạo ra một sự tương phản mạnh mẽ với vẻ ngoài hưởng lạc của chính Viên xá tội.
[19] Trong thời Trung cổ, gia vị là mặt hàng cực kỳ đắt đỏ, biểu tượng của sự xa hoa. Việc liệt kê lá, vỏ, rễ cho thấy con người lục tung chỉ để tìm một hương vị mới.
[20] Trong quan niệm Trung cổ, rượu làm nóng cơ thể và thiêu rụi khả năng kiềm chế của lý trí, mở đường cho những ham muốn xác thịt.
[21] Tiếng “Sampson, Sampson” miêu tả âm thanh thở khò khè, nghẹt mũi của một kẻ say đang ngủ gục.
[22] Một thị trấn ở Tây Ban Nha nổi tiếng với loại rượu vang trắng rất mạnh.
[23] Những khu vực buôn bán sầm uất tại London.
[24] Viên xá tội đang ám chỉ một thực trạng phổ biến tại các hầm rượu London: người ta lén pha rượu vang Tây Ban Nha nặng đô và rẻ tiền vào các loại vang Pháp thanh nhẹ, đắt đỏ để tăng nồng độ và lợi nhuận.
[25] Theo quan niệm thời bấy giờ, rượu khi vào dạ dày sẽ sinh ra các luồng khí bốc thẳng lên não gây ra sự mê muội và ảo giác.
[26] Attila (thủ lĩnh người Hung) chết vào đêm tân hôn năm 453. Theo sử liệu, ông chết vì vỡ mạch máu mũi và bị sặc máu chính mình trong khi bất tỉnh vì say rượu.
[27] Chaucer mượn câu chuyện này từ tác phẩm Policraticus của John of Salisbury. Stilboun (thường được cho là Stilpo của Megara) đại diện cho Sparta - vùng đất nổi tiếng với lối sống khắc kỷ, kỷ luật và coi trọng danh dự.
[28] Trong xã hội phong kiến và cổ đại, danh tiếng là tất cả. Stilboun thà thất bại trong nhiệm vụ ngoại giao còn hơn là để danh tiếng của mình và đất nước mình bị vấy bẩn bởi sự kết giao với những gã cờ bạc.
[29] Hắn trích dẫn gián tiếp Matthew 5:34: “Nhưng Ta bảo các con: Đừng thề chi cả”.
[30] Chaucer đưa vào những thuật ngữ kỹ thuật của trò chơi xúc xắc (Hazard). Sự chuyển dịch từ tiếng la hét thắng thua sang tiếng đe dọa giết người diễn ra chỉ trong chớp mắt.
[31] Ông Lão trích dẫn trực tiếp từ sách Lê-vi (19:32): “Trước mặt người đầu râu tóc bạc, con hãy đứng dậy”
[32] Trong biểu tượng học Trung cổ, con đường thẳng dẫn đến sự cứu rỗi, còn con đường “ngoằn ngoèo” (croked) dẫn đến tội lỗi và sự lầm lạc.
[33] Nhắc đến Ibn Sina, nhà triết học và y học lỗi lạc người Ba Tư. Bộ The Canon of Medicine của ông là sách giáo khoa tiêu chuẩn tại các đại học châu Âu thế kỷ 14.
[34] Trong truyền thống Công giáo Trung cổ, nụ hôn hòa bình là một phần của thánh lễ. Trước khi rước lễ, các tín hữu sẽ trao nhau nụ hôn để chứng minh rằng họ không còn hận thù, đạt được trạng thái Caritas nhằm xứng đáng đón nhận thân thể Chúa.
