favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Xuân 2026
Next

Blanchot về Kafka (tiếp)

21/04/2026 09:07

Lẽ ra Kafka cần phải có nhiều thời gian hơn, nhưng lẽ ra ông cũng phải có bớt thế giới đi. Thế giới trước hết là gia đình ông, từ đó ông khó nhọc chịu đựng sự bó buộc, không bao giờ được giải thoát khỏi. Sau đó, ấy là vị hôn thê của ông, ham muốn cốt yếu, làm đúng cái luật muốn rằng con người hiện thực hóa số phận của mình trong thế giới, có một gia đình, những đứa con, thuộc về cộng đồng. Ở đây, xung đột mang một vẻ bề ngoài mới, bước vào một mâu thuẫn mà hoàn cảnh tôn giáo của Kafka khiến cho trở nên đặc biệt mạnh. Lúc, xung quanh sự đính hôn được nối, bị cắt đứt, nối lại với F. B., ông không mệt mỏi xem xét, với một sự căng thẳng luôn luôn lớn hơn, "toàn bộ những gì ủng hộ hay chống lại hôn nhân của mình", ông cứ luôn luôn va phải đòi hỏi sau: "Khát khao duy nhất và thiên hướng duy nhất của tôi... là văn chương... toàn bộ những gì mà tôi đã làm chỉ là một kết quả của nỗi cô đơn... thế rồi, tôi sẽ chẳng bao giờ còn một mình nữa. Không phải điều đó, không phải điều đó." Trong quãng đính hôn tại Berlin: "Tôi đã bị trói lại như một tên tội phạm; nếu người ta nhốt tôi vào một xó với xiềng xích đúng nghĩa, đám sen đầm trước mặt..., thì hẳn chuyện cũng sẽ không tệ hơn. Và đấy là cuộc đính hôn của tôi, và tất tật đã nỗ lực đưa tôi tới cuộc đời và, vì không làm được điều đó, chịu đựng tôi đúng như tôi vốn dĩ." Không lâu sau đó, sự đính hôn bị hủy, nhưng khát khao vẫn còn lại, ham muốn có được một cuộc đời "bình thường", mà sự hành hạ vì đã gây tổn thương cho một người thân thiết với ông mang lại một lực gây xé lòng. Người ta từng so sánh, và chính Kafka cũng vậy, câu chuyện của ông với câu chuyện đính hôn của Kierkegaard. Nhưng xung đột rất khác. Kierkegaard có thể chối bỏ Regine, ông có thể chối bỏ chặng đạo đức: việc đi vào chặng tôn giáo không vì thế mà bị hỏng đi, thay vì vậy còn được làm cho thành ra khả dĩ. Nhưng Kafka, nếu ông bỏ rơi hạnh phúc trần thế của một cuộc đời bình thường thì ông cũng bỏ rơi mất sự vững chắc của một cuộc đời công chính, tự đặt mình ra bên ngoài luật, tự tước đi mặt đất cùng bệ đỡ mà ông cần để có bản sinh và, trong một chừng mực nào đó, tước đi luật khỏi nó. Đấy là câu hỏi vĩnh cửu của Abraham. Điều được đòi ở Abraham không chỉ là hiến sinh con trai ông, mà chính Chúa: đứa con trai là tương lai của Chúa trên mặt đất, bởi sự thật thì chính thời gian mới là Đất Hứa, kỳ lưu trú đích thực, duy nhất của dân tộc được lựa chọn và của Chúa nơi dân tộc của Người. Thế nhưng, Abraham, khi hy sinh đứa con trai duy nhất của mình, phải hy sinh thời gian, và chắc chắn thời gian bị hy sinh không được trả lại cho ông ở vĩnh cửu của thế giới bên kia: thế giới bên kia chẳng là gì khác ngoài tương lai, tương lai của Chúa trong thời gian, Thế giới bên kia, ấy là Isaac.

