Maurice Blanchot: Borges
Tiểu luận của Blanchot về văn chương Borges được lấy từ phần "La Question littéraire" trong Le Livre à venir.
Vô tận thuộc văn chương: Aleph
Nói về cái vô tận, Borges bảo rằng ý đó làm băng hoại các ý khác. Michaux gợi lên cái vô tận, kẻ thù của con người, và nhắc đến [chất] mescaline, thứ "từ chối chuyển động của cái hữu hạn": "Bị cải thành vô tận, nó gây bất ổn."
Tôi ngờ là Borges đã nhận được cái vô tận từ văn chương. Đấy không phải để làm người ta hiểu rằng ông chỉ có về nó một hiểu biết bình thản rút ra từ các tác phẩm văn chương, mà nhằm khẳng định rằng kinh nghiệm của văn chương có lẽ nằm gần ở mức nền tảng với những nghịch lý cùng quỷ biện của cái mà Hegel, nhằm gạt nó ra, từng gọi là vô tận xấu.
Sự thật của văn chương hẳn nằm trong nhầm lẫn về vô tận. Thế giới nơi chúng ta sống và đúng như chúng ta sống nó, thật may sao, bị giới định lại. Chúng ta chỉ cần đi vài bước chân là đã ra được khỏi phòng mình, chỉ cần vài năm là ra được khỏi cuộc đời mình. Nhưng hãy đặt giả định rằng, trong cái không gian hẹp, đột nhiên tối tăm đó, đột nhiên bị mù, chúng ta đi lạc [Blanchot nhiều lần nhấn mạnh vào việc trong tiếng Pháp "nhầm lẫn" (erreur) có gốc từ động từ "đi lạc" hoặc "lang thang" (errer)]. Hãy đặt giả định rằng sa mạc thuộc địa dư trở thành sa mạc thuộc Thánh Kinh: không còn chỉ cần bốn bước chân, chỉ cần mười một hôm là chúng ta băng ngang được nó, mà là quãng thời gian của hai thế hệ, mà là toàn bộ lịch sử của toàn bộ loài người, và có lẽ còn hơn nữa. Đối với con người được đo lường và chừng mực, căn phòng, sa mạc và thế giới là những chỗ được xác định một cách chặt chẽ. Đối với con người của sa mạc và của mê cung, bị buộc phải mắc vào nhầm lẫn của một dáng điệu nhất thiết dài hơn cuộc đời anh ta một chút, cùng không gian đó sẽ thực sự vô tận, ngay cả khi anh ta biết nó như vậy và sẽ lại càng như thế vì anh ta biết.
Nghĩa của triển hạn
Nhầm lẫn, cái sự thể đi ở trên đường mà không bao giờ có thể dừng lại, biến cái hữu hạn thành vô hạn. Thêm vào đó còn có những nét dị thường sau đây: từ cái hữu hạn thế nhưng bị đóng chặt lại, người ta luôn luôn có thể hy vọng thoát ra, trong khi sự rộng lớn vô tận là nhà tù, vì không có lối thoát; cũng như việc mọi chốn không có lối thoát đều trở nên vô tận. Chốn của sự lạc không biết đến đường thẳng; tại đó người ta không bao giờ đi từ một điểm này tới một điểm khác; người ta không khởi hành từ đây để đến kia; chẳng hề có bất kỳ điểm xuất phát nào và bất kỳ sự bắt đầu nào cho bước đi. Trước khi bắt đầu, người ta đã bắt đầu lại; trước khi hoàn thành, người ta lặp đi lặp lại mãi, và dạng phi lý đồng nghĩa với quay trở lại mà đã không hề khởi hành, hoặc bắt đầu bằng cách bắt đầu lại này, là bí mật của vĩnh cửu "xấu", tương ứng với sự vô tận "xấu", cả hai có lẽ đều cho thấy nghĩa của triển hạn.