 

 

Với Kafka, thử thách nặng nề hơn, gồm toàn bộ những gì làm cho nó trở nên nhẹ đối với ông (thử thách của Abraham sẽ là gì đây, nếu, vì không có con trai, tuy vậy ông lại bị đòi phải hy sinh đứa con trai đó? Hẳn người ta sẽ không thể coi điều này là nghiêm túc, hẳn người ta sẽ chỉ có thể cười điều đó, cái cười này là hình thức của nỗi đau ở Kafka). Như vậy, vấn đề giống như nó vuột mất đi và làm vuột mất đi trong sự thiếu quyết đoán của mình cái kẻ tìm cách chống đỡ nó. Các nhà văn khác từng biết đến những xung đột tương tự: Hölderlin vật lộn chống lại mẹ ông, người những muốn thấy ông trở thành mục sư, ông không thể tự buộc mình vào một công việc xác định, ông không thể tự buộc mình vào người phụ nữ mà ông yêu và ông yêu chính người phụ nữ mà ông không thể được buộc vào, những xung đột mà ông cảm thấy trong toàn bộ lực của chúng và chúng, một phần, bẻ gãy ông, nhưng không bao giờ đặt thành vấn đề đòi hỏi tuyệt đối của lời lẽ thuộc thơ ở bên ngoài đó, ít nhất là kể từ năm 1800, ông đã không còn tồn tại nữa. Đối với Kafka, mọi thứ rối loạn hơn, vì ông tìm cách hòa trộn đòi hỏi của tác phẩm và đòi hỏi hẳn sẽ có thể mang tên cứu rỗi của ông. Nếu việc viết kết án ông cho nỗi cô độc, biến tồn tại của ông thành một tồn tại của người độc thân, không tình yêu và không dây nối, nếu tuy thế đối với ông viết có vẻ - ít nhất là thường xuyên và rất lâu - là hoạt động duy nhất hẳn có thể biện minh cho ông, thì đấy là vì, dẫu có thế nào, nỗi cô đơn cũng đe dọa bên trong và bên ngoài ông, đấy là vì cộng đồng chỉ còn là một bóng ma và luật, thứ vẫn còn nói trong nó, thậm chí không phải là luật đã bị quên, mà là sự che giấu sự quên mất luật. Khi đó, việc viết lại trở thành, ở bên trong nỗi hoảng loạn và sự yếu mà vốn dĩ chuyển động ấy không thể phân tách, một khả thể về sự đầy, một con đường không mục đích có khả năng tương ứng, có lẽ, với cái đích không con đường kia, thứ duy nhất ông suýt thì đạt được tới. Những khi ông viết, Kafka không chỉ một mình, "một mình như Franz Kafka", ông sẽ nói với G. Janouch, mà còn là với một nỗi cô đơn không sinh nở, lạnh lẽo, với một sự lạnh lẽo gây hóa đá mà ông gọi là nỗi ngây độn và dường từng là mối đe dọa lớn mà ông e ngại. Ngay cả Brod, vốn dĩ hết sức lo âu nhằm biến Kafka thành một con người không có gì bất thường, cũng công nhận đôi khi ông như thể vắng mặt và như đã chết. Vẫn rất giống Hölderlin, tận đến độ cả hai, nhằm tự than thân, sử dụng cùng các từ; Hölderlin: "Tôi trì ra, tôi làm bằng đá", và Kafka: "Sự thiếu khả năng suy nghĩ, quan sát, nhận thấy, nhớ lại, nói, tham gia cuộc sống của những người khác ở tôi ngày nào cũng trở nên lớn hơn; tôi trở thành đá... Nếu không trốn đi vào một công việc, thì tôi tiêu đời mất" (28 tháng Bảy 1914).

 

 

Cứu rỗi nhờ văn chương

 

"Nếu không trốn đi vào một công việc..." Nhưng tại sao công việc ấy lại có thể cứu được ông? Dường như Kafka đã nhận ra, chính trong trạng thái tan rã của chính ông đáng kinh khiếp đó, nơi ông tiêu đời đối với những người khác và đối với ông, trọng tâm của đòi hỏi viết.

 

(còn nữa)

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công