Borges, con người văn chương xét về cốt yếu (điều này muốn nói lúc nào ông cũng sẵn sàng hiểu chiểu theo thức hiểu mà văn chương cho phép), phải đương đầu với vĩnh cửu xấu và vô tận xấu, có lẽ chỉ chúng thì chúng ta mới có thể kinh qua, cho tới sự quay trở ngược đầy vinh quang tên là xuất thần. Về nguyên tắc, đối với ông quyển sách là thế giới, và thế giới là quyển sách. Đấy là điều hẳn làm cho ông yên tâm về nghĩa của vũ trụ, bởi về lý trí của vũ trụ thì người ta có thể nghi ngờ, nhưng quyển sách mà chúng ta làm ra, và đặc biệt những cuốn sách hư cấu được tổ chức đầy khéo léo kia, như những vấn đề hoàn toàn tối tăm cần phải có các giải pháp hoàn toàn sáng rõ, như tiểu thuyết trinh thám, chúng ta biết là chúng chứa đầy trí tuệ và được làm cho sống động nhờ quyền lực sắp xếp vốn dĩ là tinh thần. Nhưng nếu thế giới là một quyển sách, thì mọi quyển sách đều là thế giới, và từ trùng ngôn vô tội đó, nảy sinh các hệ quả đáng gờm.
Trước hết là việc, không còn cột quy chiếu nữa. Thế giới và quyển sách dẫn chiếu vào nhau một cách vĩnh cửu và vô tận những hình ảnh được phản chiếu của chúng. Quyền lực không xác định về soi gương ấy, sự nhân lên nhiều lần lấp lánh và không có giới hạn ấy - vốn dĩ là mê cung của ánh sáng và thêm nữa chẳng phải là không gì hết - khi đó sẽ là toàn bộ những gì mà chúng ta tìm được, theo lối chóng mặt, nơi đáy ham muốn hiểu của chúng ta.
Thêm một điều, nếu quyển sách là khả thể của thế giới, thì chúng ta phải từ đó kết luận rằng được vận hành trong thế giới không chỉ quyền lực về làm, mà còn cả quyền lực về giả vờ, làm giả và lừa dối, từ đó mọi cuôn sách hư cấu đều là sản phẩm lại càng hiển nhiên hơn khi tại đó quyền lực này được che giấu kỹ hơn. Các Hư cấu, Các Trò xảo có nguy cơ là những cái tên trung thực nhất mà văn chương có thể nhận; và việc trách cứ Borges về việc viết ra các truyện hồi ứng quá tuyệt với những cái tên đó, thì cũng tức là trách cứ ở ông sự quá đà về thẳng thắn mà nếu thiếu thì sự lừa phỉnh sẽ bị hiểu theo nghĩa đen một cách nặng nề (Schopenhauer, Valéry, người ta thấy điều này, là những tinh tú sáng rực trên cái bầu trời bị tước đi mất bầu trời kia).
Cái từ làm giả, cái từ lừa dối, nếu được áp dụng cho tinh thần và cho văn chương, khiến chúng ta bị choáng. Chúng ta nghĩ rằng một thể loại lừa đảo như thế quá mức đơn giản, chúng ta nghĩ rằng nếu có sự làm giả phổ quát, thì vẫn cứ là nhân danh một sự thật có lẽ bất khả xâm nhập, nhưng đáng kính và, đối với một số người, đáng yêu chuộng. Chúng ta nghĩ rằng giả thuyết về vị thần ma lanh không phải là giả thuyết gây tuyệt vọng hơn cả: một kẻ làm giả, ngay cả toàn năng, vẫn cứ là một sự thật vững chắc giúp chúng ta khỏi phải nghĩ quá đó. Borges hiểu rằng phẩm hạnh nhiều nguy cơ của văn chương không nằm ở chỗ khiến chúng ta đặt giả định cho thế giới một tác giả lớn, đắm chìm vào các lừa dối đầy mơ mộng, mà khiến chúng ta cảm thấy sự tiến lại gần của một quyền năng lạ thường, trung tính và phi cá nhân. Ông thích người ta nói về Shakespeare: "Ông ấy giống tất tật các con người, chỉ trừ mỗi chuyện ông giống tất tật các con người." Ông thấy ở tất tật các tác giả chỉ một tác giả, ấy là Carlyle duy nhất, Whitman duy nhất, người vốn dĩ chẳng là ai hết. Ông tự nhận ra mình ở George Moor [hẳn là George Moore] và ở Joyce - hẳn ông sẽ có thể nói ở Lautréamont, ở Rimbaud - có khả năng khiến nhập vào những cuốn sách của mình các trang và các hình tượng không thuộc về họ, bởi điều cốt yếu là văn chương chứ không phải những cá nhân, và trong văn chương, theo lối phi cá nhân, nơi mỗi cuốn sách, nó là sự hội lại không thể vét kiệt của chỉ một cuốn sách và sự lặp lại mệt nhoài của tất tật các cuốn sách.
Khi Borges đề xuất với chúng ta việc tưởng tượng ra một nhà văn Pháp vào lúc này đang viết, khởi đi từ những suy nghĩ riêng của ông ta, vài trang tái tạo theo từng lời hai chương của Don Quixote [câu chuyện đáng nhớ của Borges về Pierre Menard], sự phi lý đáng nhớ ấy chẳng là gì khác ngoài sự phi lý được hoàn thành trong mọi bản dịch. Trong một bản dịch, chúng ta có cùng tác phẩm trong một ngôn ngữ nhân đôi; trong hư cấu của Borges, chúng ta có hai tác phẩm trong căn cước của cùng ngôn ngữ và, nơi căn cước vốn dĩ không phải là một căn cước ấy, ảo tượng đầy cuốn hút của nhị tính những gì khả dĩ. Thế nhưng, ở chỗ có một sự nhân đôi hoàn hảo, bản gốc bị xóa đi, và thậm chí cả nguồn gốc. Bằng cách này, thế giới, nếu nó có thể được dịch và nhân đôi lên một cách chính xác thành một quyển sách, hẳn sẽ mất đi mọi bắt đầu và mọi kết thúc và trở thành cái tập sách hình cầu, hữu hạn và không giới hạn kia, mà tất tật các con người đều viết và nơi họ được viết: hẳn đó sẽ không phải là thế giới nữa, mà đó hẳn, đó sẽ là thế giới bị biến thái trong tổng vô tận những điều khả dĩ của nó. (Sự biến thái ấy có lẽ là Aleph phi thường, đáng kinh khiếp.)
Văn chương không phải là một sự lừa dối đơn giản, nó là quyền lực đầy nguy hiểm, của việc đi về phía những gì có đó, nhờ tính chất nhiều vô tận của cái tưởng tượng. Khác biệt giữa cái thực và cái phi thực, đặc quyền không thể đo lường nổi của cái thực, đấy là việc có ít thực tại hơn ở trong thực tại, vốn dĩ chỉ là phi thực tại bị từ chối, bị gạt đi bởi công việc đầy cương nghị của phủ định và nhờ phủ định đó, vốn dĩ cũng là công việc. Chính sự bớt này, một dạng của gầy guộc đi, của mảnh đi ở không gian, là thứ cho phép chúng ta đi từ một điểm này tới một điểm khác, theo cách thức sung sướng của đường thẳng. Nhưng chính cái ít xác định hơn cả, yếu tính của cái tưởng tượng, là thứ ngăn cản K. có bao giờ đến được Lâu đài, cũng như nó vĩnh viễn ngăn cản Achilles đuổi kịp con rùa, và có lẽ cũng ngăn cản con người đang sống hội được với chính anh ta tại một điểm hẳn biến cái chết của anh ta trở nên hoàn toàn con người và, do đó, vô hình.
